TIN TỨC VỀ THUẾ

Cục Thuế Thái Nguyên: Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ người nộp thuế

Cục Thuế Thái Nguyên: Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ người nộp thuế

Để tạo thuận lợi cho người nộp thuế (NNT) thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuế với ngân sách, Cục Thuế Thái Nguyên luôn đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính (TTHC); ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin (CNTT) vào công tác quản lý thuế.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

ứng dụng CNTT hổ trợ nộp thuế

 Đến nay, 100% các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn đã thực hiện kê khai thuế qua mạng; hàng tháng, tỷ lệ chứng từ nộp thuế điện tử đạt 99,12% và tỷ lệ số tiền nộp thuế điện tử đạt 98,86%.

    Gần 100% tiền thuế được nộp bằng phương thức điện tử

    Ông Phạm Văn Chức – Cục trưởng Cục Thuế Thái Nguyên cho biết, để nâng cao chất lượng công tác quản lý và tạo thuận lợi cho NNT trong việc thực hiện các nghĩa vụ thuế, Cục Thuế Thái Nguyên đã thực hiện có hiệu quả việc đưa các ứng dụng CNTT của ngành vào công tác quản lý thuế.

    Cụ thể, Cục Thuế Thái Nguyên thường xuyên tổ chức rà soát, nâng cao chất lượng công tác cải cách TTHC thuế theo đúng kế hoạch đơn vị và các cấp lãnh đạo đề ra. Tích cực chủ động triển khai áp dụng dịch vụ hành chính công điện tử như: kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế và hóa đơn điện tử…, nhằm tạo thuận lợi cho NNT trong việc thực hiện các TTHC thuế.

    Cùng với đó, công tác tiếp nhận và trả kết quả các hồ sơ thuế tại bộ phận một cửa tại các chi cục thuế và văn phòng cục thuế cũng được duy trì, thực hiện nhanh gọn, đúng thời gian, thời hạn quy định; các thủ tục về thuế được niêm yết công khai, rõ ràng; việc tiếp nhận và trả kết quả giải quyết các yêu cầu, TTHC thuế cho NNT được thực hiện kịp thời.

    “Ngoài ra, Cục Thuế Thái Nguyên còn duy trì thường xuyên bộ phận tiếp dân, trực đường dây nóng để tiếp nhận và giải đáp kịp thời các vướng mắc cho NNT. Triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ, văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và UBND tỉnh Thái Nguyên về hiện đại hóa công tác quản lý thuế nhằm rút ngắn thời gian thực hiện TTHC thuế cho NNT. Thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ NNT đẩy mạnh khai thác, sử dụng dịch vụ thuế điện tử để kê khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế. Thực hiện tốt công tác hoàn thuế điện tử cho các DN thuộc trường hợp hoàn thuế xuất khẩu và hoàn đầu tư mới” - ông Chức cho biết.

    Thời gian qua, Cục Thuế Thái Nguyên cũng đã tích cực ứng dụng CNTT vào phục vụ công tác quản lý thuế của ngành. Việc quản lý vận hành hệ thống mạng, hạ tầng truyền thông, hệ thống an toàn phòng máy chủ luôn hoạt động thông suốt và ổn định. Công tác quản trị hệ thống các phần mềm ứng dụng luôn được triển khai và nâng cấp kịp thời đáp ứng tốt yêu cầu theo quy trình nghiệp vụ; hỗ trợ nhanh chóng, kịp thời cho cán bộ thuế và NNT khai thác, sử dụng các chức năng trên hệ thống, các ứng dụng của ngành và hệ thống thuế điện tử.

    Nhờ được triển khai tích cực, đến nay 100% các DN trên địa bàn đã thực hiện kê khai thuế qua mạng; tỷ lệ chứng từ nộp thuế điện tử trên tổng số chứng từ nộp thuế hàng tháng đạt 99,12% và  tỷ lệ số tiền nộp thuế điện tử trên tổng số tiền thuế nộp đạt 98,86%.

    Chú trọng công tác tuyên truyền, kê khai kế toán thuế

    Ông Phạm Văn Chức cho biết thêm, cùng với việc đẩy mạnh cải cách hỗ trợ NNT, công tác kê khai kế toán thuế cũng được đơn vị đặc biệt chú trọng. Cụ thể, đơn vị đã thực hiện tốt quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế, tổ chức hỗ trợ duy trì tỷ lệ kê khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế qua hình thức điện tử cho 100% các DN trên toàn tỉnh.

    Bên cạnh đó, đơn vị cũng chú trọng đẩy mạnh việc kiểm tra, giám sát kê khai thuế của NNT ngay từ khâu phối hợp cấp phép đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế đến kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế. Tập trung kiểm tra các tờ khai có dấu hiệu rủi ro, những lĩnh vực kinh doanh có dấu hiệu tiềm ẩn kê khai không đủ thuế, rà soát tình hình sản xuất kinh doanh để chủ động đôn đốc DN thực hiện nộp đúng, đủ, kịp thời các khoản thuế phát sinh vào ngân sách.

    “Cùng với công tác kê khai kế toán thuế, công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT cũng được đơn vị đặc biệt chú trọng. Cụ thể, đơn vị đã thực hiện nhiều giải pháp tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật thuế cho NNT nhằm giúp NNT hiểu rõ chính sách thuế để thực hiện đúng nghĩa vụ, tuân thủ tự nguyện một cách cao nhất giúp cho công tác quản lý thu thuế được thuận lợi hơn” – ông Chức nói.

    Song song với đó, đơn vị cũng đẩy mạnh công tác hỗ trợ NNT bằng nhiều hình thức như: trao đổi thảo luận trực tiếp, trả lời qua điện thoại, bằng văn bản hướng dẫn chính sách thuế và tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn áp dụng chính sách thuế mới. Tổ chức hội nghị đối thoại với DN nhằm giải đáp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện các chính sách về thuế của NNT trên địa bàn. Hỗ trợ kịp thời NNT với mục tiêu tạo điều kiện tốt nhất để NNT thực hiện tốt chính sách pháp luật thuế trên hệ thống thuế điện tử - nơi cung cấp toàn bộ các dịch vụ về giao dịch thuế điện tử cho DN, cá nhân NNT dễ dàng, thuận tiện với các phân hệ khai thuế, nộp thuế.

Trong 6 tháng đầu năm, Cục Thuế Thái Nguyên đã phối hợp với các cơ quan tuyên giáo để thực hiện tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế tại 4 hội nghị và 25 tin, bài đăng trên các ấn phẩm tuyên giáo của tỉnh. Tổ chức tập huấn chính sách thuế, đối thoại trực tiếp với các tổ chức, cá nhân và DN tại 13 hội nghị với 5.500 lượt NNT tham dự…

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Luật Quản lý thuế sửa đổi: Nhiều điểm mới mang lại lợi ích cho DN và cơ quan quản lý

Luật Quản lý thuế sửa đổi: Nhiều điểm mới mang lại lợi ích cho DN và cơ quan quản lý

Từ ngày 01/7/2020, Luật Quản lý thuế năm 2019 có hiệu lực thi hành và thay thế Luật Quản lý thuế 2006 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13. Luật Quản lý thuế năm 2019 với nhiều nội dung quan trọng, nổi bật như: mở rộng quyền của người nộp thuế, kéo dài thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân…

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

luật quản lý thuế sửa đổi

Mở rộng quyền của người nộp thuế

Tại Điều 16 Luật Quản lý thuế 2019 quy định về quyền của người nộp thuế (NNT) thì bên cạnh các quyền quy định tại Luật quản lý thuế 2006, nhiều quyền mới của người nộp thuế đã được bổ sung nhằm đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế như: Được nhận văn bản liên quan đến nghĩa vụ thuế của các cơ quan chức năng khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; Được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số tiền thuế không được hoàn và căn cứ pháp lý đối với số tiền thuế không được hoàn. NNT được tra cứu, xem, in toàn bộ chứng từ điện tử mà mình đã gửi đến cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và pháp luật về giao dịch điện tử. Được sử dụng chứng từ điện tử trong giao dịch với cơ quan quản lý thuế và cơ quan, tổ chức có liên quan. Không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do người nộp thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn và quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.

Kéo dài thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN: Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật Quản lý thuế 2006, thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là ngày thứ 90 kể từ ngày kết thức năm dương lịch, hoặc năm tài chính đối với hồ sơ quyết toán năm.

Tuy nhiên, theo Điểm b khoản 2 Điều 44 Luật Quản lý thuế 2019 cho phép cá nhân được nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch đối với hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của cá nhân trực tiếp quyết toán thuế (kéo dài thêm 01 tháng so với Luật Quản lý thuế 2006).

Bên cạnh đó, Luật QLT sửa đổi đã bổ sung dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do đại lý thuế cung cấp. Theo đó, Điểm c Khoản 1 Điều 104 Luật Quản lý thuế 2019 bổ sung chức năng cung cấp dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ cho đại lý thuế. Đây là quy định cho phép các đại lý thuế thêm chức năng cung cấp dịch vụ kế toán ngoài việc cung cấp dịch vụ đại lý thuế đang thực hiện. Chức năng này phù hợp với Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp những doanh nghiệp siêu nhỏ tiết kiệm chi phí khi thay vì phải thuê hai đơn vị thực hiện 02 dịch vụ (tư vấn thuế và kế toán) nay chỉ cần một đơn vị thực hiên hai nhiệm vụ trên.

đại biểu thông qua luật quản lý thuế

Đại biểu Quốc hội ấn nút thông qua Luật Quản lý thuế sửa đổi vào ngày 13/6/2019

Tuy nhiên, theo Điểm b khoản 2 Điều 44 Luật Quản lý thuế 2019 cho phép cá nhân được nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch đối với hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của cá nhân trực tiếp quyết toán thuế (kéo dài thêm 01 tháng so với Luật Quản lý thuế 2006).

Bên cạnh đó, Luật QLT sửa đổi đã bổ sung dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do đại lý thuế cung cấp. Theo đó, Điểm c Khoản 1 Điều 104 Luật Quản lý thuế 2019 bổ sung chức năng cung cấp dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ cho đại lý thuế. Đây là quy định cho phép các đại lý thuế thêm chức năng cung cấp dịch vụ kế toán ngoài việc cung cấp dịch vụ đại lý thuế đang thực hiện. Chức năng này phù hợp với Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp những doanh nghiệp siêu nhỏ tiết kiệm chi phí khi thay vì phải thuê hai đơn vị thực hiện 02 dịch vụ (tư vấn thuế và kế toán) nay chỉ cần một đơn vị thực hiên hai nhiệm vụ trên.

Siết chặt quản lý hoạt động chuyển giá

Một nội dung được giới chuyên gia, doanh nghiệp và người dân đặc biệt quan tâm trong quá trình xây dựng luật là ứng xử của cơ quan thuế đối với hoạt động chuyển giá, do hành vi trốn thuế thông qua chuyển giá ngày càng phổ biến. Để ngăn chặn tình trạng trên, Luật Quản lý thuế 2019 nghiêm cấm hành vi: Thông đồng, móc nối, bao che giữa người nộp thuế và công chức quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế để chuyển giá, trốn thuế. (Khoản 1, Điều 6).

Ngoài ra, để quản lý chặt chẽ hành vi trốn thuế, khoản 5 Điều 42 Luật Quản lý thuế quy định nguyên tắc kê khai, xác định giá tính thuế đối với giao dịch liên kết như sau:

Kê khai, xác định giá giao dịch liên kết theo nguyên tắc phân tích, so sánh với các giao dịch độc lập và nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế để xác định nghĩa vụ thuế phải nộp như trong điều kiện giao dịch giữa các bên độc lập;

Giá giao dịch liên kết được điều chỉnh theo giao dịch độc lập để kê khai, xác định số tiền thuế phải nộp theo nguyên tắc không làm giảm thu nhập chịu thuế;

Tuy nhiên, Luật cũng quy định NNT có quy mô nhỏ, rủi ro về thuế thấp được miễn thực hiện quy định kê khai, xác định giá tính thuế theo nội dung trên và được áp dụng cơ chế đơn giản hóa trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết.

Đặc biệt, lần đầu tiên quy định quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử trong Luật Quản lý thuế

Khoản 4 Điều 42 Luật Quản lý thuế 2019 về kê khai thuế quy định: Đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác được thực hiện bởi nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì nhà cung cấp ở nước ngoài có nghĩa vụ trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế tại Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh thương mại điện tử phát triển ngày càng rộng rãi thì việc xây dựng, ban hành các quy định về quản lý thuế trong lĩnh vực này là vô cùng cần thiết. Mặc dù những quy định trong luật mới chỉ là một trong những nội dung mang tính chất định hướng nhưng đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử. Trong thời gian tới, khi ban hành các văn bản hướng dẫn sẽ có những quy định cụ thể về nội dung quản lý với hoạt động thương mại điện tử.

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Tập trung tối đa nguồn lực cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Tập trung tối đa nguồn lực cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Năm 2019, Tổng cục Thuế phấn đấu thanh tra, kiểm tra (TTKT) đạt tối thiểu 19% số lượng doanh nghiệp thuộc diện quản lý thuế. Ngành Thuế cũng chuyển sang thực hiện TTKT theo phương pháp quản lý rủi ro.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

thanh tra thuế

Tổng cục Thuế đã đề ra nhiều giải pháp để triển khai thực hiện, cụ thể là: Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT); tăng cường nguồn lực; kiểm tra giám sát hoạt động của đoàn thanh tra; tổng kết, đánh giá và nhân rộng những kết quả mà các đơn vị đã triển khai hiệu quả trong công tác TTKT thuế.

