TIN TỨC

Xin ý kiến Quốc hội 3 nội dung dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi)

Xin ý kiến Quốc hội 3 nội dung dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi)

Sáng 3/6, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, Quốc hội xin ý kiến các đại biểu về 3 nội dung còn ý kiến khác nhau tại dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi).

>>>Xem thêmTHÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG"<<<

Tiếp tục chương trình làm việc sáng 3/6, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, Quốc hội xin ý kiến các đại biểu về 3 nội dung còn ý kiến khác nhau tại dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi). Các đại biểu Quốc hội thể hiện chính kiến thông qua bấm nút điện tử.

Về tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia; dự án Nhóm A, B, C, phương án 1 của dự thảo Luật quy định giữ nguyên như quy định của Luật hiện hành về tiêu chí phân loại dự án trọng điểm quốc gia là 10.000 tỷ đồng và tiêu chí phân loại Nhóm A, B, C; phương án 2 điều chỉnh tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia từ 10.000 tỷ đồng lên 20.000 tỷ đồng.

Qua lấy ý kiến có 75,83% đại biểu tán thành phương án 1, giữ nguyên như quy định hiện hành về tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia 10.000 tỷ đồng và tiêu chí phân loại Nhóm A, B, C trình ra Quốc hội.

Về thẩm quyền xem xét quyết định danh mục dự án quyết định danh mục dự án đầu tư công trung hạn, dự thảo trình 2 phương án. Phương án 1: Quốc hội quyết định danh mục các dự án chi đầu tư từ ngân sách Trung ương, trong trường hợp cần thiết, Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định danh mục, mức vốn của các chương trình dự án đầu tư công và báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ nhất.

Phương án 2, Quốc hội chỉ quyết định danh mục các dự án quan trọng quốc gia và Chính phủ quyết định danh mục các dự án chi đầu tư từ ngân sách Trung ương. Trong đó, phương án 1 là phương án mà luật hiện hành đang quy định.

Điều hành nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho biết, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có văn bản gửi Quốc hội, đề nghị các đại biểu Quốc hội quan tâm, tạo điều kiện cho việc điều hành dự án đầu tư công "linh hoạt, hiệu quả, sát thực tế."

Chính phủ muốn giữ theo phương án hiện hành, nghĩa là Chính phủ quyết định danh mục dự án, còn Quốc hội quyết định danh mục chương trình mục tiêu, dự án trọng điểm quốc gia. Biểu quyết phương án 1, chỉ có 48,35% đại biểu tán thành, vì kết quả biểu quyết chưa quá bán nên Quốc hội tiếp tục biểu quyết phương án 2. Kết quả chỉ có 42,56% đại biểu tán thành phương án 2. Như vậy, theo kết quả biểu quyết, cả hai phương án về thẩm quyền quyết định danh mục dự án đầu tư công trung hạn thuộc về Quốc hội hay Chính phủ "đều không quá bán."

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị cơ quan soạn thảo, thẩm tra tiếp tục tiếp thu, giải trình để đưa ra phương án phù hợp nhất.

>>>Xem thêm Không bổ sung thủ tục về thuế nếu pháp luật không quy địnhXử lý nợ thuế không có khả năng thu hồi: cần ban hành nghị quyết của Quốc hội <<<

Về thời gian trình và thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước, dự thảo Luật trình 2 phương án. Phương án 1: Chính phủ trình Quốc hội dự thảo kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn mới tại kỳ họp cuối năm của năm thứ năm của nhiệm kỳ để Quốc hội cho ý kiến. Quốc hội khóa mới sẽ quyết định đầu tư công trung hạn giai đoạn mới.

Phương án 2 giữ như quy định của Luật Đầu tư công hiện hành, Quốc hội khóa trước sẽ quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn kế tiếp tại kỳ họp cuối năm của năm thứ năm của nhiệm kỳ. Qua lấy phiếu 65,7% đại biểu tán thành phương án 1: Chính phủ trình Quốc hội dự thảo kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn mới tại kỳ họp cuối năm của năm thứ năm của nhiệm kỳ để Quốc hội cho ý kiến.

Theo chương trình, Quốc hội sẽ biểu quyết dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi) vào sáng 13/6.

Có nên đăng ký nhiều ngành nghề khi thành lập doanh nghiệp?

Có nên đăng ký nhiều ngành nghề khi thành lập doanh nghiệp?

Đăng ký thành lập công ty không còn là thủ tục quá lạ lẫm với xã hội, nhất là thời ký khởi nghiệp. Theo thống kê của Sở kế hoạch và đầu tư thì số lượng ngành nghề đăng ký của 1 doanh nghiệp phần lớn là 30 ngành, trong đó ngành nghề thực chất kinh doanh chỉ 1/10 trong số đó. Trong nội dung dưới đây Chúng tôi xin chia sẻ câu trả lời về việc đăng ký ngành nghề kinh doanh cho công ty mới mà Qúy khách hàng thường qaun tâm trong thời gian qua.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 đăng ký nhiều ngành nghề khi lập công ty?

Một số lưu ý lựa chọn ngành nghề khi thành lập doanh nghiệp

1. Dựa trên lĩnh vực kinh có tiềm năng trong tương lai

Thông thường, khi chọn ngành để hoạt động sản xuất kinh doanh chúng ta sẽ đăng ký ngành nghề chủ đạo của đơn vị mình. Nhưng xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng do đó khi đăng ký thành lập doanh nghiệp mọi người nên đăng ký thêm một số ngành tiềm năng có cơ hội phát triển trong tương lai để thuận tiện cho việc mở rộng kinh doanh sau này.

2. Dựa trên quy định của pháp luật

Hầu hết mọi công dân đều có quyền đăng ký tất cả các ngành nghề để hoạt động, tuy nhiên cần phải tuân thủ quy định của pháp luật về mã ngành. Phải xem xét cẩn thận liệu ngành nghề mà bạn chọn có được phép kinh doanh hay không để tránh những phiền phức về sau.

3. Dựa trên sự tương đồng của ngành nghề

Một lưu ý nữa dành cho mọi người khi đăng ký ngành nghề kinh doanh để thành lập doanh nghiệp là chọn những ngành có sự tương đồng với nhau. Tránh tình trạng chọn nhiều ngành khi đăng ký để tiết kiệm thời gian bổ sung, chỉnh sửa nhưng chúng lại lệch nhau rất nhiều. Một giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có quá nhiều ngành nghề mà chúng lại chẳng liên quan sẽ khiến uy tín, tầm vóc doanh nghiệp bị giảm sút rất nhiều khi đối tác nhìn vào. Do đó, nếu muốn đăng ký nhiều ngành hãy chọn những ngành có sự tương đồng với nhau.

4. Dựa trên sự đồng thuận của các thành viên

Và yếu tố cuối cùng quyết định đến việc lựa chọn ngành nghề khi thành lập doanh nghiệp là những thành viên góp vốn trong công ty phải có sự đồng thuận với nhau. Mọi người phải cùng nhau lựa chọn những ngành nghề phù hợp để tất cả đều có thể làm việc cùng nhau. Nếu không sẽ xảy ra những xung đột không đáng có làm ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của đơn vị.