    Ứng dụng CNTT trong thanh tra, kiểm tra

    Để thực hiện TTKT có hiệu quả, đảm bảo công khai, minh bạch, Tổng cục Thuế đang từng bước đưa các ứng dụng CNTT vào áp dụng trong quá trình quản lý và TTKT thuế. Hiện Tổng cục Thuế đang tích cực chủ động triển khai thực hiện việc đào tạo, ứng dụng CNTT và triển khai thực hiện khai thác cơ sở dữ liệu từ hệ thống kho dữ liệu ngành Thuế để phục vụ cho công tác TTKT. Việc đào tạo dựa trên cơ sở phối hợp giữa Vụ TTKT và Cục CNTT (Tổng cục Thuế), thực hiện triển khai tại 63 cục thuế.

    Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế cũng tiếp tục nâng cấp ứng dụng hỗ trợ TTKT (TTR) phục vụ công tác báo cáo, tổng hợp, giải quyết tố cáo; nâng cấp ứng dụng kiểm soát số lượng và chất lượng báo cáo tài chính; xây dựng và hoàn thiện một số các quy chế, quy trình để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của công tác TTKT.

    Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Đặng Duy Khanh - Phó Vụ trưởng Vụ TTKT thuế (Tổng cục Thuế) cho biết, ngoài việc áp dụng các ứng dụng CNTT thì cần phải bổ sung nhân lực cho công tác TTKT thuế.

    “Hiện nay, số doanh nghiệp tăng nhiều qua các năm, công chức thuế nói chung và công chức làm công tác TTKT nói riêng của ngành Thuế không tăng tương ứng. Mặt khác, trình tự thủ tục của hoạt động TTKT theo quy định của Luật Thanh tra, Luật Quản lý thuế rất chặt chẽ, dẫn đến nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu để tiến hành các cuộc TTKT đảm bảo cả về số lượng và chất lượng. Trong quá trình thực hiện có phát sinh nhiều vướng mắc về chính sách, phải xin ý kiến ở nhiều đơn vị có liên quan nên rất khó đảm bảo được thời gian theo yêu cầu của Luật Thanh tra, Luật Quản lý thuế. Chính vì thế, để chống thất thu ngân sách nhà nước có hiệu quả, các cục thuế cần tập trung tối đa nguồn lực cho công tác TTKT thuế” - ông Khanh chia sẻ.

    Giám sát chặt chẽ cán bộ, công chức  thực thi công vụ

    Trước tình hình thực tế trên đây, ông Khanh cho biết, Tổng cục Thuế đã chỉ đạo các cục thuế huy động nguồn nhân lực tối đa cho TTKT. Các cục thuế lập kế hoạch triển khai cụ thể, giao việc và kiểm soát công việc của từng phòng, bộ phận. Hàng tháng, hàng quý các đơn vị có đánh giá kết quả, với mục tiêu là phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch TTKT năm 2019.

    Cùng với việc bổ sung nhân lực, để công tác này đúng quy định của pháp luật, cơ quan thuế các cấp phải tăng cường kiểm soát tuân thủ đối với hoạt động công vụ của các đoàn, đội và công chức thực thi nhiệm vụ TTKT doanh nghiệp để đề phòng, ngăn chặn, xử lý kịp thời các vi phạm (nếu có).

    “Vụ TTKT sẽ tham mưu với lãnh đạo Tổng cục Thuế chỉ đạo bộ phận chuyên môn tiếp tục chấn chỉnh hoạt động TTKT. Công tác xử lý sau TTKT thuế đảm bảo tuân thủ các quy định về thời hạn thực hiện, thời hạn lập biên bản, kết luận và quyết định xử lý, xử phạt trong lĩnh vực thuế; chỉ đạo tổ chức công tác giám sát đoàn thanh tra theo đúng quy định, tăng cường kỷ cương, kỷ luật công tác nói chung và trong công tác triển khai các đoàn TTKT nói riêng; nâng cao ý thức kỷ luật kỷ cương đến từng công chức thực hiện và tham gia các đoàn TTKT” - ông Khanh nói.

    Cùng với việc tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong TTKT thuế, ông Khanh cho rằng, định kỳ hàng quý, hàng năm cần phải có tổng kết, đánh giá, nhân rộng những kinh nghiệm mà các đơn vị đã triển khai hiệu quả. “Đây là một trong những giải pháp rất quan trọng hiện nay. Vì chính những cách làm này, có thể giúp cho công tác TTKT không mất nhiều thời gian, công sức, lại mang lại hiệu quả cao” - ông Khanh nói.

Không gây phiền hà cho người nộp thuế “Trước khi thực hiện TTKT, cơ quan thuế sẽ yêu cầu người nộp thuế cung cấp các thông tin theo quy định qua hòm thư điện tử (trừ các thông tin, tài liệu mà người nộp thuế đã gửi đến cơ quan thuế)... để đảm bảo rút ngắn thời gian TTKT tại trụ sở người nộp thuế. Trong quá trình TTKT kết hợp với việc đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ tư vấn pháp luật về thuế cho người nộp thuế, tháo gỡ vưỡng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách về thuế nói chung và chính sách pháp luật TTKT nói riêng” - ông Khanh nói.

 

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả trong quản lý thuế

Thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả trong quản lý thuế

Nhằm tạo lập cơ sở pháp lý, thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ, ngành trong quản lý thuế, cũng như nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế (NNT), Luật Quản lý thuế sửa đổi dành cả chương 2 quy định về nội dung công tác phối hợp.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Trong Luật Quản lý thuế trước đây, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan liên quan được bố trí ở một số điều trong các chương khác nhau. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, Luật Quản lý thuế sửa đổi thiết kế chương riêng (Chương 2) về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Theo đó, các cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế thực hiện việc thu nộp, cũng như kết nối chia sẻ thông tin để quản lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, ngành. Đó là các bộ Công an, Công thương, Thông tin và Truyền thông, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên Môi trường, Lao động, Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Nhà nước, Viện Kiểm sát, Toà án, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, HĐND, UBND các cấp, các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, hội đồng tư vấn thuế xã, phường, ngân hàng thương mại và cơ quan thông tin, báo chí. Các điều khoản tại Chương 2 được thiết kế theo hướng chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn liên quan trực tiếp đến quản lý thuế, không nhắc lại nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định tại các văn bản pháp luật liên quan. 

Cụ thể, về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án, Điều 23 quy định các cơ quan này trong phạm vi, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, tiến hành khởi tố điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh tội phạm theo quy định của pháp luật và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan thuế. Quy định như vậy nhằm bảo đảm phù hợp với các quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và đảm bảo tính bảo mật nhà nước theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước. Trong sự phối hợp với cơ quan công an, Điều 15 quy định Bộ Công an có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố các hồ sơ do cơ quan quản lý thuế phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực thuế chuyển đến, tiến hành điều tra, xử lý tội phạm theo quy định của pháp luật; trường hợp không khởi tố vụ án hình sự hoặc đình chỉ điều tra vụ án thì thông báo cho cơ quan quản lý thuế biết rõ lý do và chuyển hồ sơ cho cơ quan quản lý thuế giải quyết theo thẩm quyền. 

Đồng thời, để nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế, Luật Quản lý thuế sửa đổi đã bổ sung quy định, trong trường hợp Thanh tra Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước trực tiếp thanh tra, kiểm toán NNT, nhưng NNT không đồng ý với nội dung kết luận nghĩa vụ thuế phải nộp thì có quyền khiếu nại. Nếu các cơ quan này không trực tiếp thanh tra, kiểm toán đối với NNT, mà thực hiện tại cơ quan thuế thì NNT được nhận bản trích sao có kết luận liên quan đến nghĩa vụ thuế của mình. Trường hợp NNT không đồng ý với nội dung kết luận cần có văn bản đề nghị cơ quan thuế, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Nhà nước xem xét lại nghĩa vụ thuế phải nộp. Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Nhà nước chủ trì, phối hợp với cơ quan thuế xác định chính xác nghĩa vụ thuế của NNT và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. 

Đánh giá về những quy định mới này, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho rằng, đây là sự sửa đổi, bổ sung cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý thuế đối với sự phát triển của hoạt động kinh doanh trong tình hình mới. Mặc dù trước đó đã có các quy định quản lý, nhưng sự phát triển ngày càng nhanh của khoa học, công nghệ khiến hoạt động kinh doanh thương mại điện tử ngày càng phát triển với nhiều hình thức và nội dung phong phú, đa dạng. Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong giao dịch điện tử nói chung và thương mại điện tử nói riêng, ở khía cạnh vừa tạo thuận lợi cho người nộp thuế, vừa đảm bảo ngăn ngừa, phòng chống được các hệ quả tiêu cực, cần phải có sự vào cuộc của các cấp, ngành, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đơn cử, Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu, hướng dẫn quản lý thuế thông qua các hoạt động thanh toán, chuyển tiền quốc tế của các giao dịch xuyên biên giới. Những quy định này phải đảm bảo không làm cản trở hoạt động của người nộp thuế, không làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh, mà sự kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan thuế còn giúp NNT thuận tiện hơn, giảm hồ sơ, thủ tục trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế, từ đó giảm thêm thời gian và chi phí cho DN. Không chỉ vậy, sự phối hợp còn tạo điều kiện cho công tác quản lý thuế được chính xác, đúng quy định của pháp luật về thuế, đảm bảo thực thi pháp luật được thống nhất, tạo sự đồng bộ giữa Luật Quản lý thuế sửa đổi và pháp luật có liên quan. 

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Thu ngân sách đạt kết quả khả quan

Thu ngân sách đạt kết quả khả quan

Trong tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2019, Bộ Tài chính đã chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để hoàn thành các chương trình công tác đã đề ra. Các giải pháp điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách của Bộ Tài chính đã góp phần thực hiện thu ngân sách 7 tháng đầu năm đạt 891,7 nghìn tỷ đồng, bằng 63,2% dự toán, tăng 11,9% so cùng kỳ năm 2018.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ngân sách nhà nước tiếp tục thặng dư

Cùng với sự phát triển khả quan của nền kinh tế từ cuối năm 2018 đến nay, hoạt động sản xuất - kinh doanh của một số ngành những tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì được đà tăng trưởng cao so cùng kỳ. Cơ quan Thuế đã tập trung triển khai công tác thu ngay từ đầu năm, rà soát, nắm chắc đối tượng, nguồn thu ngân sách trên địa bàn, kiểm tra việc kê khai thuế, quyết toán thuế của doanh nghiệp, phấn đấu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời số phát sinh vào NSNN. Nhờ đó, kết quả kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trong 7 tháng đầu năm 2019 là tương đối tích cực và đồng đều ở các lĩnh vực kinh tế lớn. Ước tính cả nước có 53/63 địa phương thu nội địa đạt tiến độ dự toán (trên 58%), trong đó 42 địa phương thu đạt trên 61% dự toán; 56/63 địa phương thu cao hơn so cùng kỳ.

Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy do tiến độ chi thấp hơn tiến độ thu ngân sách nên cân đối NSNN tháng 7 và 7 tháng tiếp tục có thặng dư. Cụ thể, tổng thu NSNN thực hiện tháng 7 ước đạt 144,45 nghìn tỷ đồng. Luỹ kế thu NSNN 7 tháng ước đạt 891,7 nghìn tỷ đồng, bằng 63,2% dự toán, tăng 11,9% so cùng kỳ năm 2018. Trong đó, thu nội địa tháng 7 ước đạt 124,27 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 34,5 nghìn tỷ đồng so với tháng trước. Luỹ kế thu 7 tháng ước đạt 724,68 nghìn tỷ đồng, bằng 61,8% dự toán, tăng 12,8% so cùng kỳ năm 2018 (đạt 58,4% dự toán, tăng 18%).

Thu từ dầu thô, tháng 7 ước đạt 4,9 nghìn tỷ đồng, trên cơ sở giá dầu thanh toán bình quân đạt khoảng 65 USD/thùng, sản lượng thanh toán ước đạt 1,03 triệu tấn. Lũy kế 7 tháng thu đạt 34,35 nghìn tỷ đồng, bằng 77% dự toán, giảm 3,4% so cùng kỳ năm 2018.

Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu, tháng 7 ước đạt 28,5 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 1,1 nghìn tỷ đồng so với tháng trước. Sau khi hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ 13,5 nghìn tỷ đồng, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 15 nghìn tỷ đồng. Lũy kế thu 7 tháng đạt ước đạt 205 nghìn tỷ đồng, bằng 68,2% dự toán, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Công tác chi NSNN được điều hành chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài khóa. Tổng chi NSNN tháng 7 ước đạt 110,7 nghìn tỷ đồng; luỹ kế chi 7 tháng đạt 776,86 nghìn tỷ đồng, bằng 47,6% dự toán, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 7 tháng đầu năm, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã thực hiện kiểm soát khoảng 454.258 tỷ đồng chi đầu tư và thường xuyên NSNN, qua đó đã phát hiện 6.392 khoản chi chưa đủ thủ tục theo quy định, đã yêu cầu bổ sung các thủ tục cần thiết và số tiền thực từ chối thanh toán là 16,2 tỷ đồng.

Thị trường tài chính và dịch vụ tài chính tiếp tục tăng trưởng

Bên cạnh thực hiện tốt công tác quản lý, điều hành thu chi NSNN, các công tác như: quản lý tài chính doanh nghiệp và cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước; công tác quản lý giá, thị trường; công tác quản lý thị trường tài chính và dịch vụ tài chính; công tác tài chính đối ngoại và quản lý nợ công… cũng được Bộ Tài chính tích cực triển khai.

Báo cáo của Bộ Tài chính cho biết, 7 tháng đầu năm 2019, Bộ đã phối hợp các bộ, ngành và địa phương tập trung rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đến hết tháng 7/2019, có 06 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là 680 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 615 tỷ đồng; có 09/62 doanh nghiệp thuộc danh mục ban hành theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thực hiện thoái vốn với giá trị 690 tỷ đồng, thu về 1.587 tỷ đồng; các tập đoàn, Tổng công ty, DNNN ngoài danh mục theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg thoái vốn với tổng giá trị 1.540 tỷ đồng, thu về 2.511 tỷ đồng.

Công tác quản lý thị trường tài chính và dịch vụ tài chính tiếp tục tăng trưởng. Trong đó, thị trường chứng khoán duy trì đà tăng trưởng tốt tạo điều kiện thuận lợi cho Chính phủ, các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cổ phiếu, huy động vốn cho ngân sách và cho đầu tư phát triển. Tính đến ngày 29/7/2019, chỉ số VN-Index đạt 997,94 điểm, tăng 9,7% so cuối năm 2018; quy mô vốn hóa đạt khoảng 81% GDP, tăng khoảng 14% so cuối năm 2018. Đối với thị trường bảo hiểm, ước thực hiện 7 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị tài sản bảo hiểm đạt 428,3 nghìn tỷ đồng, tăng 23,9% so cùng kỳ năm 2018; đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 347,8 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4%; tổng nguồn vốn chủ sở hữu ước đạt 91,9 nghìn tỷ đồng, tăng 24,8%; tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 85,7 nghìn tỷ đồng, tăng 20,8%; chi trả quyền lợi bảo hiểm ước đạt 22 nghìn tỷ đồng, tăng 17,9% so cùng kỳ năm 2018.

Trong công tác quản lý giá, thị trường, 7 tháng đầu năm, Bộ Tài chính đã tích cực phối hợp với các bộ, ngành chức năng liên quan trong việc quản lý, điều hành giá cả hàng hóa và dịch vụ công thiết yếu Nhà nước quản lý giá (xăng dầu, điện, dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục) nhằm kiểm soát tốt các yếu tố hình thành giá và mặt bằng giá cả thị trường, ngăn ngừa việc tăng giá đột biến, bất hợp lý; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về giá, thẩm định giá; giám sát chặt chẽ hoạt động đăng ký, kê khai giá của doanh nghiệp. Qua đó, góp phần giữ ổn định giá cả hàng hóa, dịch vụ trong nước.

Tập trung thực hiện nhiệm vụ điều hành ngân sách những tháng cuối năm

Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong những tháng vừa qua, trong tháng 8, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị Thuế, Hải quan các tỉnh, thành phố tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ thu NSNN, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; xử lý, thu hồi nợ đọng thuế. Trên cơ sở báo cáo của các Cục Thuế và Cục Hải quan tỉnh thành phố tiến hành phân tích, nắm rõ tình hình thu NSNN, nợ thuế, nguyên nhân tăng, giảm tại các địa phương để có các giải pháp kịp thời. Đồng thời, xây dựng quy trình thu NSNN thông qua mã định danh khoản thu; tiếp tục hỗ trợ, hướng dẫn KBNN các địa phương rà soát chỉnh lý, chuẩn hóa số liệu NSNN năm 2018, 2019; Tổ chức điều hành ngân quỹ, đảm bảo nhu cầu thanh toán, chi trả của NSNN và các đơn vị giao dịch với KBNN; Tiếp tục phối hợp với Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội hoàn chỉnh Nghị quyết của Quốc hội về phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2017; Xây dựng cơ sở dữ liệu vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông, kết nối và trao đổi dữ liệu với KBNN, ngân hàng thương mại để trao đổi thông tin, dữ liệu điện tử và tạo thuận lợi cho người nộp phạt..

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Chấm dứt hiệu lực mã số thuế khi nào?

Chấm dứt hiệu lực mã số thuế khi nào?

Luật Quản lý thuế năm 2019 đã quy định cụ thể về các trường hợp, nguyên tắc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo đó, trường hợp người nộp thuế đăng ký thuế cùng với đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký kinh doanh thì thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Một là, chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc giải thể, phá sản.

Hai là, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Ba là, bị chia, bị sáp nhập, bị hợp nhất.

Trường hợp người nộp thuế đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Một là, chấm dứt hoạt động kinh doanh, không còn phát sinh nghĩa vụ thuế đối với tổ chức không kinh doanh.

Hai là, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép tương đương.

Ba là, bị chia, bị sáp nhập, bị hợp nhất.

Bốn là, bị cơ quan thuế ra thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.

Năm là, cá nhân chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

Sáu là, nhà thầu nước ngoài khi kết thúc hợp đồng.

Bảy là, nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hợp đồng dầu khí khi kết thúc hợp đồng hoặc chuyển nhượng toàn bộ quyền lợi tham gia hợp đồng dầu khí.

Luật Quản lý thuế năm 2019 nêu rõ, mã số thuế không được sử dụng trong các giao dịch kinh tế kể từ ngày cơ quan thuế thông báo chấm dứt hiệu lực; Mã số thuế của tổ chức khi đã chấm dứt hiệu lực không được sử dụng lại.

Mã số thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh khi chấm dứt hiệu lực thì mã số thuế của người đại diện hộ kinh doanh không bị chấm dứt hiệu lực và được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ thuế khác của cá nhân đó;

Khi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân chấm dứt hiệu lực mã số thuế thì đồng thời phải thực hiện chấm dứt hiệu lực đối với mã số thuế nộp thay; Người nộp thuế là đơn vị chủ quản chấm dứt hiệu lực mã số thuế thì các đơn vị phụ thuộc phải bị chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Quy định tăng tính linh hoạt trong áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế áp dụng từ tháng 7/2020

Quy định tăng tính linh hoạt trong áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế áp dụng từ tháng 7/2020

Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế lần lượt bao gồm:

Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; yêu cầu phong toả tài khoản;

Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;

Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu đủ tiền thuế, tiền phạt;

Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ;

Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu;

Thu hồi mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hoá đơn;

Thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Đồng thời Luật quy định cơ quan thuế không áp dụng được biện pháp cưỡng chế trước hoặc đã áp dụng nhưng không thu đủ tiền thuế nợ thì mới áp dụng biện pháp cưỡng chế sau. Quy định này phần nào vô hình dung gây khó khăn cho cơ quan thuế trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ thuế đối với doanh nghiệp chây ỳ, bởi lẽ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế phải thực hiện tuần tự từng biện pháp, áp dụng từ biện pháp trước rồi mới tiếp đến biện pháp sau, giảm tính linh hoạt, hiệu quả trong trong quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợp thuế của cơ quan thuế.

Khắc phục tình trạng này, tại Khoản 3 Điều 125 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã sửa đổi, bổ sung, theo hướng quy định đối với 3 biện pháp cưỡng chế: Trích tiền từ tài khoản, khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập, dừng làm thủ tục hải quan; cơ quan thuế căn cứ vào tình hình thực tế để áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp. Đối với biện pháp cưỡng chế: Ngừng sử dụng hóa đơn, kê biên tài sản, thu từ bên thứ ba, thu hồi giấy phép; Cơ quan thuế không áp dụng được biện pháp cưỡng chế trước thì chuyển sang áp dụng biện pháp cưỡng chế sau. Nếu biện pháp cưỡng chế chưa hết hiệu lực mà không có hiệu quả thì cơ quan thuế được áp dụng biện pháp cưỡng chế trước đó hoặc chuyển biện pháp cưỡng chế tiếp theo.

Như vậy, với quy định mới của Luật Quản lý thuế sửa đổi đã tăng cường tính linh hoạt của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hạn chế bất cập của Luật Quản lý thuế hiện hành, nâng cao hiệu quả công tác thu nợ thuế của cơ quan thuế.

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Hà Nội: Chi cục thuế khu vực - tầm nhìn mới trong quản lý thu thuế

Hà Nội: Chi cục thuế khu vực - tầm nhìn mới trong quản lý thu thuế

Sau khi công bố các quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc hợp nhất các chi cục thuế huyện thành chi cục thuế khu vực, chiều 5/8, Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ đã ra mắt ban lãnh đạo mới và chính thức đi vào hoạt động.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tâm thế mới, tầm nhìn mới

Phát biểu tại lễ ra mắt ban lãnh đạo Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ, ông Nguyễn Văn Hổ - Phó Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội cho biết, việc sắp xếp tinh gọn bộ máy là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đối với ngành Thuế nói chung và Cục Thuế Hà Nội nói riêng.

“Để chuẩn bị cho việc sáp nhập, hợp nhất, thành lập các chi cục thuế khu vực, Cục Thuế Hà Nội đã có một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, đã lên kế hoạch tổng thể, cũng như chi tiết, từ khâu rà soát, đánh giá, chuẩn bị dữ liệu, chốt dữ liệu người nộp thuế, bố trí cơ sở vật chất, nhân sự… Đến hôm nay, Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ chính thức đi vào hoạt động. Đây là dấu mốc quan trọng đối với Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ nói riêng, cũng như đối với Cục Thuế Hà Nội nói chung” - ông Hổ nói.

Cũng theo lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội, do là mô hình tổ chức mới, nên cũng không tránh khỏi những bỡ ngỡ, cũng như ảnh hưởng đến tâm lý của cán bộ, công chức. “Đảng ủy, lãnh đạo cục thuế rất chia sẻ với các cán bộ, công chức của chi cục và mong muốn, các cán bộ, công chức tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao” - ông Hổ nói.

Lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội cho rằng, việc Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ đi vào hoạt động bước đầu có thể có những khó khăn, tuy nhiên cũng có những thuận lợi nhất định.

“Các đồng chí đang có một tâm thế mới, tầm nhìn mới trong công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn. Tôi rất mong các đồng chí luôn giữ vững tinh thần đoàn kết, thống nhất để phát huy hết khả năng, năng lực, kinh nghiệm trong công tác quản lý, đáp ứng sự mong mỏi của ban lãnh đạo cục thuế và lãnh đạo UBND hai huyện Thanh Oai và Chương Mỹ” - ông Hổ nói.

Phối hợp tốt với chính quyền địa phương

Cũng tại buổi lễ ra mắt ban lãnh đạo Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ, đại diện lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội cũng yêu cầu, lãnh đạo Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ cần phải phối hợp tốt với chính quyền địa phương hai huyện (Thanh Oai và Chương Mỹ), thường xuyên chủ động báo cáo cấp ủy, chính quyền hai huyện, phối hợp tốt với các ban, ngành của huyện trong công tác quản lý thu ngân sách.

“Tôi đề nghị ban lãnh đạo Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ nhanh chóng xây dựng quy chế hoạt động; duy trì kỷ cương kỷ luật, giờ giấc làm việc; nắm bắt địa bàn mới một cách kịp thời; duy trì thực hiện tốt bộ phận một cửa để tiếp nhận và phục vụ tốt nhất người dân và doanh nghiệp trên địa bàn” - ông Hổ nói.

Để Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ đi vào hoạt động hiệu quả, đại diện Cục Thuế Hà Nội cũng mong muốn chính quyền hai huyện tiếp tục quan tâm chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với Cục Thuế Hà Nội trong chỉ đạo công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn. “Trong thời gian tới, Cục Thuế Hà Nội sẽ làm việc với các huyện để thống nhất quy chế phối hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác thuế trên địa bàn huyện” - ông Hổ nói.

Cũng tại lễ ra mắt, bà Lê Thị Hà - Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Thanh Oai (TP. Hà Nội) cho biết, việc hợp nhất 2 chi cục, thành Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ là sự kiện rất quan trọng, đánh dấu sự đổi mới trong công tác tổ chức bộ máy cơ quan thuế.

Lãnh đạo huyện Thanh Oai cũng cam kết, sẽ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo đối với hoạt động thu ngân sách của Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ thời gian tới, hỗ trợ, tạo điều kiện về mọi mặt để Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong năm 2019.

Phát biểu tiếp thu ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội và lãnh đạo UBND huyện Thanh Oai, ông Hoàng Thanh Nam - Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ cho biết, ban lãnh đạo chi cục thuế, cũng như toàn thể cán bộ, công chức đơn vị sẽ sớm ổn định tổ chức, đoàn kết, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách đã được cấp trên giao.

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp về 15-17%: "Cú hích" cho sự phát triển của doanh nghiệp

Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp về 15-17%: "Cú hích" cho sự phát triển của doanh nghiệp

Bộ Tài chính cho biết, Chính phủ đã đồng ý với đề xuất về việc áp dụng một số chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều chuyên gia và doanh nghiệp coi đây là tín hiệu mừng với sự phát triển của doanh nghiệp và kỳ vọng đây sẽ là cú hích cho sự phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Đề xuất giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được đưa vào Dự thảo Nghị quyết sẽ được Chính phủ trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 14, dự kiến Quốc hội khai mạc vào ngày 21/10 tới đây.