Quay lại chủ để chính, để giúp mọi người có cách nhìn hợp lý nhất về việc lựa chọn ngành nghề Chúng tôi xin đưa ra một số phân tích liên quan đến việc "Có nên đăng ký nhiều ngành nghề khi thành lập công ty để quý bạn đọc tiện tham khảo"

1. Đăng ký nhiều ngành nghê để tránh phải thay đổi giấy phép kinh doanh
Có rất nhiều người điều hành doanh nghiệp trong đó người thì luôn bận mải công việc nên không đủ thời gian thực hiện các thủ tục hành chính, người lập công ty để kinh doanh tay trái nên không muốn tốn chi phí thay đổi giấy phép kinh doanh, người thì lập công ty khi chưa có sự xác định trọng tâm kinh doanh chủ đạo,... Nói chung có nhiều lý do để quyết định đăng ký càng nhiều càng tốt ngành nghề kinh doanh để sau này đỡ phải bổ sung. Đây có thể nói là một cái sai rất nghiêm trọng bởi
- Theo Luật doanh nghiệp 2014 ngành nghề kinh doanh công ty không hiển thị trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhưng vẫn được Phòng đăng ký kinh doanh ghi nhận trên Giấy xác nhận thông tin doanh nghiệp và niêm yết công khai trên cổng thông tin doanh nghiệp quốc gia. Công ty là công cụ để tạo dựng sự nghiệp và phát triển kinh doanh do đó chúng ta cần chau chuốt và tận tâm cho nó. Việc đăng ký nhiều ngành nghề làm cho tờ bản năng lực công ty trông có vẻ "chợ" và loãng khi đối tác muốn nắm bắt lĩnh vực kinh doanh chính của doanh nghiệp, nếu vậy việc đăng ký nhiều ngành nghề lại có tác dụng ngược theo tiêu chí niềm tin ở các đối tác.
- Đăng ký nhiều ngành nghề nhưng chắc gì các bạn đã biết lĩnh vực nào công ty đang được phép kinh doanh, lĩnh vực nào thì không? Đây là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt những sai phạm như: xuất hóa đơn khi chưa đăng ký kinh doanh, chưa đủ điều kiện kinh doanh nhưng vẫn kinh doanh,...
Vậy nên tốt nhất các bạn hãy đăng ký ít ngành nghề thôi và nên đăng ký 1 bộ ngành nghề cũng loại ví dụ: Công ty về xây dựng thì đừng đăng ký các ngành nghề như: Chăn nuôi lợn,... phản cảm lắm. Sau đó mình bỏ công nghiên cứu qua thông tư hướng dẫn thủ tục thay đổi giấy phép kinh doanh để khi cần thêm ngành nghề nào mình tự tiến hành thủ tục, sẽ không tốn kém và mất thời gian lắm đâu.

2. Đăng ký nhiều ngành nghề để tránh trường hợp sau này pháp luật thắt chặt không đăng ký được nữa
Một số người bạn tôi nói rằng biết năm 2018 thắt chặt về ngành nghề: Cung ứng lao động,... thì họ đã đăng ký trước rồi. Tuy nhiên các bận nên nhớ ngành nghề có trên Giấy phép kinh doanh chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là công ty phải đáp ứng các điều kiện theo pháp luật chuyên ngành mới được kinh doanh. Không đủ 2 điều kiện này kinh doanh là bị tuýt còi ngay. Khi quy định mới áp dụng thì luôn có điều khoản kế thừa, điều khoản chuyển tiếp để áp dụng cho doanh nghiệp đăng ký ngành nghề trước và sau khi văn bản pháp luật có hiệu lực, do đó cách đăng ký đón đầu không giúp cho doanh nghiệp có được các lợi ích là được bỏ qua các điều kiện về kinh doanh.

3. Do không tìm được mã ngành tương ứng nên cứ la lá ngành nghề của mình là mình đăng ký
Quan điểm này cũng có cái hay nhưng cái dở thì không ít. Đã là ngành nghề chủ đạo thì bạn nên tìm hiểu kỹ và đảm bảo khi đăng ký ngành nghề đáp ứng đủ sau này kinh doanh mình không có lo lắng gì nữa chứ như một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ: Chống mối mọt,... không biết cho vào mã ngành nào nên đăng ký thêm ngành nghề: dịch vụ hỗ trợ trồng trọt vì trong 337 có từ mọt ở mã ngành này. Đăng ký như thế có ngày kinh doanh chính đáng vẫn bị phạt như thường.

Kết luận:

Pháp luật hiện nay không có quy định về việc doanh nghiệp được đăng kí tối đa bao nhiêu ngành nghề. Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp chỉ đăng ký ngành nghề kinh doanh hoạt động thực, và sẽ phát triển trong tương lai (phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp). Hơn nữa, việc muốn đăng kí số lượng ngành nghề là bao nhiêu thì cần phải xem xét tiềm lực, khả năng của công ty bởi nhiều ngành nghề phải đáp ứng điều kiện trước khi đăng ký thành lập.
Trân trọng!
 
Cơn sốt ‘điêu tàn’ Đà Nẵng, tiền tỷ chôn cứng đại gia tháo chạy

Cơn sốt ‘điêu tàn’ Đà Nẵng, tiền tỷ chôn cứng đại gia tháo chạy

Thị trường nhà đất ảm đạm, các chủ đầu tư, nhà phân phối đang hướng đến những vùng đất mới bỏ lại Đà Nẵng tiêu điều.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<
 
bất động sản đà nẵng rớt giá

Chưa đầy nửa năm mất 600 triệu

Hơn 6 tháng trôi qua, sau khi thị trường đất Đà Nẵng tụt dốc không phanh và đóng băng, tình hình bất động sản tại đây “rối như canh hẹ”.

Khảo sát một vòng thông tin rao bán, PV có ngay giá đất từ một người đàn ông tên B. đang kinh doanh đất tại Đà Nẵng. Theo người này, giá đất hiện có sự chênh lệch rất lớn so với thời điểm sau Tết Nguyên đán.

golden hill điêu đứng, rớt giá mạnh

Dự án Golden Hill khiến rất nhiều người lâm vào cảnh nợ nần chồng chất.

Chẳng hạn, tại khu dân cư Nam Cẩm Lệ, diện tích một lô đất 100 m2 với mặt tiền 5,5m có giá dao động từ 2,7 tỷ đến 3,7 tỷ tùy thuộc vào hướng nhà, vị trí và mặt tiền rộng bao nhiêu.

Đi sâu vào xem một lô đất trên đường Đoàn Ngọc Nhạc có diện tích 100m2, đường mặt tiền rộng 7,5m có giá 2,95 tỷ (chưa thương lượng). Anh B. cho hay, trước đây, khi Đà Nẵng vào giai đoạn sốt đất, lô này có giá 3,3 tỷ nhưng nhiều người vẫn giành giật nhau để mua. Nay giá đã giảm nhưng rao mãi vẫn chưa ai hỏi.

Dự án Golden Hill (quận Liên Chiểu) từng khiến nhiều người thức trắng đêm để bán vì “cơn sốt” đất lên đỉnh điểm cũng đang giảm giá sát đáy. Anh B. cho biết, một lô đất khu A của dự án này diện tích 125 m2, hướng Đông Nam, đã có sổ đỏ giá 2,7 tỷ, nhưng khi sốt đất giá lên tới 3,4 tỷ đồng, chênh nhau đến 600 triệu trong vòng vài tháng.

 golden hill rớt giá mạnh

Bỏ chốn cũ, tìm sân chơi mới

Việc giá đất sụt giảm liên tục và chững lại có rất nhiều nguyên nhân, trong đó lý do quan trọng nhất là việc các “cò đất” hợp tác đẩy giá lên cao, làm cho thị trường bung giá. Sau khi thu được khoản lời lớn, chính những người này rút đi để lại cảnh tượng tiêu điều. Nhiều người phải bán tháo chịu lỗ để trả nợ ngân hàng.

Chị Nguyễn Phương T. (Cẩm Lệ, Đà Nẵng) là một trong những người đầu tư vào đất Đà Nẵng trong giai đoạn đỉnh điểm, sau khi đất giảm liên tục chị lao đao tìm mọi cách bán bù lỗ.