Trước đó, vào cuối tháng 3/2019, Bộ Tài chính đã công bố Dự thảo tờ trình Chính phủ về việc xây dựng dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Điểm đáng chú ý tại Dự thảo này đề xuất nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa được giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp xuống còn 15-17% thay vì mức 20% như hiện nay. Đây sẽ là điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tích tụ vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, là tiền đề giúp khối này phát triển, chuyển đổi thành doanh nghiệp có quy mô lớn hơn.

Cụ thể, thuế suất 15% sẽ áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm dưới 3 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người. Trong khi thuế suất 17% áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ 3 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người.

Ngoài ra, để tránh các trường hợp doanh nghiệp thành lập các công ty con để được hưởng chính sách nêu trên, Bộ Tài chính đề nghị quy định mức thuế suất 15%, 17% không áp dụng đối với công ty con, công ty có quan hệ liên kết mà doanh nghiệp trong quan hệ liên kết không phải là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và các trường hợp không áp dụng ưu đãi thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Song song với đó, Bộ Tài chính cũng đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với doanh nghiệp thành lập mới từ hộ, cá nhân kinh doanh.

Sau thời gian miễn thuế này, trường hợp doanh nghiệp mới thành lập từ hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện dự án đầu tư thuộc ngành nghề, địa bàn ưu đãi thuế thì tiếp tục được hưởng mức ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Hết thời gian miễn thuế và thời gian hưởng ưu đãi thuế (nếu có), doanh nghiệp thực hiện mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tương ứng với điều kiện thực tế của doanh nghiệp theo quy định.

Bộ Tài chính cho biết, việc giảm thuế và miễn thuế cho doanh nghiệp có thể khiến thu ngân sách giảm khoảng 9.200 tỷ đồng/năm. "Tuy việc giảm nghĩa vụ này trong ngắn hạn có gây áp lực lên cân đối ngân sách nhưng về dài hạn sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tăng tích tụ, tích lũy, tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần tăng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách vào những năm sau", Bộ Tài chính nhấn mạnh.

Bình luận về đề xuất này, PGS., TS. Đinh Trọng Thịnh, Học viện Tài chính cho biết, tiến trình giảm thuế cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đã và đang thực hiện đúng tinh thần của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và đã có được chuyển động tích cực.

Trước nhiều quan điểm cho rằng, việc giảm mức thuế từ 3-5% (20% như hiện nay) là không đủ để hỗ trợ các doanh nghiệp này, ông Thịnh nhấn mạnh, đề xuất của Bộ Tài chính có rất nhiều tác động tích cực như: giúp doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và vừa tăng thêm thu nhập, tăng tích luỹ, giúp các nhà đầu tư tích cực đầu tư thành lập doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh...

“Đồng thời, đề xuất này còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong các quyết định sản xuất, kinh doanh giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ, tăng năng suất lao động, cải tiến quản lý… Ngoài ra, đề xuất này còn giúp các doanh nghiệp có thêm điều kiện để đổi mới dây chuyền công nghệ, máy móc, thiết bị, nâng cao trình độ công nghệ…”, ông Thịnh nói.

Ngoài ra, để doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ có điều kiện phát triển, ông Thịnh cũng đề xuất Chính phủ tiếp tục cắt giảm các điều kiện kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh thân thiện, lành mạnh để doanh nghiệp yên tâm phát triển.

Về phía doanh nghiệp, ông Đào Huy Hoàng, Tổng giám đốc Công ty du học AKI khẳng định, nếu đề xuất của Bộ Tài chính được Quốc hội thông qua, sẽ là cơ hội đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc làm giảm đi gánh nặng của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất, kinh doanh.

Ông Hoàng chia sẻ: “Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp là một giải pháp rất tích cực đối với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ bởi hiện tại, các doanh nghiệp này vẫn còn phải chịu rất nhiều gánh nặng từ phí khác như: Hồ sơ, thủ tục, kế toán… Đồng thời, việc giảm thuế sẽ nuôi dưỡng nguồn thu tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn nữa, tạo tâm lý sẵn sàng kinh doanh cho họ”.

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Khoanh tiền thuế nợ: Điểm mới trong Luật Quản lý thuế số 38

Khoanh tiền thuế nợ: Điểm mới trong Luật Quản lý thuế số 38

Nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, trong đó có cải cách thủ tục quản lý thuế theo hướng tới hoạt động quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH19 vừa được Quốc hội thông qua đã tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế để phòng chống trốn thuế, thất thu và nợ đọng thuế được quy định thống nhất trong tất cả các khâu của quản lý thuế: từ khâu khai thuế, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế đến quản lý nợ thu, thanh tra, kiểm tra thuế... Một trong những điểm quan trọng là Luật đã bổ sung quy định về khoanh tiền thuế nợ. Đây là nội dung mới so với Luật hiện hành, quy định này sẽ khắc phục được bất cập phát sinh nợ ảo vì thực tế trước đây, tất cả các khoản nợ thuế đều phải tính tiền chậm nộp, dẫn đến nợ đọng lớn, không có khả năng thu hồi.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Để việc khoanh nợ đúng đối tượng và đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong công tác quản lý nợ thuế, Luật Quản lý thuế đã quy định có năm trường hợp được khoanh tiền thuế nợ, đó là:

Một là, Người nộp thuế (NNT) là người đã chết, người bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự.

Thời gian khoanh nợ được tính từ ngày được cấp giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc các giấy tờ thay cho giấy báo tử theo quy định của pháp luật về hộ tịch hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự.

Hai là, NNT có quyết định giải thể gửi cơ quan quản lý thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh để làm thủ tục giải thể, cơ quan đăng ký kinh doanh đã thông báo NNT đang làm thủ tục giải thể trên hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký kinh doanh nhưng NNT chưa hoàn thành thủ tục giải thể.

Thời gian khoanh nợ được tính từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh có thông báo về việc NNT đang làm thủ tục giải thể trên hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký kinh doanh.

Ba là, NNT đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản.

Thời gian khoanh nợ được tính từ ngày Tòa án có thẩm quyền thông báo thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc NNT đã gửi hồ sơ phá sản doanh nghiệp đến cơ quan quản lý thuế nhưng đang trong thời gian làm các thủ tục thanh toán, xử lý nợ theo quy định của Luật Phá sản.

Bốn là, NNT không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý thuế đã phối hợp với UBND cấp xã nơi NNT có trụ sở hoặc địa chỉ liên lạc để kiểm tra, xác minh thông tin NNT không hiện diện tại địa bàn và thông báo trên toàn quốc về việc NNT hoặc đại diện theo pháp luật của NNT không hiện diện tại địa chỉ nơi NNT có trụ sở, địa chỉ liên lạc đã đăng ký với cơ quan quản lý thuế.

Thời gian khoanh nợ được tính từ ngày cơ quan quản lý thuế có văn bản thông báo trên toàn quốc về việc NNT hoặc đại diện theo pháp luật của NNT không hiện diện tại địa chỉ kinh doanh, địa chỉ liên lạc đã đăng ký với cơ quan quản lý thuế.

Năm là, NNT đã bị cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề. Thời gian khoanh nợ được tính từ ngày cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc từ ngày có hiệu lực của quyết định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.

Tất cả các khoản nợ thuộc đối tượng được khoanh nợ đều chưa bị tính tiền chậm nộp. Tuy nhiên, Cơ quan quản lý thuế phải tiếp tục theo dõi các khoản tiền thuế nợ được khoanh và phối hợp với các cơ quan có liên quan để thu hồi tiền thuế nợ khi người nộp thuế có khả năng nộp thuế hoặc thực hiện xóa nợ theo quy định.

Luật Quản lý thuế 2019 cũng quy định rõ về thẩm quyền khoanh tiền thuế nợ, theo đó, thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp NNT quyết định việc khoanh nợ.

Quy định này có hiệu lực từ ngày 01/7/2020.

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty

Hiệp hội DNNVV Hà Nội: Hiến kế nhiều giải pháp "phủ sóng" hóa đơn điện tử

Hiệp hội DNNVV Hà Nội: Hiến kế nhiều giải pháp "phủ sóng" hóa đơn điện tử

Để hóa đơn điện tử (HĐĐT) được triển khai rộng rãi đến với doanh nghiệp, đặc biệt là khối các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), đáp ứng tiến độ Nghị định 119/2018/NĐ-CP của Chính phủ đã đề ra, cần xây dựng chính sách hỗ trợ cho khu vực DNNVV và các hộ kinh doanh.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ông Mạc Quốc Anh – Phó Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Hà Nội nhấn mạnh khi trao đổi với phóng viên TBTCO xung quanh câu chuyện cần tháo gỡ vướng mắc trong triển khai HĐĐT.

HĐĐT giảm 80% chi phí so với hóa đơn thường

Ông Mạc Quốc Anh cho rằng, HĐĐT ra đời nhằm nâng cao chất lượng công tác cải cách hành chính và thủ tục quản lý thuế, phục vụ DN được tốt hơn, đặc biệt là thủ tục quản lý, sử dụng hóa đơn, hướng tới hoạt động quản lý hóa đơn thống nhất, dễ thực hiện hơn. Trong xu hướng giao dịch mua bán, thanh toán bằng hình thức điện tử ngày càng phát triển, đây là điều kiện rất thuận lợi để phát triển HĐĐT, góp phần mang lại những lợi ích cho DN.

Để tối ưu hóa lợi nhuận, các DN đang cắt giảm chi phí sản xuất, hoạt động vận hành để nâng cao năng lực cạnh tranh…, trong đó có việc sử dụng HĐĐT là một giải pháp hữu hiệu. “Đơn cử như khi nói đến chi phí trung bình để phát hành hóa đơn, nếu áp dụng HĐĐT có thể giảm được tới 80% chi phí so với hoá đơn giấy” – ông Anh nói.

Bên cạnh đó, số lượng hóa đơn xuất ra hàng tuần, hàng tháng thường khá lớn, do đó ngoài việc cắt giảm được lượng lớn thời gian, chi phí thì sử dụng HĐĐT còn giúp công tác đối chiếu hóa đơn diễn ra nhanh chóng và tránh được rất nhiều sai sót. Mặt khác, trước đây khi dùng hóa đơn giấy, nếu viết sai thì sẽ phải thực hiện sửa chữa rất phức tạp nhưng khi dùng HĐĐT, kế toán có thể sửa lại sau đó một cách dễ dàng.

Cùng với việc tiết giảm chi phí, việc đồng loạt triển khai HĐĐT không chỉ là cơ hội để cắt giảm, tiết kiệm tối đa chi phí cho DN, đồng bộ ứng dụng công nghệ mà còn minh bạch hóa hoạt động của DN, tạo ra hệ sinh thái đầu tư – kinh doanh lành mạnh, công bằng trong hoạt động kinh tế. Đặc biệt, sử dụng HĐĐT còn giảm thiểu khả năng hóa đơn bị làm giả, hóa đơn khống nhằm mục đích mập mờ doanh thu, gian lận thuế; từ đó tạo niềm tin cho khách hàng, đối tác của DN.

“Việc triển khai HĐĐT tại các DN thời gian vừa qua đã mang lại những tác động tích cực tới hệ thống tài chính nói chung và cơ quan thuế nói riêng. Cộng đồng DN kỳ vọng việc triển khai HĐĐT sẽ giảm chi phí cho DN, và điều đó đã trở thành hiện thực, theo tính toán của các chuyên gia, HĐĐT ra đời đã cắt giảm tới 70% các bước quy trình phát hành và 90% các tranh chấp liên quan đến hóa đơn, rút ngắn tới 99% thời gian thanh toán, quản lý hóa đơn, tiết kiệm 80% chi phí cho mỗi hóa đơn...” – ông Anh nhấn mạnh.

Cần hỗ trợ ban đầu cho DNNVV sử dụng HĐĐT

Lợi ích thì đã rõ, tuy nhiên, vẫn có DN còn e dè chưa thực sự muốn chuyển đổi sang sử dụng HĐĐT với khá nhiều lý do khác nhau. Đề xuất giải pháp triển khai đồng bộ HĐĐT, đặc biệt là việc đưa HĐĐT đến với khối các DNNVV, ông Mạc Quốc Anh cho rằng, cần xây dựng chính sách riêng cho khu vực DNNVV và các hộ kinh doanh, bởi hầu hết các DN ở khu vực này đều thuộc nhóm DN nhỏ và siêu nhỏ, cơ sở vật chất, hạ tầng, con người…, chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản để triển khai sử dụng HĐĐT. 

Ông Mạc Quốc Anh cũng cho rằng, thời gian qua, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực nộp thuế điện tử, kê khai thuế qua mạng, hoàn thuế điện tử đã hỗ trợ tối đa cho DN, tạo được sự hài lòng của người nộp thuế, đây cũng là tiền đề giúp cho việc triển khai HĐĐT được thuận lợi.

Trong thời gian tới, ngành Thuế, cần tập trung nguồn lực tuyên truyền rộng rãi đến các DN về lợi ích cũng như sự thuận lợi khi áp dụng HĐĐT, đồng thời phối hợp với các nhà cung cấp tổ chức nhiều cuộc hội nghị hướng dẫn cụ thể, chi tiết đến các tổ chức, DN các bước chuẩn bị cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và các thao tác lập, sử dụng HĐĐT. Qua các cuộc hội nghị, mọi vướng mắc, khó khăn của người nộp thuế cần được giải đáp và tháo gỡ ngay.

Ngoài ra, cơ quan thuế các tỉnh, thành phố cần thành lập tổ triển khai, công khai số điện thoại hỗ trợ trực tiếp cho DN trong quá trình thực hiện HĐĐT. Qua đó, tạo sự kết nối đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, giải quyết các vấn đề về chi phí và lộ trình áp dụng HĐĐT.

“Để không bị tụt hậu trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa cũng như theo kịp xu thế, các DN cũng cần phải chủ động tìm hiểu và áp dụng các công nghệ hiện đại trong quá trình vận hành. Bởi sự phổ biến và phát triển ngày càng mạnh mẽ cùng những lợi ích vượt trội của các ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và HĐĐT nói riêng sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động, khả năng quản lý, quản trị tài chính của DN, giúp DN tránh được những rủi ro không đáng có, qua đó giúp DN phát triển bền vững” – ông Mạc Quốc Anh nhấn mạnh./.

 
 
Luật Quản lý thuế sửa đổi dưới góc nhìn của đại lý thuế

Luật Quản lý thuế sửa đổi dưới góc nhìn của đại lý thuế

Đại lý thuế (ĐLT) là một định chế pháp luật được qui định trong Luật Quản lý thuế từ năm 2007. Tuy nhiên, phải đến năm 2011, khi có hệ thống biểu mẫu, quy định dấu và chữ ký của ĐLT thì các DN cung cấp dịch vụ ĐLT mới chính thức hoạt động. 

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, đến nay hệ thống ĐLT được cấp chứng chỉ hành nghề trên cả nước đã đạt con số trên 500 DN. Theo đó, vai trò và uy tín của các ĐLT đã từng bước được nâng cao, nhất là trong những năm gần đây. Điển hình là tại TP HCM đã hình thành Câu lạc bộ ĐLT tập hợp nhiều ĐLT là DN, cá nhân để sinh hoạt chuyên môn, tạo ra một sân chơi lành mạnh, bổ ích và ngày càng gắn kết. Theo ông Nguyễn Đức Nghĩa, Chủ nhiệm CLB ĐLT TP HCM, số lượng ĐLT sẽ tiếp tục tăng nhanh theo chiến lược cải cách thuế đến năm 2020. Trong đó, hệ thống ĐLT sẽ phát triển theo hướng đẩy mạnh việc xã hội hoá hoạt động hỗ trợ người nộp thuế, tạo tiền đề tăng dần số lượng ĐLT và nâng cao chất lượng dịch vụ do ĐLT cung cấp để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật thuế; đồng thời giảm chi phí về thời gian, nguồn lực cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế. 

Chia sẻ về vai trò ĐLT, ông Võ Văn Hùng, Giám đốc điều hành Công ty TNHH đào tạo và tư vấn thuế Đất Việt nhìn nhận, cùng với sự phát triển của xã hội và của nền kinh tế trong thời kỳ mới, vai trò của ĐLT được mở rộng. Vì vậy, các ĐLT cần nâng cao cả về chất lượng lẫn số lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Có như vậy, ĐLT mới phát huy tốt hơn nữa vai trò tư vấn thuế, tuyên truyền hỗ trợ tích cực cho cộng đồng DN.

Trao đổi thêm về vai trò của ĐLT, ông Nguyễn Đình Thanh, Giám đốc Công ty TNHH dịch vụ tư vấn thuế Sen Việt nhấn mạnh, tháng 6/2019, Quốc hội chính thức thông qua Luật Quản lý thuế sửa đổi có hiệu lực thi hành từ 1/7/2020, trong đó có nhiều nội dung điều chỉnh theo hướng nâng cao vai trò và mở rộng dịch vụ cho ĐLT. Đồng thời, Luật cũng quy định về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức hàng năm cho ĐLT để góp phần nâng cao chất lượng, với mong muốn thực hiện đúng phương châm là cánh tay nối dài của cơ quan thuế. Như vậy, việc sửa đổi Luật Quản lý thuế lần này đã nâng cao vai trò của ĐLT trong nền kinh tế, từ đó góp phần tạo thuận lợi cho hơn người nộp thuế. 

Cụ thể, bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Giám đốc Công ty TNHH tư vấn Tín Tâm Việt phân tích, những thay đổi, bổ sung của Luật Quản lý thuế vừa ban hành như cho phép ĐLT thực hiện các dịch vụ tư vấn thuế, lập thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và các thủ tục về thuế khác thay người nộp thuế, đặc biệt, luật quy định ĐLT thực hiện dịch vụ kế toán cho DN siêu nhỏ là bước tiến đáng ghi nhận. Đây chính là động thái tích cực, quan trọng sau nhiều lần kiến nghị, mở ra cơ hội mới cho hoạt động của ĐLT. Một khi ĐLT mở rộng được phạm vi hoạt động, thì các DN siêu nhỏ có thể lựa chọn và sử dụng dịch vụ ĐLT chuyên nghiệp, qua đó tiết kiệm được chi phí và đảm bảo độ tin cậy, hạn chế các rủi ro so với việc phải thuê dịch vụ kế toán và khai thuế chưa được cấp chứng chỉ hành nghề. Đây cũng là tiền đề góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các DN khởi nghiệp và các hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi lên DN dễ dàng tiếp cập với dịch vụ ĐLT. 

Hiện nay, mỗi tháng ở TP HCM có hơn 4.000 DN mới ra đời. Điều đó cho thấy, nhu cầu dịch vụ tư vấn thuế, kế toán, ĐLT sẽ không ngừng gia tăng với việc mở rộng quyền của ĐLT trong việc cung cấp dịch vụ kế toán đối với DN siêu nhỏ. Đồng nghĩa, Luật Quản lý thuế sửa đổi đã tạo ra dư địa cho các ĐLT tiếp cận và cung cấp dịch vụ cho lượng DN này, hỗ trợ, tư vấn cho các DN nhỏ và vừa thực hiện tốt chính sách thuế.

 
Bộ Tài chính phê duyệt đề án về chuẩn mực kế toán công Việt Nam

Bộ Tài chính phê duyệt đề án về chuẩn mực kế toán công Việt Nam

 Theo Bộ Tài chính, việc xây dựng chuẩn mực kế toán công Việt Nam tạo ra môi trường pháp lý quan trọng cho lĩnh vực kế toán nhà nước, góp phần quản lý, quản trị ngày càng tốt hơn nền tài chính quốc gia cả tầm vĩ mô và vi mô.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa ký ban hành Quyết định số 1299/QĐ/BTC phê duyệt đề án công bố hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam.

Thực trạng áp dụng

Theo đề án, hệ thống kế toán công của Việt Nam được tổ chức và thiết lập theo khung pháp lý của Luật Kế toán, nghị định hướng dẫn luật và các thông tư hướng dẫn chế độ kế toán của Bộ Tài chính. Hiện nay, các đơn vị kế toán trong lĩnh vực công có sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước (NSNN) áp dụng thống nhất hệ thống mục lục NSNN do Bộ Tài chính quy định. Bộ Tài chính chưa quy định hệ thống chuẩn mực kế toán công, các đơn vị thực hiện theo chế độ kế toán áp dụng cho từng đối tượng.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại trong quá trình thực hiện như: Hoạt động của các đơn vị trong lĩnh vực công rất đa dạng, tại nhiều đơn vị khác nhau; cơ chế tài chính theo định hướng cải cách ngày càng tiếp cận phương thức quản lý mới, dần dần nâng cao trách nhiệm của các đơn vị kế toán.

Theo quy định của Luật Kế toán 2015, các đơn vị kế toán thuộc khu vực nhà nước phải lập báo cáo tài chính, Kho bạc Nhà nước phải lập báo cáo tài chính nhà nước trình Quốc hội xem xét.

Thứ đến, kế toán các đơn vị hành chính, sự nghiệp công lập được xây dựng trên cơ sở kế toán doanh nghiệp theo phương pháp dồn tích nhưng trên thực tế chưa tách bạch được kế toán của 3 loại hoạt động phổ biến của đơn vị này: hoạt động hành chính quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp không có thu; hoạt động sự nghiệp có thu; hoạt động sự nghiệp công lập tự đảm bảo kinh phí thường xuyên hoặc tự đảm bảo kinh phí thường xuyên và đầu tư.

Đánh giá chung, Việt Nam chưa ban hành chuẩn mực kế toán công đầy đủ, thống nhất quy định các nguyên tắc kế toán và phương pháp đánh giá một cách khoa học, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Để ban hành được hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam cần có sự hiểu biết đầy đủ về các chuẩn mực kế toán công quốc tế. Việc tổ chức thực hiện chuẩn mực kế toán công quốc tế tại Việt Nam cần có lộ trình phù hợp, đòi hỏi đồng bộ, thống nhất giữa các quy định có liên quan như Luật NSNN, cơ chế tài chính được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Lộ trình cụ thể

Theo đó, lộ trình áp dụng đề án từ năm 2019 đến năm 2024, Bộ Tài chính chuẩn bị các điều kiện cần thiết triển khai thực hiện đề án theo từng giai đoạn.

Sau khi đề án được ban hành, đến tháng 12/2019 thành lập ban soạn thảo, tổ biên tập chuẩn mực kế toán công Việt Nam. Từ năm 2020 đến năm 2024, nghiên cứu, xây dựng, ban hành và công bố các chuẩn mực kế toán công Việt Nam theo lộ trình: đợt 1: thực hiện từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2020; đợt 2 thực hiện từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2021; đợt 3 từ tháng 1/2022 đến tháng 12/2022; đợt 4 từ tháng 1/2023 đến tháng 12/2023. Các đợt còn lại, thời gian thực hiện từ tháng 1/2014.

Sau khi ban hành được 21 chuẩn mực kế toán công Việt Nam, Bộ Tài chính sẽ tổng kết, đánh giá và lựa chọn các chuẩn mực còn lại trong các giai đoạn tiếp theo phù hợp với cơ chế, chính sách trong khu vực công được sửa đổi, bổ sung đồng bộ, phù hợp với các nguyên tắc của chuẩn mực.

Trường hợp cơ chế chính sách tài chính, ngân sách không điều chỉnh phù hợp, cần xác định rõ các nội dung không áp dụng theo chuẩn mực kế toán công quốc tế.

Trong các đợt còn lại sẽ ban hành các chuẩn mực có những khác biệt lớn, cần được nghiên cứu để áp dụng khi có đủ điều kiện để giải quyết sự khác biệt với kinh tế Việt Nam.

Quyết định có hiệu lực từ ngày 31/7/2019./.

 
Đưa Chi cục Thuế khu vực vào hoạt động: ghi nhận từ Nam Trung bộ

Đưa Chi cục Thuế khu vực vào hoạt động: ghi nhận từ Nam Trung bộ

Triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW của Trung ương và Quyết định số 520/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về tổ chức, sắp xếp tinh gọn bộ máy quản lý thuế, từ ngày 5/8/2019 các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa sẽ đồng loạt đưa các chi cục thuế khu vực vào hoạt động. Đây cũng là hai địa phương thuộc top đầu của vùng duyên hải Nam Trung bộ tiến hành sáp nhập chi cục thuế (CCT) trong năm nay. 

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Giảm đầu mối, số thu tăng

Báo cáo từ các Cục Thuế Khánh Hòa, Phú Yên cho thấy, việc triển khai Nghị quyết 18 của hai địa phương này đến nay đã giảm được 57 đầu mối. Trong đó, Cục Thuế Phú Yên đã sắp xếp giảm được 1 đầu mối cấp phòng, 2 đầu mối cấp CCT (từ 4 xuống còn 2 CCT) và 26 đầu mối cấp đội thuế (từ 68 xuống còn 42 đội thuế). Nếu tính riêng việc hợp nhất CCT đợt này, Phú Yên đã giảm được 2 đầu mối CCT, 10 đầu mối cấp đội thuế (từ 21 đội thuế xuống còn 11 đội thuế).

Tương tự, Cục Thuế Khánh Hòa cũng giảm 1 đầu mối cấp phòng, 3 đầu mối cấp CCT (từ 5 xuống còn 2 CCT) và 25 đầu mối cấp đội thuế (từ 76 đội thuế xuống còn 51 đội thuế). Trong đó việc hợp nhất đầu tháng 8 này giảm được 3 đầu mối cấp CCT, 9 đầu mối cấp đội thuế (từ 32 xuống còn 23 đội thuế). Cụ thể, sau khi thành lập CCT khu vực Nam Khánh Hòa (sáp nhập các CCT Khánh Sơn, Cam Lâm, Cam Ranh) giảm 6 đội thuế (từ 19 xuống còn 13 đội thuế); CCT khu vực Tây Khánh Hòa (từ các CCT Khánh Vĩnh, Diên Khánh) giảm 3 đội thuế (từ 13 xuống còn 10 đội thuế).

Những con số trên cho thấy, việc triển khai Nghị quyết 18 TW tại các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên bước đầu đã thu được kết quả tốt. Theo đó, tại các địa phương này không chỉ giảm được đầu mối cấp phòng, CCT và đội thuế, mà còn giúp cho một số CCT của khu vực này cải thiện số thu. Trong số đó có thể kể đến là CCT huyện Khánh Sơn, năm 2018 chỉ thu được 13 tỷ đồng; CCT huyện Khánh Vĩnh thu được 75 tỷ đồng, nhưng sau khi thành lập CCT khu vực, thì những chi cục mới như Tây Khánh Hòa sẽ có số thu trên 350 tỷ đồng; CCT Nam Khánh Hòa trên 500 tỷ đồng, do số DN và hộ kinh doanh của cấp chi cục tăng lên.