Chị T. giãi bày: “Tôi có vay tiền ngân hàng mua 2 lô đất tại dự án Golden Hill vào thời điểm đất đang sốt sau Tết âm lịch, mỗi lô 2,8 tỷ đồng. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, giá đất đã giảm xuống còn 2,4 tỷ.

giá đất khu dân cư hòa xuân dậm chân tại chỗ

Dự án khu dân cư nam Cẩm Lệ cũng dậm chân tại chỗ.

Biết là lỗ nhưng tôi phải chấp nhận bán để trả nợ ngân hàng vì lãi ngày càng tăng, số nợ ngày càng lờn mà đỏ mắt vẫn không tìm được người mua.”

Phân tích rõ hơn về lý do bất động sản Đà Nẵng đóng băng, một chuyên gia bất động sản tại Đà Nẵng lý giải: “Thị trường nhà đất Đà Nẵng tăng mạnh cuối năm 2018 và quý 1 năm nay là do cò đẩy giá và thao túng thị trường. Giá tăng quá cao và tăng ảo không phù hợp với cung cầu. Điều này gây bất ổn xã hội nên chính quyền địa phương đã vào cuộc và có biện pháp mạnh để ổn định thị trường.”

Chuyên gia này cho rằng, cần có thời gian để thị trường nhà đất Đà Nẵng điều chỉnh, cũng như nhà đầu tư lấy lại niềm tin qua các vụ lùm xùm về mua bán dự án thời gian vừa qua.

Kết cục của việc giá đất xuống sâu là các nhà đầu tư dịch chuyển dần sang các tỉnh khác. Nhiều dự án ở các địa phương lân cận như Quảng Bình, Bình Định, Phú Yên,… đang được chú trọng đầu tư để giúp kinh tế các tỉnh này phát triển đột phá đã lôi kéo những người có tiềm lực xuống tiền. Vì thế, bất động sản Đà Nẵng chưa biết bao giờ mới thoát cảnh chợ chiều.

Áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt trong y tế, giáo dục và dịch vụ công

Áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt trong y tế, giáo dục và dịch vụ công

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành văn bản số 6422/NHNN-TT yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố thực hiện một số công việc để đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công. 

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 thanh toán không dùng tiền mặt

Theo đó, Văn bản nêu rõ, các trường học, bệnh viện và đơn vị cung ứng dịch vụ công lắp đặt thiết bị chấp nhận thẻ, thanh toán ứng dụng QR để cho phép phụ huynh, học sinh, người bệnh, người dân... sử dụng thiết bị di động, thẻ ngân hàng để thanh toán (tương tự như việc thanh toán tiền mua hàng hóa tại các cửa hàng, siêu thị).

Đồng thời, xây dựng hệ thống công nghệ thông tin cho phép ghi nhận thông tin cần thanh toán (số tiền, mã hồ sơ/khách hàng...) để người sử dụng truy cập các ứng dụng trên internet, mobile và thực hiện trả tiền thông qua các sản phẩm dịch vụ thanh toán tiện ích của ngân hàng tương tự như việc thanh toán hóa đơn tiền điện, cước viễn thông... 

lợi ích khi không dùng tiền mặt

Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiên cứu, áp dụng chính sách phí dịch vụ thanh toán hợp lý và triển khai các chương trình ưu đãi, khuyến mại.

Chẳng hạn như: miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán cho khách hàng, các cơ sở y tế, giáo dục, đơn vị cung ứng dịch vụ công trong thời gian đầu triển khai; áp dụng các chương trình tặng quà, tích điểm, hoàn tiền, tham gia quay số trúng thưởng... cho những khách hàng đăng ký, sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt...

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố đề xuất giải pháp với UBND tỉnh, thành phố và phối hợp với các sở, ban ngành và tổ chức cung ứng dịch vụ công trên địa bàn áp dụng các phương án triển khai thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công, như trường học, bệnh viện và các đơn vị cung ứng dịch vụ công thông báo số tài khoản của đơn vị mình mở tại ngân hàng để tổ chức, cá nhân chuyển tiền thanh toán dịch vụ công bằng các dịch vụ thanh toán mà ngân hàng đang cung ứng (chuyển tiền qua mobile, thanh toán qua các kênh ngân hàng điện tử...). 

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có văn bản chỉ đạo các đơn vị cung ứng dịch vụ công trên địa bàn (cơ sở y tế, giáo dục, cơ quan Bảo hiểm xã hội, công ty nước sạch, điện lực, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính...) xây dựng hệ thống công nghệ thông tin, phần mềm ứng dụng có khả năng kết nối với phần mềm ứng dụng của các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để tổ chức, cá nhân sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công.

Bộ Tài chính đảm bảo nguồn thanh toán cho các dự án đầu tư công

Bộ Tài chính đảm bảo nguồn thanh toán cho các dự án đầu tư công

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký Công điện số 1042/CĐ-TTg chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019. 

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 thanh toán cho dự án đầu tư công

Công điện nêu rõ: Để triển khai Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực; tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 6,76%, cao hơn cùng kỳ giai đoạn 2011 - 2017. 

Tuy nhiên, đến nay vẫn còn 35.148 tỷ đồng kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2019 (bằng 9,3% kế hoạch vốn được Quốc hội thông qua) chưa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ giao vốn.

Tình hình giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước 7 tháng đầu năm 2019 rất thấp, chỉ đạt 32,27% kế hoạch được Quốc hội thông qua, trong đó giải ngân vốn nước ngoài chỉ đạt 10,96%, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2018 (cùng kỳ đạt 37,64%, vốn nước ngoài đạt 22,63%).

Có 35 bộ, cơ quan trung ương và 26 địa phương có tỷ lệ giải ngân 7 tháng đạt dưới 40%; trong đó 18 bộ, cơ quan trung ương và 01 địa phương dưới 20% kế hoạch được Quốc hội giao. Tỷ lệ giải ngân thấp làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, ảnh hưởng đến các ngành, lĩnh vực, tăng trưởng kinh tế, việc triển khai các chính sách tài khóa, tiền tệ, tác động đến môi trường đầu tư, kinh doanh và các hiệp định đã ký kết. 

Bên cạnh một số nguyên nhân khách quan thì nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công hiện nay là do yếu tố chủ quan, nhất là những tồn tại, yếu kém trong công tác quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện, như: giao vốn chậm (cả trung ương và địa phương); dự kiến nhu cầu vốn chưa sát với khả năng thực tế giải ngân; công tác thiết kế thi công, đấu thầu lựa chọn nhà thầu chậm; việc giải phóng mặt bằng chưa được giải quyết dứt điểm; thanh, quyết toán còn chậm; công tác phối hợp và chỉ đạo điều hành ở một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương chưa chủ động, thiếu quyết liệt; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu chưa được đề cao. 

Nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân hết kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019 như mục tiêu đã đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2019, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 3/8/2017 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công; các Nghị quyết Phiên họp thường kỳ của Chính phủ; Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 1/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp tập trung tháo gỡ cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 6 tháng và cả năm 2019 và các chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ vể đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công năm 2019. 

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan rà soát, làm rõ nguyên nhân và trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 8/2019 việc giao hết kế hoạch đầu tư vốn ngân sách trung ương còn lại của năm 2019 (35.148 tỷ đồng); chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc chậm phân bổ số vốn còn lại, chú trọng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, thanh tra tình hình thực hiện giải ngân vốn đầu tư công theo quy định pháp luật; thực hiện điều chuyển theo thẩm quyền hoặc tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/10/2019 để điều chuyển hoặc trình cấp có thẩm quyền điều chuyển kế hoạch vốn đầu tư từ những dự án không có khả năng giải ngân sang dự án có khả năng giải ngân tốt hơn; từ bộ, cơ quan trung ương, địa phương giải ngân chậm sang bộ, cơ quan trung ương, địa phương có nhu cầu bổ sung vốn. 