Tương tự, tại Phú Yên, năm 2018 CCT Sơn Hòa chỉ thu được 54 tỷ đồng; CCT Tuy An thu 93 tỷ đồng (nếu trừ đất còn 43 tỷ đồng); CCT Đồng Xuân cũng ở mức 83 tỷ đồng, nhưng sau khi thành lập các CCT khu vực, các CCT mới (như CCT Sông Hinh - Sơn Hòa, CCT Tuy An - Đồng Xuân) đều có số thu đạt trên 100 tỷ đồng.

Sẵn sàng nhập cuộc

Chia sẻ về chủ trương thu gọn đầu mối, ông Công Văn Lãnh, Phó Cục trưởng phụ trách Cục Thuế Phú Yên cho rằng, việc hợp nhất các CCT thành CCT khu vực là một cuộc cách mạng lớn về thay đổi tổ chức bộ máy ngành thuế và Phú Yên đã sẵn sàng nhập cuộc. Theo kế hoạch của Bộ Tài chính, năm 2019 Cục Thuế Phú Yên sẽ hợp nhất 4 CCT thành 2 CCT khu vực là CCT huyện Sông Hinh và CCT huyện Sơn Hòa hợp nhất thành CCT khu vực Sông Hình - Sơn Hòa; CCT huyện Tuy An và Chi cục Thuế huyện Đồng Xuân hợp nhất thành CCT khu vực Tuy An - Đồng Xuân. Cả 2 chi cục này đều bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 5/8/2019. Năm 2020, Cục Thuế Phú Yên tiếp tục sáp nhập 2 CCT huyện Tây Hòa và CCT huyện Phú Hòa thành CCT khu vực Tây Hòa - Phú Hòa. Như vậy, đến năm 2020, tỉnh Phú Yên còn 6 CCT, giảm 3 CCT so với thời điểm hiện tại.

Để thực hiện tốt chủ trương này, ông Lãnh cho biết, bên cạnh việc quán triệt đến toàn thể  CBCC về kế hoạch hợp nhất CCT, Cục Thuế đã họp Ban chỉ đạo, tổ giúp việc phân tích các bước công việc sẽ triển khai, dự kiến các tình huống có thể xảy ra, từ đó có biện pháp giải quyết các vấn đề nảy sinh trong và sau sáp nhập. Chính nhờ sự chủ động này, đến nayviệc thực hiện chủ trương sáp nhập CCT ở Phú Yên không gặp nhiều trở ngại.

Cùng với Phú Yên, cơ quan thuế Khánh Hòa cũng đã sẵn sàng nhập cuộc từ đầu tháng 8. Ông Trần Sỹ Quân - Phó Cục trưởng Cục Thuế Khánh Hòa cho hay, việc tinh giảm bộ máy ở Khánh Hòa không nặng nề, vì ở đợt 1 là thành lập CCT khu vực Tây Khánh Hòa (gồm CCT Diên Khánh và CCT Khánh Vĩnh) thì CCT Diên Khánh chỉ có 3 phó chi cục trưởng, trong đó có 1 phó phụ trách; Khánh Vĩnh có 1 chi cục trưởng và 1 phó chi cục trưởng, do đó khi nhập hai đơn vị này với nhau sẽ thuận lợi. Tương tự, đối với CCT khu vực Nam Khánh Hòa (gồm CCT TP Cam Ranh, CCT huyện Cam Lâm, CCT huyện Khánh Sơn) tuy có 3 trưởng và 4 phó, nhưng Cục Thuế cũng đã làm tốt công tác tư tưởng và có kế hoạch bố trí nhân sự phù hợp, nên CCT Nam Khánh Hòa khi đi vào hoạt động sẽ đảm bảo sự ổn định, không bị xáo trộn.

Theo ghi nhận của phóng viên, ngoài chuẩn bị tốt cho khâu nhân sự sau sáp nhập, nhiều công tác khác như kê biên tài sản, bố trí cán bộ quản lý theo địa bàn, hay địa điểm tiếp nhận người nộplệ phí trước bạ, phí... cũng được các cơ quan thuế lên kế hoạch chu đáo để người dân nộp thuế một cách thuận lợi nhất.

... nhưng vẫn còn trăn trở!

Mặc dù việc đưa các CCT khu vực vào hoạt động đều đã sẵn sàng, song không phải vì thế mà không có vướng mắc phát sinh. Thực tế cho thấy, từ 2- 3 chi cục trưởng, nay chỉ còn có 1, hay một số phó chi cục trưởng được giao phụ trách, nay bỗng không còn quyền như trước... Tất cả tuy không ai nói ra, nhưng ít nhiều cũng có tâm tư. Theo ghi nhận của phóng viên, cái khó hiện nay của những người trong cuộc vẫn là chuyện di chuyển nơi làm mới, đi lại khó khăn, cơ sở vật chất chưa có và sinh hoạt thường ngày bị đảo lộn. Chia sẻ về vấn đề này, ông Lê Ngọc Tuấn, Phó Chi cục trưởng CCT Đồng Xuân (người sẽ cùng 10 cán bộ chuyển về Tuy An - nơi có trụ sở chính của CCT khu vực Tuy An - Đồng Xuân) cho hay, nếu như trước đây cán bộ thuế chỉ làm việc trên địa bàn huyện, thì nay phải đi xa hơn (khoảng 17 km) trên những cung đường thường bị ngập lụt, hư hỏng, thậm chí có người phải di chuyển tới 34km mới đến được trụ sở mới. Hơn nữa, việc chuyển sang một môi trường làm việc mới cũng khiến anh em phải tiếp cận lại từ đầu; bên cạnh đó, nơi ăn chỗ nghỉ chưa bố trí được cũng ảnh hưởng đến cuộc sống của cán bộ thuế, nhất là những người có con nhỏ.

Không chỉ có vậy, theo chia sẻ của ông Huỳnh Ngọc Thư, Phó Chi cục trưởng CCT Đồng Xuân (người sẽ cùng 10 cán bộ khác ở lại trụ sở cũ), thì ngay cả những người ở lại cũng có những khó khăn riêng. Nếu như trước đây, mỗi khi gặp chuyện khó, anh em đều có thể trực tiếp gặp người đứng đầu để chia sẻ cùng tháo gỡ, thì nay phải tự giải quyết, bởi theo quy định, nơi không đặt trụ sở chính CCT khu vực chỉ có 1 cấp phó ở lại. Đấy là chưa kể đến tâm lý của lãnh đạo địa phương chỉ muốn làm việc với cấp trưởng, nên với vai trò của người làm phó cũng rất khó khăn. Ngoài ra, quá trình xây dựng và triển khai dự toán gắn liền với kế hoạch tài chính thu chi của mỗi huyện, nên khi hợp nhất, việc theo dõi và dự báo của mỗi địa phương cũng khác nhau. Do đó, việc đưa các CCT khu vực vào hoạt động cần đồng bộ với quy trình hạch toán các khoản thu ngân sách của từng địa phương để thuận tiện cho việc theo dõi, chỉ đạo điều hành thu ngân sách.

 
Đề xuất miễn lệ phí môn bài cho nhiều đối tượng

Đề xuất miễn lệ phí môn bài cho nhiều đối tượng

Bộ Tài chính vừa hoàn thiện Tờ trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 139/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài. Theo đó, dự kiến miễn lệ phí môn bài trong năm đầu tiên cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp nhỏ vừa chuyển từ hộ kinh doanh trong 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Đồng thời, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu quy định miễn lệ phí môn bài đối với cơ sở giáo dục đào tạo công lập (mầm non, phổ thông)...

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Nỗ lực nâng xếp hạng chỉ số Khởi sự doanh nghiệp

Việc sửa đổi, bổ sung này xuất phát từ việc thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021. Tại Nghị quyết số 02/NQ-CP, Chính phủ yêu cầu nâng cao thứ hạng trong các xếp hạng quốc tế của WB, WEP, WIPO, UN về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh... nhằm thích ứng với nên sản xuất mới trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỷ lệ doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; giảm chi phí đầu vào, chi phí cơ hội, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội, phấn đấu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nước ta thuộc nhóm ASEAN 4. Trong các mục tiêu cụ thể về cải thiện Môi trường kinh doanh có mục tiêu quan trọng, đó là nâng xếp hạng chỉ số Khởi sự doanh nghiệp lên 20 – 25 bậc, năm 2019 tăng ít nhất 5 bậc.

Để đảm bảo đạt được mục tiêu tại Nghị quyết số 02/NQ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất bỏ quy định “trường hợp người nộp lệ phí mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc mới thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh thì thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai lệ phí” tại khoản 4 Điều 5 Nghị định số 139/2016/NĐ-CP. Nếu bỏ quy định này, quy trình khởi sự kinh doanh sẽ được giảm 01 bước với chi phí còn lại là 1.050.000 đồng, do đó, sẽ tác động đáng kể trong việc giúp gia tăng điểm số, thứ hạng đối với chỉ số của Việt Nam. Trên cơ sở đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã có công văn số 5116/BTC-CST ngày 04/5/2019 báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép sửa đổi Nghị định số 139/2016/NĐ-CP theo hướng: Miễn lệ phí môn bài đối với trường hợp mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc mới thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh trong năm đầu tiên (từ ngày 01/01 đến 31/12 năm khởi sự kinh doanh) và đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý tại công văn số 4404/VPCP ngày 23/5/2019.

Những đối tượng có khả năng được miễn

Trong tờ trình Chính phủ, những đối tượng được Bộ Tài chính đề nghị miễn lệ phí gồm: Cơ sở giáo dục đào tạo công lập (mầm non, phổ thông), miễn thu lệ phí năm đầu của cơ sở mới thành lập và hoạt động, miễn thu lệ phí trong vòng 3 năm đối với doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, hợp tác xã nông nghiệp…

Sở dĩ Bộ Tài chính đề xuất nghiên cứu quy định miễn lệ phí môn bài cho các cơ sở giáo dục công lập vì theo quy định tại Nghị định số 139/2016/NĐ-CP thì các cơ sở giáo dục công lập không được miễn lệ phí môn bài. Hiện nay, kinh phí hoạt động của các cơ sở giáo dục công lập (mầm non, phổ thông) chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp và một phần từ nguồn thu từ học phí (giá dịch vụ). Học phí của các cơ sở giáo dục này thu do Nhà nước quy định, chưa tính đầy đủ chi phí. Như vậy, các cơ sở giáo dục công lập đang hoạt động hiện nay đều được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí, hoạt động không nhằm mục đích sinh lời. Thực tế hiện nay, các địa phương chưa thực hiện thu lệ phí môn bài đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông. Vì vậy, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định miễn lệ phí môn bài đối với: “10. Cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục mầm non (bao gồm cả công lập và ngoài công lập)” (theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Luật giáo dục 2019:  Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông).

Đối với các doanh nghiệp vừa chuyển từ hộ kinh doanh sẽ được miễn lệ phí môn bài để khuyến khích phát triển. Tại điểm b khoản 2 Điều 16 Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ hộ kinh doanh: Miễn lệ phí môn bài trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Để phù hợp với quy định nêu trên, Bộ Tài chính trình Chính phủ bổ sung 01 khoản tại Điều 3 Nghị định 139/2016/NĐ-CP về miễn lệ phí môn bài đối với: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển từ hộ kinh doanh trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu”.

Giảm thu NS nhưng tăng lợi ích cho người dân và DN

Chính sách lệ phí môn bài có tác động lớn đến người dân, doanh nghiệp cũng như đời sống kinh tế - xã hội. Nếu quy định miễn lệ phí môn bài đối với trường hợp mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc mới thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh trong năm tài chính đầu tiên thì sẽ giảm bớt thời gian và chi phí của người dân và doanh nghiệp.

Đánh giá về tác động dự kiến giảm thu ngân sách nhà nước, Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) ước tính, nếu số lượng tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia khởi sự trong năm 2019 tương đương với năm 2018 (khoảng 147.209 tổ chức, cá nhân, hộ gia đình) thì với quy định miễn lệ phí môn bài đối với trường hợp tổ chức mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc mới thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh trong năm đầu tiên thì dự kiến số thu ngân sách nhà nước từ lệ phí môn bài giảm khoảng 200 tỷ đồng.

Kim Chung

 
Cần đồng bộ hoá ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai hoá đơn điện tử

Cần đồng bộ hoá ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai hoá đơn điện tử

Đó là một trong những nội dung được thảo luận tại Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc trong triển khai hóa đơn điện tử" do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) tổ chức chiều 30/7, tại Hà Nội.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 
 
 

Việc sử dụng hóa đơn điện tử mang lại nhiều lợi ích, như: tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí vận chuyển bảo quản hóa đơn, giảm thiểu các thủ tục hành chính, an toàn, bảo mật... Tuy nhiên,  trong quá trính triển khai hoá đơn điện tử nhiều doanh nghiệp gặp không ít vướng mắc cần tháo gỡ. 

Theo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định, áp dụng hóa đơn điện tử là xu thế tất yếu khi doanh nghiệp triển khai chuyển đổi số. 

 

Việc sử dụng hóa đơn điện tử giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian (giảm tới 70% các bước quy trình phát hành và 90% các tranh chấp liên quan đến hóa đơn, rút ngắn tới 99% thời gian thanh toán, quản lý hóa đơn, tiết kiệm 80% chi phí cho mỗi hóa đơn).

Đây là con số có ý nghĩa lịch sử với doanh nghiệp, vì khi sử dụng hóa đơn điện tử, doanh nghiệp không cần chờ đợi nhận được hóa đơn theo đường bưu điện như cách làm truyền thống. Chỉ trong vài cú nhấp chuột, người mua hàng sẽ nhận được hóa đơn dù đang ở bất cứ nơi nào nếu có internet...”

Ông Vũ Tiến Lộc Chủ tịch VCCI. 

Dù vậy, ông Vũ Tiến Lộc đánh giá, việc áp dụng hóa đơn điện tử rất cần một hạ tầng kỹ thuật tốt, tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu về mặt hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin - viễn thông. Ngoài ra, trở ngại từ thói quen sử dụng tiền mặt của người dân Việt Nam cũng là nguyên nhân dẫn tới hóa đơn điện tửchậm được áp dụng và triển khai trên quy mô lớn.

"Để có đủ điều kiện sử dụng hóa đơn điện tử, một trong những điều kiện mà các doanh nghiệp phải có được chính là hệ thống máy móc và trang thiết bị đảm bảo cho việc vận hành và sử dụng hóa đơn này. Đồng thời, còn phải có một hệ thống nhân lực với trình độ cao để có thể sử dụng hóa đơn điện tử", ông Vũ Tiến Lộc nói.

Theo ông Nguyễn Tương - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam cho biết, Nghị định số 119/2018/NĐ-CP đã được ban hành, nhưng chưa có Thông tư hướng dẫn nên  các doanh nghiệp cũng gặp những khó khăn nhất định trong việc triển khai hóa đơn điện tử.

Trong số 400 hội viên, có 67% là doanh nghiệp vừa nhỏ có khó khăn về nguồn vốn, quản lý và ứng dụng khoa học công nghệ, nên sẽ gặp khó khăn trong việc triển khai hoá đơn điện tử.

Vì vậy, cần tạo ra nền tảng cho thực hiện hoá đơn điện tử, đồng bộ hoá trong triển khai hoá đơn điện tử của chính nội bộ các cơ quan quản lý và doanh nghiệp."

Ông Nguyễn Tương

Quyết tâm hoàn thành kết nối 61 thủ tục mới tham gia Cơ chế một cửa quốc gia

Quyết tâm hoàn thành kết nối 61 thủ tục mới tham gia Cơ chế một cửa quốc gia

Năm 2020, Việt Nam đảm nhận vị trí Chủ tịch ASEAN, do đó việc hoàn thành mục tiêu kết nối 61 thủ tục mới tham gia Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và Cơ chế một cửa ASEAN (ASW) là mục tiêu cấp bách. 

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 

Đây là phát biểu chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại cuộc họp đánh giá công tác 6 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019 về triển khai NSW, ASW, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành (KTCN) và tạo thuận lợi thương mại diễn ra chiều ngày 31/7 tại Văn phòng Chính phủ.

Đã có 174 thủ tục kết nối NSW

Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã nêu bật kết quả kết nối NSW đạt được trong thời gian qua và bày tỏ quyết tâm trong việc tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành phấn đấu thực hiện kết nối mới 61 thủ tục mới theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho hay, tính đến ngày 10/7/2019, đã có 174 thủ tục hành chính của 13 bộ, ngành kết nối NSW, với trên 2,3 triệu hồ sơ, của khoảng 31.000 doanh nghiệp (DN). Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2019, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng mới và hoàn thành công tác kết nối đối với 3 thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; 4 thủ tục hành chính của Bộ Y tế;  3 thủ tục hành chính của Bộ Thông tin và Truyền thông; xây dựng mới và đang trong quá trình kiểm thử 7 thủ tục hành chính của Bộ Y tế. Đồng thời, điều chỉnh hệ thống để triển khai mở rộng 3 thủ tục của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Tại hội nghị, báo cáo chi tiết về kết quả thực hiện NSW và ASW, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Mai Xuân Thành cho biết, đến nay, một số bộ đã hoàn thành kết nối NSW.

Điển hình như Bộ Giao thông vận tải đã triển khai 87 thủ tục hành chính, trong đó có 75 thủ tục mới được triển khai năm 2018, hoàn thành triển khai các thủ tục hành chính trên NSW theo danh mục tại Quyết định 1254/QĐ-TTg. Hiện bộ này đang nghiên cứu xây dựng hệ thống công nghệ thông tin dự phòng tham gia NSW; bổ sung và nâng cấp hệ thống phần mềm.

Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai 6 thủ tục hành chính theo đúng tiến độ và kế hoạch chung của Chính phủ, hoàn thành triển khai các thủ tục hành chính theo danh mục tại Quyết định 1254/QĐ-TTg.

Về triển khai ASW và kết nối ngoài ASEAN, ông Mai Xuân Thành cho biết, Việt Nam đã chính thức trao đổi thông tin C/O mẫu D với 6 nước gồm: Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Brunei và Campuchia.

Tính đến ngày 10/7/2019, tổng số C/O Việt Nam nhận từ các nước là 87.355, tổng số C/O Việt Nam gửi sang các nước là 153.872.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đang phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật để sẵn sàng trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN (với Indonesia và Thái Lan) và chứng nhận kiểm dịch thực vật (với Indonesia).

Ngoài ra, Bộ Tài chính đang phối hợp với các bộ, ngành tiến hành đàm phán để hoàn thiện các nghị định thư, thống nhất yêu cầu kỹ thuật và xây dựng hệ thống để trao đổi thông tin tờ khai hải quan, chứng nhận xuất xứ với Liên minh kinh tế Á - Âu; đàm phán để trao đổi thông tin C/O điện tử với Hàn Quốc.

Liên quan đến công tác quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK), đến nay, các bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung 84/87 văn bản (chiếm 97%).

Tạo thuận lợi song vẫn đảm bảo chống gian lận

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã đánh giá cao nỗ lực của Bộ Tài chính và ghi nhận kết quả thực hiện NSW và đơn giản thủ tục KTCN mà các bộ, ngành đạt được trong thời gian qua.

“Việc đơn giản thủ tục KTCN đạt được kết quả tích cực cả trên chất lượng sửa đổi, bổ sung văn bản và tổ chức thực hiện. Tình trạng 1 mặt hàng nhiều bộ, ngành kiểm tra, 1 mặt hàng do nhiều cơ quan trong 1 bộ, ngành kiểm tra, ban hành danh mục hàng hóa nhưng không có mã số hàng hóa đã được khắc phục. Tính đến 15/6, các bộ, ngành đã sửa đổi, bổ sung văn bản đạt 97% so với mục tiêu Chính phủ đề ra, trong đó có 10/13 bộ, ngành đạt 100%...” - Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ biểu dương.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả nêu trên, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng chỉ ra những tồn tại hạn chế như 6 tháng đầu năm mới có 16 thủ tục được triển khai, trong đó có 1 thủ tục hoàn thành. Số lượng cần hoàn thành còn đến 45 thủ tục, đáng kể là Bộ Y tế 3 thủ tục, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 12 thủ tục, Bộ Quốc phòng 8 thủ tục…

Việc cắt giảm danh mục hàng hóa còn chậm mới đạt 15%, đạt mức tối thiểu so với mục tiêu Quốc hội đề ra là cắt giảm từ 15% đến 35%. Hơn nữa, văn bản mới được ban hành còn nhiều vướng mắc, chưa phù hợp, đòi hỏi các bộ, ngành có những sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo thuận lợi cho DN song vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý.

Chỉ đạo về nhiệm vụ trong những tháng còn lại của năm 2019, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh, các bộ, ngành cần tiếp tục bám sát mục tiêu tại các nghị quyết, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc hoàn thành kết nối 61 thủ tục mới trong năm 2019.

Để hoàn thành các mục tiêu đề ra, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tin tưởng giao hàng loạt nhiệm vụ quan trọng cho Bộ Tài chính.

Cụ thể, Bộ Tài chính chủ trì việc hoàn thiện Nghị định quy định về thủ tục hành chính theo NSW, sớm trình Chính phủ trong tháng 8/2019; tiếp tục xây dựng về việc kết nối và chia sẻ thông tin giữa cơ quan Chính phủ và các bên liên quan thông qua NSW trong lĩnh vực XNK, xuất nhập cảnh theo Quyết định 1245/QĐ-TTg; khẩn trương xây dựng đề án bảo lãnh thông quan trong năm 2019, kịp trình Chính phủ trong năm 2020...; thực hiện xây dựng hoàn thiện đề án công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả NSW theo hướng xử lý tập trung...

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ lưu ý, tạo thuận lợi tối đa thương mại song vẫn đảm bảo quản lý, chống gian lận thương mại, trốn thuế, gian lận xuất xứ hàng hóa. “Công việc này giao Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính đề xuất giải pháp; trước mắt cần xử lý nghiêm một số vụ gian lận xuất xứ để làm gương. Cần có kết luận vụ việc Asanzo theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ...” - Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chỉ đạo.

Đối với các bộ, ngành, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chỉ đạo, tập trung nguồn nhân lực nhằm đảm bảo kết nối 61 thủ tục mới trong năm 2019 và hoàn thiện vào quý I/2020. Các bộ, ngành có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính trong việc sửa đổi, bổ sung chính sách theo hướng đơn giản thủ tục KTCN./.

Ngọc Linh
 
Thành lập 3 Chi cục Thuế khu vực trực thuộc Cục Thuế Tp.Hà Nội

Thành lập 3 Chi cục Thuế khu vực trực thuộc Cục Thuế Tp.Hà Nội

Ngày 31/7, Cục Thuế Tp.Hà Nội tổ chức Lễ công bố Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc hợp nhất Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế Tp.Hà Nội. Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà tham dự và chỉ đạo tại buổi Lễ. Tham dự buổi lễ có Phó Chủ tịch UBND Tp.Hà Nội Nguyễn Doãn Toản, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Phi Vân Tuấn, Lãnh đạo Cục Thuế Tp.Hà Nội; đại diện các Chi cục Thuế được sáp nhập và đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, UBND Tp.Hà Nội.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<
 
Đại diện Lãnh đạo: Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, UBND Tp.Hà Nội chúc mừng 
Lãnh đạo các Chi Cục Thuế Khu vực thuộc Cục Thuế Tp.Hà Nội.

Thành lập 03 Chi cục thuế khu vực

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII quy định một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả; chủ trương của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế về tổ chức lại Chi cục thuế theo khu vực, Cục Thuế TP Hà Nội đã rà soát, đánh giá tổ chức bộ máy, hiệu quả công tác quản lý thuế tại các Chi cục thuế và báo cáo kế hoạch sắp xếp lại các Chi cục Thuế nhằm tinh giản đầu mối Chi cục thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả và hiện đại hóa công tác quản lý thuế.

Cục thuế Tp.Hà Nội đã rà soát và báo cáo Tổng cục Thuế phương án sếp xếp, sáp nhập đối với 12 Chi cục Thuế huyện thành Chi cục Thuế khu vực theo lộ trình từ năm 2018-2020.

Ngày 31/5/2019, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số 923/QĐ-BTC ngày 31/5/2019 về việc hợp nhất Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế TP Hà Nội, theo đó:

Hợp nhất Chi cục Thuế huyện Sóc Sơn và Chi cục Thuế huyện Mê Linh thành Chi cục Thuế khu vực Sóc Sơn - Mê Linh. Tên gọi: Chi cục Thuế khu vực Sóc Sơn - Mê Linh. Địa điểm đặt trụ sở: Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Hợp nhất Chi cục Thuế huyện Ứng Hòa và Chi cục Thuế huyện Mỹ Đức thành Chi cục Thuế khu vực Ứng Hòa - Mỹ Đức. Tên gọi: Chi cục Thuế khu vực Ứng Hòa - Mỹ Đức. Địa điểm đặt trụ sở: Huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

Hợp nhất Chi cục Thuế huyện Thanh Oai và Chi cục Thuế huyện Chương Mỹ thành Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ. Tên gọi: Chi cục Thuế khu vực Thanh Oai - Chương Mỹ. Địa điểm đặt trụ sở: Huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

Trên cơ sở Quyết định số 923/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Cục Thuế TP Hà Nội đã có văn bản báo cáo UBND TP Hà Nội chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp các nội dung triển khai và có văn bản gửi các Huyện trên địa bàn có Chi cục Thuế khu vực đề nghị phối hợp chặt chẽ với Cục Thuế trong công tác quản lý thuế, quản lý thu ngân sách nhà nước, hạch toán kế toán ngân sách, báo cáo, quyết toán thu NSNN trên địa bàn; tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn theo cơ chế “một cửa” liên thông theo quy định của pháp luật; hiệp y nhân sự lãnh đạo Chi cục thuế khu vực…

Đối với công tác tổ chức Đảng, khi hợp nhất Chi cục thuế khu vực, Theo hướng dẫn của Ban Tổ chức trung ương, Cục Thuế đã báo cáo Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ khối các cơ quan Thành phố về tổ chức Đảng của các Chi cục Thuế. Theo đó, trước mắt sẽ chuyển tổ chức Đảng của các Chi cục Thuế khu vực về Đảng ủy Cục Thuế TP Hà Nội. Khi chuyển giao, Cục Thuế TP Hà Nội xác định công tác chỉ đạo, phối hợp của Huyện ủy, chính quyền địa phương trong công tác thu ngân sách, giải quyết các thủ tục hành chính, cải cách hành chính, quản lý đảng viên…sẽ ngày càng chặt chẽ, được tăng cường và nâng cao hiệu quả.