Đối với số vốn không có khả năng giao kế hoạch năm 2019, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/9/2019 để thu hồi, dự kiến tổng nhu cầu sử dụng vốn đầu tư công năm 2020 nguồn ngân sách nhà nước, bảo đảm phù hợp với khả năng giải ngân thực tế của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương. 

Bộ Tài chính chỉ đạo các đơn vị chức năng đảm bảo nguồn thanh toán cho các dự án; rút ngắn thời gian kiểm soát chi, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định; phối hợp với chủ đầu tư kịp thời xử lý vướng mắc phát sinh về thủ tục thanh toán, đàm phán, ký kết hiệp định, rút vốn từ nhà tài trợ theo quy định; thống nhất số liệu thống kê về giải ngân nguồn vốn nước ngoài."

Đồng thời, Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp kịp thời với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc rà soát, tổng hợp giao, điều chuyển kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2019; bảo đảm đúng thời gian theo Quy chế làm việc của Chính phủ); công khai tình hình thực hiện và tỷ lệ giải ngân của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương trên các phương tiện thông tin đại chúng); rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10/2019 về các vướng mắc (nếu có) trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và công tác đàm phán hiệp định từ khi Luật Quản lý nợ công năm 2017 có hiệu lực; nguyên nhân và giải pháp khắc phục. 

Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương lập danh mục dự án trọng điểm, phân công lãnh đạo theo dõi đôn đốc quyết liệt); tập trung chỉ đạo chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng, công tác đấu thầu; hoàn thiện các hồ sơ, thủ tục thanh toán; xử lý nghiêm và kịp thời các nhà thầu vi phạm tiến độ, chất lượng xây dựng công trình, vi phạm các điều khoản hợp đồng đã ký kết); theo dõi chặt chẽ tình hình giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công của từng dự án; trước ngày 25/9/2019 có văn bản gửi các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính về tiến độ thực hiện, khả năng giải ngân vốn đầu tư công trong năm 2019 và đề xuất phương án cắt, giảm, điều chuyển để xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định); chấp hành nghiêm quy định về chế độ báo tình hình thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công. 

Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính chuẩn bị các nội dung cần thiết để tổ chức trong nửa cuối tháng 9 năm 2019 Hội nghị trực tuyến cả nước về các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2019 do Thủ tướng Chính phủ chủ trì với các bộ, cơ quan và địa phương. 

Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng các đơn vị sử dụng vốn đầu tư công chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm các nhiệm vụ tại Công điện này; kiểm điểm rõ trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm, cản trở, gây chậm trễ trong triển khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.

 
Hai quan điểm về điều hành tỷ giá

Hai quan điểm về điều hành tỷ giá

Rất ít khả năng Việt Nam bị Mỹ đưa vào danh sách quốc gia thao túng tiền tệ nên có thể xem xét giảm giá VND thêm để hỗ trợ xuất khẩu. Từ khía cạnh khác, việc giảm giá VND chưa hẳn đã hỗ trợ tốt cho xuất khẩu, trong khi ổn định tỷ giá để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô là điều nên làm. Đây là hai quan điểm trái chiều về tỷ giá hiện nay.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 điều hành tỷ giá

Có thể vào danh sách thao túng tiền tệ?

Sau khi Mỹ quy kết Trung Quốc thao túng tiền tệ ngày 5/8, đã có ý kiến lo ngại Việt Nam có khả năng bị chuyển từ danh sách theo dõi sang danh sách chính thức về việc này. Thuật ngữ “quốc gia thao túng tiền tệ" được Bộ Tài chính Mỹ định nghĩa là một quốc gia cố ý điều chỉnh tỷ giá để tác động đến cán cân thanh toán hoặc đạt được lợi thế cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế.

Theo tiêu chí quy định đã được điều chỉnh của Mỹ, một đối tác thương mại bị coi là thao túng tiền tệ nếu thặng dư thương mại ít nhất 20 tỷ USD với Mỹ, thặng dư tài khoản vãng lai tương đương ít nhất 2% GDP và thị trường ngoại hối luôn chịu sự chi phối một chiều.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng BIDV, cho rằng, hiện tại, Việt Nam không bị Mỹ "gắn mác" thao túng tiền tệ song đã ở trong danh sách 21 nước thuộc diện theo dõi và cũng là quốc gia có khả năng bị chuyển sang nhóm các nước thao túng tiền tệ do Việt Nam đã chạm hai ngưỡng là cán cân thương mại với Mỹ thặng dư trên 20 tỷ USD và thặng dư tài khoản vãng lai trên 2% GDP. Đây là rủi ro đối với Việt Nam trong những lần rà soát tiếp theo của Bộ Tài chính Mỹ (mà gần nhất là tháng 9/2019).

Trong khi đó, ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia ngân hàng cho rằng: “Ít có khả năng Việt Nam bị đưa vào danh sách thao túng tiền tệ. Trước hết, quy mô xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ là tương đối thấp so với nhiều quốc gia khác. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện chính sách tỷ giá thận trọng trong thời gian qua, bằng chứng là tỷ giá USD/VND biến động không đáng kể từ đầu năm đến nay”.

Mặt khác, theo vị chuyên gia này, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung do Mỹ “châm ngòi” không đơn thuần về khía cạnh ngoại thương mà nhiều khả năng là định hướng chính trị của Tổng thống Donald Trump trước thềm cuộc tranh cử năm nay. Trong khi đó, điều này không xảy ra với Việt Nam. “Dù vậy, phải rất cẩn thận với việc hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và gian lận xuất xứ để tìm đường sang Mỹ. Nếu việc này xảy ra nhiều thì có nguy cơ Mỹ quay trở lại trừng

Từ lập luận nêu trên, ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, cần giảm giá VND hơn nữa để giảm áp lực với giá cả hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi các đồng tiền khác trên thế giới có xu hướng giảm giá.

Còn theo TS. Đặng Đức Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), chưa có đánh giá cụ thể cho thấy việc giảm giá VND sẽ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Bởi lẽ, VND giảm giá thì giá bán hàng xuất khẩu có thể giảm, nhưng chúng ta nhập khẩu nhiều nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu nên nếu giá thành rẻ mà không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu thì cũng không hẳn là có lợi. Trong khi đó, ổn định kinh tế vĩ mô và đề phòng khả năng Mỹ quy kết vào danh sách thao túng tiền tệ là điều cần ưu tiên trong giai đoạn hiện nay. 

Cùng quan điểm này, TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị, Việt Nam cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý; cần thực hiện linh hoạt và cần giải trình với Mỹ việc điều hành tỷ giá trong thời gian qua là phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế cũng như đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không lành mạnh.

Đặc biệt, Việt Nam cần hết sức bình tĩnh, không để bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh tiền tệ nếu có và không nên phá giá đồng tiền vì điều chỉnh tỷ giá liên quan đến nhiều mặt của nền kinh tế  (không chỉ liên quan đến xuất khẩu, mà còn nhập khẩu, nợ nước ngoài, áp lực lạm phát…) và có thể tăng rủi ro bị Mỹ “gắn mác” thao túng tiền tệ.

Thay vào đó, Việt Nam cần kiên định chính sách tỷ giá chủ động, linh hoạt, tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối, kết hợp với truyền thông một cách hiệu quả nhằm kiểm soát yếu tố tâm lý, rủi ro lan truyền.

phạt Việt Nam. Đây là vấn đề đáng quan ngại hơn là tỷ giá USD/VND”, ông Hiếu nói. 

Lợi và hại từ việc giảm giá VND

Từ lập luận nêu trên, ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, cần giảm giá VND hơn nữa để giảm áp lực với giá cả hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi các đồng tiền khác trên thế giới có xu hướng giảm giá.

Còn theo TS. Đặng Đức Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), chưa có đánh giá cụ thể cho thấy việc giảm giá VND sẽ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Bởi lẽ, VND giảm giá thì giá bán hàng xuất khẩu có thể giảm, nhưng chúng ta nhập khẩu nhiều nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu nên nếu giá thành rẻ mà không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu thì cũng không hẳn là có lợi. Trong khi đó, ổn định kinh tế vĩ mô và đề phòng khả năng Mỹ quy kết vào danh sách thao túng tiền tệ là điều cần ưu tiên trong giai đoạn hiện nay. 

Cùng quan điểm này, TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị, Việt Nam cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý; cần thực hiện linh hoạt và cần giải trình với Mỹ việc điều hành tỷ giá trong thời gian qua là phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế cũng như đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không lành mạnh.

Đặc biệt, Việt Nam cần hết sức bình tĩnh, không để bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh tiền tệ nếu có và không nên phá giá đồng tiền vì điều chỉnh tỷ giá liên quan đến nhiều mặt của nền kinh tế  (không chỉ liên quan đến xuất khẩu, mà còn nhập khẩu, nợ nước ngoài, áp lực lạm phát…) và có thể tăng rủi ro bị Mỹ “gắn mác” thao túng tiền tệ.

Thay vào đó, Việt Nam cần kiên định chính sách tỷ giá chủ động, linh hoạt, tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối, kết hợp với truyền thông một cách hiệu quả nhằm kiểm soát yếu tố tâm lý, rủi ro lan truyền.

Tháo gỡ những “điểm nghẽn” khiến đầu tư công chậm giải ngân

Tháo gỡ những “điểm nghẽn” khiến đầu tư công chậm giải ngân

Nguyên nhân dẫn đến giải ngân vốn đầu tư công chậm chủ yếu là do một số bộ, ngành, địa phương chưa chủ động, tích cực trong chỉ đạo triển khai...

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 đầu tư công chậm dãi ngân

Tiền đã vay được nhưng không tiêu được

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu, trong 7 tháng qua, cả nước giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công ước đạt 134.494 tỷ đồng, đạt 31,32% so với kế hoạch Quốc hội giao, thấp nhất trong cùng kỳ những năm gần đây.

Trong đó, tỉ lệ giải ngân vốn trong nước cũng thấp, chỉ đạt 35% kế hoạch Quốc hội giao. Đặt biệt, tỉ lệ giải ngân vốn vay từ nước ngoài rất thấp, chỉ đạt 8,6% kế hoạch của năm.

Thứ trưởng Trần Văn Hiếu chỉ rõ: Nguyên nhân chủ yếu là do một số bộ, ngành, địa phương chưa chủ động, tích cực trong chỉ đạo triển khai và một phần do các dự án, gói thầu mới cần được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về đấu thầu, xây dựng, đất đai...

Tại cuộc họp với một số bộ, ngành và lãnh đạo hai thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để đốc thúc tình hình, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, vốn đang rất chậm trong thời gian qua, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã phê bình Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) chậm trễ trong tổng hợp, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ giao vốn đầu tư công, đồng thời không báo cáo cụ thể các nguyên nhân chậm giao vốn và giải pháp khắc phục.

"Kiểm toán Nhà nước có kết luận không bố trí được 2.400 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các vùng từ tháng 9 năm ngoái mà tới nay Bộ KH&ĐT chưa trình, sửa được Quyết định số 1256 của Thủ tướng. Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ của Bộ phải chịu trách nhiệm về việc này”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chỉ rõ.

Ngoài ra, với việc giao vốn chậm cho các địa phương, bộ ngành hay doanh nghiệp Nhà nước thực hiện các dự án khác, ông Vương Đình Huệ cũng nêu rõ trách nhiệm của lãnh đạo Bộ KH&ĐT và Vụ trưởng của các Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân, Vụ Kinh tế  đối ngoại trong đốc thúc, thẩm định và tổng hợp các dự án.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ giao Văn phòng Chính phủ chủ trì soạn thảo Công điện của Thủ tướng Chính phủ về đốc thúc đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và cho biết ngày 15/9 tới, Chính phủ sẽ họp trực tuyến toàn quốc về vấn đề này.

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, điểm nghẽn trong đầu tư công đã dẫn tới nghịch lý là tiền đã vay được nhưng không tiêu được, cho dù nhu cầu đầu tư của đất nước rất lớn, cơ sở hạ tầng còn hết sức hạn chế, cắt khúc và đã trở thành những nút thắt, rào cản cho sự phát triển kinh tế.

Việc có tiền, có kế hoạch nhưng không thực hiện được hoặc làm chậm, đã tăng thêm khó khăn cho nền kinh tế. Thực tế này đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương cần tích cực chỉ đạo quyết liệt các chủ đầu tư khẩn trương xử lý dứt điểm những dự án còn nhiều vướng mắc; chủ động phối hợp các cấp, các ngành liên quan xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình giải ngân vốn, TS. Nguyễn Đức Kiên nêu ý kiến.

Cần "chấm điểm" dự án

Về vấn đề này, PGS. TS. Hoàng Văn Cường - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nêu quan điểm: Trong Luật Đầu tư công có nguyên tắc những dự án như thế nào sẽ được ưu tiên lựa chọn đưa vào kế hoạch hàng năm để phân bổ. Thí dụ, những dự án nào là trọng điểm quốc gia; những dự án thuộc về chương trình mục tiêu hoặc những dự án thuộc giai đoạn có chính sách ưu tiên như phát triển dân tộc, phát triển xóa đói giảm nghèo… thì sẽ theo nguyên tắc ưu tiên.

Như vậy, ông Cường cho rằng, dựa vào nguyên tắc đó để lựa chọn dự án được ưu tiên trước để đưa vào danh mục đầu tư hàng năm. "Tuy nhiên, hiện nay nếu chúng ta chỉ dừng lại ở cách phân loại như thế thì vẫn chưa được cụ thể bởi khi ở cùng hạng mục như vậy có rất nhiều dự án cùng được ưu tiên", TS. Hoàng Văn Cường nêu rõ.

Theo ông Cường, câu chuyện ở đây là chưa có những định lượng để phân loại dự án này quan trọng hơn dự án kia, hay ngược lại; đó chính là tiêu chí để đo lường, phân loại các dự án quan trọng hơn và xếp thứ tự ưu tiên.

"Thông thường, khi có tiêu chí định lượng, chúng ta sẽ dùng tiêu chí đó để cho điểm, dự án nào điểm cao đương nhiên sẽ được chọn trước và ngược lại dự án điểm thấp sẽ chọn sau. Như vậy, nếu chúng ta có tiêu chí định lượng sau đó cho điểm theo tiêu chí thì các đơn vị trình dự án sẽ biết ngay dự án của mình có được ưu tiên hay không và có được đưa vào kế hoạch đầu tư hay không hoặc nếu muốn được đưa vào, dự án sẽ phải thay đổi những gì để điểm được nâng cao lên", TS. Hoàng Văn Cường nói.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu Bộ KH&ĐT trình Thủ tướng Chính phủ phân bổ hết 35.000 tỷ đồng vốn chưa giao trong tháng 8 này; trước 30/9/2019 trình Thủ tướng Chính phủ việc huỷ kế hoạch giao vốn với các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư dự án “không chịu” giải ngân; trước 10/10/2019 báo cáo Thủ tướng việc điều chỉnh kế hoạch giải ngân vốn từ dự án chậm tiến độ sang dự án đang cần vốn và có tiến độ giải ngân cao, từ các bộ, ngành và địa phương có tỉ lệ giải ngân thấp sang các bộ, ngành có nhu cầu bổ sung vốn và tỉ lệ giải ngân cao; rà soát, tính toán kế hoạch đầu tư công năm 2020 sát thực tế từng bộ, ngành địa phương.