Đảm bảo sự đoàn kết và hoàn thành dự toán thu NSNN

Phát biểu chỉ đạo tại buổi Lễ, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết, Cục Thuế TP Thành phố Hà Nội là 01 trong 16 đơn vị của Đợt II năm 2019 trong cả nước thực hiện triển khai việc sắp xếp, hợp nhất Chi cục Thuế cấp huyện để thành lập Chi cục Thuế khu vực theo đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Tài chính, góp phần vào công cuộc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp.

Tuy nhiên, do liên quan đến công tác tổ chức cán bộ và nhân sự, Thứ trưởng cũng lưu ý Cục Thuế Hà Nội một số nội dung trọng tâm.

Thứ nhất, việc sắp xếp tổ chức bộ máy không thể tránh khỏi những tác động nhất định về về tâm tư, tình cảm, công việc, sinh hoạt của một bộ phận cán bộ đảng viên “Lãnh đạo Bộ Tài chính thấu hiểu điều đó, tuy nhiên vì nhiệm vụ và mục tiêu chung nên đề nghị các đồng chí cố gắng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ được giao”, Thứ trưởng đề nghị.

Thứ trưởng nhấn mạnh việc cần đặc biệt quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của cán bộ công chức trong quá trình thực hiện việc sắp xếp, sáp nhập và thực hiện tinh gọn bộ máy, sao cho không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính trị chung của đơn vị. Cải cách bộ máy nhưng vẫn phải hoàn thành nhiệm vụ chính trị “Đây là mục tiêu quan trọng nhất. Bằng bất cứ giá nào cũng cần hoàn thành nhiệm vụ quản lý thu và tập trung nguồn thu NSNN năm 2019 và các năm tiếp theo, đảm bảo dự toán NS được QH và HĐND giao”, Do đó, Thứ trưởng yêu cầu Cục Thuế Hà Nội cũng như các Chi cục Thuế khu vực cần đẩy mạnh quản lý thu, thanh tra, kiểm tra, tăng cường công tác xử lý nợ đọng để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ công tác được giao.

Thứ hai, sắp xếp bộ máy nhưng phải làm cho bộ máy mạnh hơn, đoàn kết hơn và phải tập hợp được lực lượng để triển khai công việc. Để triển khai được vấn đề này, rất cần đến trách nhiệm của người đứng đầu cụcThuế cũng như CCT khu vực “Trong quá trình giải quyết, có vướng mắc phát sinh liên quan, ngoài tầm kiểm soát và giải quyết, đề nghị các đồng chí báo cáo cấp ủy đảng, chính quyền, lãnh đạo cục, Tổng cục để xem xét giải quyết, nhưng cần đảm bảo sự đoàn kết và gắn kết trong một đơn vị”.

Thứ ba, tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy đảng, và sự phối kết hợp giữa cơ quan chức năng địa phương. Bộ Tài chính đã báo cáo và được sự đồng ý của Ban Bí thư cho phép Đảng bộ của Chi cục Thuế khu vực được sinh hoạt Đảng thuộc tổ chức Đảng trực tiếp tại Cục Thuế để đảm bảo thống nhất trong quản lý giữa công tác đảng và chính quyền cũng như quản lý đảng viên. Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ chính trị quản lý nhà nước trên địa bàn vẫn phải tuân thủ và chịu sự kiểm tra giám sát của HĐND các cấp và cơ quan chức năng tại địa phương. “Đề nghị lãnh đạo Cục Thuế quan tâm và báo cáo với các cấp ủy Đảng triển khai theo hướng như trên”.

Với vị trí và vai trò hết sức quan trọng (thu NSNN Cục Thuế Hà Nội được giao chiếm 20% tổng thu cả nước), nên kết quả hoạt động của Cục Thuế Tp.Hà Nội được Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Lãnh đạo các cấp ủy Đảng và chính quyền Tp.Hà Nội đặc biệt quan tâm. Do đó, Thứ trưởng đề nghị Cục Thuế Tp.Hà Nội tiếp tục nỗ lực hoàn thành tốt công việc được giao, xứng đáng với vị thế của một Cục Thuế có vai trò hết sức quan trọng trong cả nước cũng như Thủ đô Hà Nội.

Tiếp thu toàn bộ ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng, ông Mai Sơn, Cục trưởng Cục Thuế Tp.Hà Nội khẳng định Cục thuế Tp.Hà Nội sẽ cụ thể hóa thành nội dung, kế hoạch triển khai để các Chi cục Thuế khu vực đi vào hoạt động thông suốt và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Cục Thuế Quảng Ngãi: Hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử

Cục Thuế Quảng Ngãi: Hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử

“Hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có khoảng 5.200 doanh nghiệp (DN) đang hoạt động, trong đó có trên 460 DN đã sử dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT).

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Đơn vị đang tích cực thực hiện nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động hỗ trợ DN sớm chuyển đổi sang sử dụng HĐĐT” – ông Nguyễn Văn Luyện – Cục trưởng Cục Thuế Quảng Ngãi nhấn mạnh khi trao đổi với phóng viên TBTCVN.

Đẩy mạnh tuyên truyền đưa HĐĐT vào cuộc sống

Theo Cục trưởng Cục Thuế Quảng Ngãi, hiện nay, hầu hết các DN và hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh đã chuyển sang kê khai, nộp thuế bằng phương thức điện tử. Tuy nhiên, đến tháng 7/2019, toàn tỉnh mới có trên 460 DN sử dụng HĐĐT. 

Lý giải về nguyên nhân dẫn đến số DN chuyển sang sử dụng HĐĐT còn hạn chế, theo ông Luyện có 3 lý do chính. Đó là: Số lượng hóa đơn giấy DN đã đặt in chưa sử dụng hết; cơ sở hạ tầng, sự am hiểu về công nghệ thông tin của không ít DN còn hạn chế; bên cạnh đó, DN chưa sốt sắng khi Nghị định 119 của Chính phủ, Luật Quản lý thuế (sửa đổi) quy định đến năm 2020 mới bắt buộc phải chuyển đổi sang sử dụng HĐĐT.

Để đưa HĐĐT vào cuộc sống, ông Nguyễn Văn Luyện cho biết, Cục Thuế Quảng Ngãi đang đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế (NNT) về lợi ích của HĐĐT; tổ chức các lớp tập huấn về HĐĐT, hướng dẫn chế độ kế toán cho các DN tại một số huyện, thành phố trong tỉnh. Đồng thời, công khai danh sách các nhà cung cấp dịch vụ về HĐĐT để các DN, tổ chức biết, liên hệ triển khai.

“Cùng với đó, đơn vị cũng đã giao các chi cục thuế trực thuộc tăng cường hướng dẫn DN từ khâu đăng ký đến khâu sử dụng, báo cáo về hóa đơn thông qua điện thoại, email, bằng văn bản, trực tiếp tại bộ phận một cửa của đơn vị..., với mục tiêu “phủ sóng” HĐĐT trước khi quy định về HĐĐT tại Nghị định 119 của Chính phủ chính thức có hiệu lực” – ông Luyện nói.

Ông Luyện cho biết thêm, thời gian qua, công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT của Cục Thuế Quảng Ngãi tiếp tục có những đổi mới, chuyển biến tích cực, hiệu quả.

Cụ thể, trong nửa đầu năm 2019, đơn vị đã thực hiện hỗ trợ 5.822 lượt NNT. Trong đó, giải đáp vướng mắc bằng văn bản 65 lượt NNT, bằng hình thức điện tử 5.745 lượt NNT, tổ chức tập huấn chính sách thuế mới 1.215 lượt NNT, tổ chức 20 buổi đối thoại với 850 lượt NNT tham dự. Kịp thời tổng hợp các vướng mắc và trả lời để đăng tải lên trang thông tin điện tử của cục thuế, báo cáo UBND tỉnh và giải quyết kiến nghị của DN.

Định kỳ hàng tháng, tham gia chương trình “Cà phê doanh nhân” do UBND tỉnh tổ chức để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng DN. Tham gia hội nghị gặp mặt, đối thoại với DN, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh hàng quý theo kế hoạch của UBND tỉnh đề ra.

Hiện đại hóa nâng cao chất lượng quản lý thuế

Cùng với việc đẩy mạnh “phủ sóng” HĐĐT, ông Nguyễn Văn Luyện cho biết, đơn vị cũng sẽ tập trung mạnh mẽ vào công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thuế nhằm tạo thuận lợi cho DN phát triển, tạo nguồn thu cho ngân sách.

Cục Thuế Quảng Ngãi còn tổ chức triển khai và hỗ trợ NNT thực hiện khai thuế điện tử trên ứng dụng ETAX thông suốt, xử lý kịp thời các tờ khai lỗi trên trục để trả thông báo cho NNT; đẩy mạnh công tác rà soát chuẩn hóa dữ liệu trên TMS để phản ánh đúng nghĩa vụ của NNT, qua đó đã giúp cho NNT biết thông tin về nghĩa vụ thuế công khai trên ETAX được chính xác.

Đồng thời, đẩy mạnh công tác hỗ trợ DN kê khai thuế qua mạng, nộp thuế điện tử; hoàn thuế điện tử; dịch vụ thuế điện tử theo kế hoạch của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí cho DN. Kịp thời công khai thông tin hộ khoán trên website ngành.

“Nhìn chung, công tác triển khai các ứng dụng của ngành đảm bảo kế hoạch chung, cơ bản đáp được yêu cầu của công tác quản lý thuế tại cơ quan cục thuế và các chi cục thuế. Ngoài ra, bộ phận công nghệ thông tin của cục cũng đã phối hợp tốt với Tổng cục Thuế thực hiện tốt công tác quản trị mạng, quản trị ứng dụng, cơ sở dữ liệu, quản trị thiết bị, đảm bảo hoạt động ổn định và liên tục, qua đó hỗ trợ tối đa cho NNT thực hiện kê khai và nộp thuế điện tử” – ông Luyện nói.

Đại diện Cục Thuế Quảng Ngãi cho biết thêm, đến tháng 6/2019 đã có 99,7% DN đăng ký nộp thuế điện tử qua các ngân hàng thương mại; tỷ lệ số tiền nộp thuế điện tử đạt 98,3%; tỷ lệ chứng từ nộp ngân sách bằng hình thức điện tử đạt 64,8%.
Văn Tuấn 
Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu về người nộp thuế

Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu về người nộp thuế

Để đảm bảo quản lý thuế theo phương pháp quản lý rủi ro, Tổng cục Thuế đang tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu (CSDL) về người nộp thuế và tập huấn cho các cục thuế cách thức khai thác dữ liệu hiệu quả.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo thông tin từ Tổng cục Thuế, một trong những nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến cuối năm, đó là tiếp tục xây dựng, phát triển ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu triển khai các quy trình, chính sách mới và yêu cầu sửa đổi chính sách.

Đặc biệt, Tổng cục Thuế sẽ tiếp tục triển khai công tác xây dựng CSDL chuyên ngành thông qua việc tổ chức tập huấn ứng dụng kho CSDL cho 63 cục thuế trên cả nước.

Phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu triển khai các quy trình, chính sách mới và kế hoạch sắp xếp, sáp nhập chi cục thuế quận, huyện, thị xã, thành phố thành chi cục thuế khu vực. Triển khai hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin để đảm bảo chi cục thuế khu vực đi vào hoạt động ổn định.

Cũng liên quan đến công tác hiện đại hóa ngành Thuế, Tổng cục Thuế hiện đang tiếp tục triển khai Kế hoạch cải cách quản lý thuế giai đoạn 2016 - 2020. Trước đó, Tổng cục Thuế cũng đã công bố báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch cải cách quản lý thuế trung hạn giai đoạn 2016 - 2018 với nhiều kết quả quan trọng, tạo đà cho giai đoạn tiếp theo. 

Để công tác cải cách thủ tục hành chính đúng hướng, hiện Tổng cục Thuế đang tiếp tục theo dõi, nghiên cứu phương pháp đánh giá và ghi nhận của Ngân hàng Thế giới về kết quả cải cách thuế của Việt Nam đối với xếp hạng chỉ số nộp thuế trong Báo cáo môi trường kinh doanh 2019.

Cùng với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, Tổng cục Thuế cũng đang tiếp tục đẩy mạnh thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Trung ương.

Báo cáo cho thấy, đến 30/6, Tổng cục Thuế đã công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc hợp nhất 194 chi cục thuế thuộc 29 cục thuế tỉnh, thành phố để thành lập 92 chi cục thuế khu vực.

Ngoài ra, Tổng cục Thuế cũng đã thực hiện tinh gọn đầu mối các phòng thuộc Tổng cục Thuế và 63 cục thuế; các đội thuộc chi cục thuế. Cụ thể, tại cơ quan Tổng cục Thuế đã giảm 27 phòng; tại 63 cục thuế đã giảm 58 phòng thuộc cục thuế, hiện tại chỉ còn 609 chi cục thuế (giảm 102 chi cục thuế), tổng số đội thuế hiện nay chỉ còn 4.003 đội, giảm trên 1.070 đội thuế so với trước khi sắp xếp./.

Nhật Minh
 
 
 
Image

ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: 41 Phan Triêm, Phường Hòa Xuân, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0236.3.707404
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@dng.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: Tầng 7, Tòa nhà HP, 60 Nguyễn Văn Thủ, Đakao, Quận 1, Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 02822446739
Mobile: 0915.888.404
Email: info@hcm.com.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HÀ NỘI

Địa chỉ: Tòa nhà Anh Minh, 36 Hoàng Cầu, p. Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 02422612929
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@hno.vn 
Website: thanhlapcongtydanang.com

 

GỌI NGAY

0915.888.404