 
[ Top 10] Công Ty Du Lịch Đà Nẵng Uy Tín Và Chuyên Nghiệp Nhất

[ Top 10] Công Ty Du Lịch Đà Nẵng Uy Tín Và Chuyên Nghiệp Nhất

Đà Nẵng nổi tiếng là thành phố của du lịch. Để có một tour du lịch chất lượng và ý nghĩa thì đừng quên chọn cho mình một công ty du lịch Đà Nẵng uy tín. Danh sách top 10 công ty du lịch sau từ DNG Business sẽ giúp bạn có một hành trình tuyệt vời.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 top 10 công ty du lịch đà nẵng

1. Công ty Cổ Phần Du Lịch Viet Dragon

  • Địa chỉ: Số 253 Lê Thanh Nghị, P. Hòa Cường Nam, Q. Hải Châu, TP. Đà Nẵng
  • Hotline: 0964.39.83.45
  • Website: http://vietdragondn.com/

Đây là một trong những công ty du lịch uy tín mà DanangAZ.com muốn giới thiệu đến bạn. Viet Dragon – Công ty chuyên tổ chức các chương trình du lịch trong và ngoài nước theo yêu cầu, với đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo, nhiệt tình, có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực tổ chức các chương trình du lịch. Sẽ mang đến cho Quý khách hàng sự hài lòng và thoải mái nhất.

Viet Dragon cung cấp cho Quý khách hàng các dịch vụ như:
• Du lịch trong nước
• Du lịch quốc tế
• Tổ chức sự kiện
• Tổ chức hội nghị
• Teambuilding
• Cho thuê xe du lịch
• Đại lý vé máy bay
• Dịch vụ Visa, Passport
• Dịch vụ đặt phòng khách sạn

Với mức giá cạnh tranh, dịch vụ chất lượng và cách tổ chức chuyên nghiệp – Viet Dragon sẽ luôn là nơi để Quý khách hàng gửi trọn niềm tin và sử dụng dịch vụ !!!

Công ty du lịch Việt Dragon

2. Đại Lí Du Lịch Say Hi – Du Lịch Đà Nẵng

Khi du lịch tại Đại lí du lịch Say Hi Đà Nẵng, bạn sẽ cảm thấy vô cùng tiện ích và thoải mái. Với mức giá ưu đãi cực tốt cùng đội ngũ nhân viên nhiệt tình chu đáo, Say Hi luôn không ngừng cố gắng phát triển dịch vụ cũng như đem đến cho bạn những chuyến vui chơi tiện nghi, hấp dẫn nhất.

Công ty du lịch Sayhi

3. Công Ty Du Lịch Vietravel – Chi Nhánh Đà Nẵng

  • Địa chỉ: 58 Pasteur, Quận Hải Châu, Đà Nẵng
  • Điện thoại: (84.236) 38 63 544
  • Website: vietravel.com

Trên cơ sở phát triển bền vững hơn 20 năm hình thành và phát triển, Vietravel hướng đến trở thành trở thành 1 trong 10 Tập đoàn lữ hành hàng đầu khu vực Châu Á và là Công ty đa quốc gia vào năm 2020. Với sứ mệnh mang lại cảm xúc thăng hoa cho du khách trong mỗi hành trình. Vietravel trở thành người bạn đồng hành cùng du khách trong mọi hành trình du lịch và tạo ra những giá trị tốt đẹp. Tại Vietravel, du lịch không những là hành trình khám phá, mà còn là hành trình sẻ chia. Vietravel luôn khẳng định khách hàng là trung tâm của mọi hoạt động kinh doanh mà Vietravel hướng đến.

Công ty du lịch Viettravel

4. Công ty Cổ Phần Du Lịch Việt Nam Vitours

  • Địa chỉ: 83 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận Hải Châu, Đà Nẵng
  • Điện thoại: (0236) 3823660
  • Website: vitours.com.vn

Vitours là một trong những công ty du lịch Đà Nẵng uy tín. Có mạng lưới chi nhánh rộng khắp cả nước. Sở hữu hệ thống 5 khách sạn 3* tại trung tâm Đà Nẵng, 1 khách sạn 4* trên bãi biển Nha Trang, resort 5* tại biển Cửa Đại Hội An và đang xây dựng dự án resort – căn hộ cao cấp trên biển Non Nước Đà Nẵng. Có đội xe du lịch chất lượng cao gần 30 chiếc. Cùng với đội ngũ lao động có kinh nghiệm, trình độ tay nghề cao và tâm huyết là những lợi thế vượt trội.

Công ty du lịch Vitours

5. Công Ty Du Lịch Sài Gòn Tourist – Chi Nhánh Đà Nẵng

  • Địa chỉ: 357 Phan Châu Trinh / 43 Lê Duẩn
  • Điện thoại: (0236) 3664 884
  • Website: saigontourist.net

Sài Gòn Tourist là một trong những công ty du lịch uy tín chi nhánh Đà Nẵng. Công ty phủ sóng khắp toàn quốc với nhiều chi nhánh ở cả 3 miền. Đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, chu đáo. Tổ chức tour với nhiều đoàn khách lớn trên khắp cả nước.

Công ty du lịch Sài Gòn Touris

6. Công Ty Du Lịch Đà Nẵng Biển Ngọc

Biển Ngọc là một trong những công ty du lịch Đà Nẵng uy tín. Với đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, nhiệt tình, nhanh nhẹn. Công ty không ngừng đổi mới, sáng tạo nhằm đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng.

  • Địa chỉ: 1025 Ngô Quyền – Sơn Trà – Đà Nẵng
  • Điện thoại: 0905.279.092
  • Website: dulichbienngoc.com.vn

Công ty du lịch Biển Ngọc

7. Công ty TNHH Dịch Vụ Du Lịch Tuấn Dũng 

  • Địa chỉ 1: Số 24 Đường 3/2 – Đà Nẵng
  • Địa chỉ 2: Số 458 Trần Cao Vân, Đà Nẵng
  • Điện thoại: 0236.371.0007

Dịch vụ du lịch Tuấn Dũng là một công ty du lịch Đà Nẵng chuyên nghiệp. Với nhiều năm kinh nghiệm làm việc, cùng đội ngũ nhân viên năng động, nhiệt tình. Công ty luôn mang đến cho hành khách những hành trình ý nghĩa nhất. Với các dịch vụ như: đặt tour du ịch trong và ngoài nước, đặt phòng khách sạn toàn quốc, bán vé may bay, cho thuê xe du lịch, làm visa hộ chiếu,…

Công ty du lịch Tuấn Dũng

8. Công ty TNHH TM & DVDL Quảng Đà Thành

  • Địa chỉ: 74 Nguyễn Tư Giản, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng
  • Điện thoại: 0236.2 638.638

Công ty du lịch uy tín Quảng Đà Thành luôn mang đến cho du khách những kỳ nghĩ thật sự vui vẻ, thoải mái. Với đội ngũ nhân viên giỏi, nhiệt tình, đam mê nghề nghiệp được đào bài bản. Công ty cung cấp các chương trình du lịch, đặc biệt là chương trình Opentour và các Tour khám phá vẻ đẹp của thành phố biển Đà Nẵng.

Công ty du lịch Quảng Đà Thành

9. Công ty TNHH TMDV Lữ Hành Quốc Tế Libra

  • Địa chỉ: 40 Trần Quang Diệu – Đà Nẵng
  • Điện thoại: 0236.3959.777 – 0236.3959.779
  • Website: libratravel.vn

Được hình thành từ năm 2013, Libra tự hào là nhà cung cấp dịch vụ du lịch chuyên nghiệp. Một số chương trình như: Tour trong nước và quốc tế, hội nghị và tổ chức sự kiện,dịch vụ đặt phòng trong nước và quốc tế, visa xuất nhập cảnh,.. Với đội ngũ nhân viên dày dặn kinh nghiệm, làm việc chuyên nghiệp, sức trẻ năng động săng tạo. Công ty không ngừng phấn đấu, đưa lại cho khách hàng dịch vụ tốt nhất.

Công ty lữ hành quốc tế Libra

10. Công Ty Cổ Phần Du Lịch Việt Đà – Công Ty Du Lịch Tại Đà Nẵng

  • Địa chỉ 1: 456 Lê Duẩn – Đà Nẵng
  • Địa chỉ 2: Tầng 3, 269 Núi Thành – Đà Nẵng
  • Điện thoại: 0236.3647.979 – 0236.3647.981 – 0236.2215.960
  • Website: vietdatravel.com

Du lịch Việt Đà là một trong số công ty du lịch Đà Nẵng uy tín. Viet Da Travel tự hào mang lại những chuyến du lịch tham quan và kỳ nghỉ đầy thú vi. Công ty là đơn vị tổ chức lữ hành chuyên nghiệp với đội ngũ nhân viên nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình và giàu lòng mến khách. Với hơn 13 năm kinh nghiệm trong ngành công nghiệp du lịch, thương hiệu Viet Da Travel  trở thành một trong những công ty du lịch chất lương dịch vụ vượt trội, tốt nhất tại Việt Nam và được nhiều người biết đến.

Công ty Việt Đà Travel

Trên đây là top 10 công ty du lịch Đà Nẵng uy tín nhất. Hãy chọn cho mình một công ty thích hợp và cùng khám phá hành trình du lịch đầy thú vị tại Đà Nẵng nhé.

Cao tốc Bắc-Nam: Minh bạch, đảm bảo kinh tế, an ninh quốc phòng

Cao tốc Bắc-Nam: Minh bạch, đảm bảo kinh tế, an ninh quốc phòng

Dự án đường cao tốc Bắc-Nam có ý nghĩa rất lớn về an ninh quốc phòng, kinh tế xã hội, do đó cần phải xem xét đặc biệt về vấn đề an ninh quốc phòng.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 cao tốc bắc nam

Theo Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể, rút kinh nghiệm từ việc triển khai các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BT trước đây, Bộ GTVT đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 20/NQ-CP để triển khai đầu tư dự án đường cao tốc Bắc-Nam phía Đông đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, có cơ chế giám sát, quản lý chất lượng, tiến độ và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư.

5 nguyên tắc xây dựng

Tại văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Bình Thuận, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể cho biết, dự án đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông là dự án quan trọng quốc gia, được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 52/2017/QH14 ngày 22/11/2017 gồm 11 dự án thành phần, trong đó 3 dự án đầu tư công sử dụng toàn bộ vốn ngân sách Nhà nước và 8 dự án đầu tư công theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Để thực hiện dự án trọng điểm quốc gia này, ông Thể cho rằng, dự án đường cao tốc Bắc-Nam được thực hiện đấu thầu cạnh tranh, minh bạch để lựa chọn nhà đầu tư; quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư bằng 20% tổng vốn đầu tư để đảm bảo lựa chọn nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án; quản lý chặt chẽ chất lượng, giá thành xây dựng công trình.

Quan điểm của Bộ GTVT chỉ đạo triển khai xây dựng cao tốc Bắc-Nam sẽ tuân thủ 5 nguyên tắc cơ bản.Trong đó, đoạn cao tốc Bắc-Nam đi qua địa bàn tỉnh Bình Thuận có 3 dự án thành phần (Cam Lâm - Vĩnh Hảo; Vĩnh Hảo - Phan Thiết và Phan Thiết - Dầu Giây), được triển khai theo hình thức PPP. Đến nay, Bộ GTVT đã phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tất cả các dự án; hoàn tất việc bàn giao mặt bằng và chuyển nguồn vốn đến Kho bạc Nhà nước để địa phương triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư. Đồng thời, Bộ GTVT đang gấp rút hoàn thành hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán và khẩn trương triển khai công tác sơ tuyển lựa chọn nhà đầu tư để có thể tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong năm 2019.

cao tốc bắc nam

Sơ đồ các đoạn tuyến cao tốc Bắc - Nam sắp triển khai.

Đây là công trình trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa rất lớn về an ninh quốc phòng, kinh tế xã hội, do đó cần phải xem xét đặc biệt về vấn đề an ninh quốc phòng. Tất cả trình tự, thủ tục phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo chất lượng tiến độ.

Đầu tiên là thực hiện đấu thầu cạnh tranh, minh bạch để lựa chọn nhà đầu tư.

Thứ hai, quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư bằng 20% tổng vốn đầu tư để đảm bảo lựa chọn nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án.

Thứ ba, quản lý chặt chẽ chất lượng, giá thành xây dựng công trình. Cơ quan Nhà nước tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán làm cơ sở để tính toán phương án tài chính, lập hồ sơ mời thầu.

Thứ tư, xây dựng hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, dự thảo hơp đồng, trong đó sẽ quy định chặt chẽ các tiêu chí và có đủ chế tài xử lý khi nhà đầu tư có vi phạm về chất lượng, tiến độ.

Thứ năm, khắc phục bất cập về thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ. Việc áp dụng hình thức thu phí kín (mức phí tính theo chiều dài quãng đường sử dụng) sẽ đảm bảo tính công bằng cho người sử dụng.

Đồng thời, sẽ áp dụng công nghệ thu phí theo hình thức điện tử tự động không dừng và có hệ thống giám sát trực tuyến để chống thất thu, để đảm bảo tính minh bạch.

 

“Việc áp dụng hình thức thu phí kín (mức phí tính theo chiều dài quãng đường sử dụng) sẽ đảm bảo tính công bằng cho người sử dụng, khắc phục bất cập về thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ đồng thời sẽ áp dụng công nghệ thu phí theo hình thức điện tử tự động không dừng và có hệ thống giám sát trực tuyến để chống thất thu; thực hiện công khai các số liệu thu phí (mức phí, thời gian thu phí, tổng vốn đầu tư...) để đảm bảo tính minh bạch,” Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể nhấn mạnh.

Có chế tài xử lý khi có vi phạm chất lượng, tiến độ

Bên cạnh đó Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho rằng, cơ quan Nhà nước tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán làm cơ sở để tính toán phương án tài chính, lập hồ sơ mời thầu. Bộ GTVT xây dựng hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, dự thảo hơp đồng, trong đó sẽ quy định chặt chẽ các tiêu chí và có đủ chế tài xử lý khi nhà đầu tư có vi phạm về chất lượng, tiến độ.

“Trong quá trình triển khai dự án, Bộ GTVT sẽ chỉ đạo các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ tiến độ, chất lượng để dự án đạt được hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, để triển khai dự án thành công, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, hiệu quả, Bộ GTVT rất cần sự hỗ trợ của các cấp, các ngành địa phương, đặc biệt trong công tác giải phóng mặt bằng”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết.

Người đứng đầu ngành giao thông cho biết, đến nay, Bộ Giao thông Vận tải đã phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tất cả các dự án; hoàn tất việc bàn giao mặt bằng và chuyển nguồn vốn đến kho bạc Nhà nước để địa phương triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư.

Đồng thời, Bộ GTVT đang gấp rút hoàn thành hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán và khẩn trương triển khai công tác sơ tuyển lựa chọn nhà đầu tư để có thể tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong năm 2019.

Mới đây, Bộ GTVT báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép tổ chức lễ khởi công dự án thành phần xây dựng đoạn Cam Lộ-La Sơn vào ngày 31/8/2019, tại thôn Tân Trúc, xã Cam Tuyến, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị (điểm đầu dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn Cam Lộ-La Sơn) sau khi đã đủ điều kiện theo quy định tại Điều 107, Luật Xây dựng năm 2014.

Dự án cao tốc Bắc-Nam dài 2.109km, kéo dài từ Lạng Sơn tới Cà Mau, hiện đã khai thác và đang xây dựng một số đoạn dài 601km.

Giai đoạn 2017-2021 tiếp tục đầu tư xây dựng thêm 11 đoạn, tổng mức đầu tư khoảng 118.700 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước tham gia khoảng 55.000 tỷ đồng. Trong đó có 3 đoạn đầu tư công gồm Cao Bồ-Mai Sơn, dài 15km, tổng vốn đầu tư 1.607 tỷ đồng; Cam Lộ-La Sơn, dài 98km, tổng vốn đầu tư hơn 7.669 tỷ đồng và cầu Mỹ Thuận 2 dài 7km, tổng vốn đầu tư hơn 5.003 tỷ đồng.

Với các đoạn đầu tư BOT, nhà đầu tư được thu phí để thu hồi vốn, mức phí khởi điểm là 1.500 đồng/km/xe dười 12 chỗ ngồi, và tăng dần tới 3.400 đồng/km/xe dưới 12 chỗ ngồi. Mỗi kỳ 3 năm nhà đầu tư được tăng phí một lần.

Hiện tượng chuyển giá, đầu tư “chui”, đầu tư “núp bóng” ngày càng tinh vi

Hiện tượng chuyển giá, đầu tư “chui”, đầu tư “núp bóng” ngày càng tinh vi

Đây là một trong những nhận định tại Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 chuyển giá đầu tư chui

Bộ Chính trị khẳng định, trong hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đạt được việc thu hút, quản lý và hoạt động đầu tư nước ngoài vẫn còn những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới.

Theo đó, thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Chính sách ưu đãi còn dàn trải, thiếu nhất quán, không ổn định. Môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn hạn chế; chất lượng, hiệu quả thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài chưa cao.

Hạ tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu; còn thiếu các thiết chế văn hoá, xã hội thiết yếu. Cơ chế và năng lực xử lý tranh chấp hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Hệ thống tổ chức bộ máy và năng lực thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài còn bất cập, phân tán, chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu chủ động và tính chuyên nghiệp...

Bên cạnh đó, số lượng dự án quy mô nhỏ, công nghệ thấp, thâm dụng lao động còn lớn; phân bố không đều; tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký còn thấp. Tỷ trọng đóng góp cho ngân sách nhà nước có xu hướng giảm. Liên kết, tương tác với các khu vực khác của nền kinh tế thiếu chặt chẽ, hiệu ứng lan tỏa về năng suất và công nghệ chưa cao; tỷ lệ nội địa hoá còn thấp.

Vốn đăng ký giai đoạn 2021-2025 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); Vốn thực hiện giai đoạn 2021-2025 khoảng 100-150 tỷ USD (20-30 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm)...

Đặc biệt, các hiện tượng chuyển giá, đầu tư “chui”, đầu tư “núp bóng” ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng. Một số doanh nghiệp, dự án sử dụng lãng phí tài nguyên, đất đai, vi phạm chính sách, pháp luật về lao động, tiền lương, thuế, bảo hiểm xã hội, môi trường...; phát sinh nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp cả trong nước và quốc tế. Việc phát triển tổ chức và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, công đoàn, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn khó khăn.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức của các cấp, các ngành và của xã hội còn chưa đầy đủ, nhất quán; thu hút đầu tư nước ngoài còn thiếu chọn lọc. Tư duy và định hướng đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thiếu đồng bộ, nhiều quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn. Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài nhiều nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, sáng tạo; khả năng phân tích, dự báo còn bất cập. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm có lúc, có nơi chưa nghiêm.

Trong bối cảnh đó, ngày 20/8, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. 

Theo đó, tại Nghị quyết, Bộ Chính trị đã đề ra một số mục tiêu quan trọng đến năm 2030 như: Vốn đăng ký giai đoạn 2021-2025 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); Vốn thực hiện giai đoạn 2021-2025 khoảng 100-150 tỷ USD (20-30 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, bảo vệ môi trường, hướng đến công nghệ cao tăng 50% vào năm 2025 và 100% vào năm 2030 so với năm 2018; Tỷ lệ nội địa hóa tăng từ 20-25% hiện nay, lên mức 30% vào năm 2025 và 40% vào năm 2030...

Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Bộ Chính trị cũng đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu trong thời gian tới như: Hoàn thiện thể chế, chính sách chung về đầu tư nước ngoài; Hoàn thiện thể chế, chính sách thu hút đầu tư; Hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo hộ và đề cao trách nhiệm của nhà đầu tư; Hoàn thiện thể chế chính sách quản lý, giám sát đầu tư; Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với đầu tư nước ngoài..

Việt Nam chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu

Việt Nam chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu

Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng năm 2019, Việt Nam đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

việt nam từ nhập siêu sang xuất siêu

Số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch xuất nhập khẩu, xuất nhập siêu của Việt Nam với 10 nước còn lại trong CPTTP của 7 tháng năm 2018 và 7 tháng năm 2019 như sau:

Xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang 10 nước tham gia CPTTP đạt quy mô khá, chiếm trên 15,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Một số thị trường đạt quy mô khá lớn. Trong 27 thị trường xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD, thì khu vực này chiếm 6, có tỷ lệ so với tổng số thị trường khu vực này cao hơn tỷ lệ tương ứng của tổng số.

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này tuy thấp hơn tốc độ tăng chung (7,5% so với 7,8%), nhưng tăng là sự khác biệt so với khi mở cửa với Trung Quốc (năm 1991), với Thái Lan (năm 1995), với Hàn Quốc (năm 2018) - khi đó xuất khẩu giảm hoặc tăng thấp, trong khi nhập khẩu tăng cao, làm cho nhập siêu tăng.

Tổng mức tăng của các thị trường này đạt 156,5 triệu USD, trong đó có một số thị trường có mức tăng khá, như Nhật Bản 1.010 triệu USD, Canada 546 triệu USD, Mexico 290 triệu USD.

Riêng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 7 tháng vào Trung Quốc gặp khó khăn do nước này thay đổi chính sách nhập khẩu tiểu ngạch, nhưng thị trường 10 nước còn lại của CPTTP lại đạt mức khá, trong đó đứng đầu là Nhật Bản, tiếp đến là Malaysia, Canada, Australia, Singapore, Mexico, New Zealand, Chile, Peru, Brunei, góp phần giảm bớt sự sụt giảm từ thị trường Trung Quốc.

Nhập khẩu của Việt Nam từ các thị trường này so với cùng kỳ năm trước giảm 2,3%, hay giảm 503 triệu USD. Có một số thị trường giảm (như Mexico 659 triệu USD, Singapore 490 triệu USD, Malaysia 219 triệu USD)...

việt nam từ nhập siêu sang xuất siêu

Xuất nhập khẩu, xuất nhập siêu của Việt Nam với 10 nước còn lại của CPTTP (triệu USD)

Chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu

Do xuất khẩu của Việt Nam vào 10 nước tham gia CPTTP tăng, trong khi nhập khẩu từ đây giảm, nên nếu cùng kỳ năm trước Việt Nam ở vị thế nhập siêu, thì 7 tháng năm nay đã xuất siêu ở mức khá.

Trong 10 thị trường trên, Việt Nam ở vị thế xuất siêu với 5 thị trường và cả 5 thị trường này đều ở mức trên 100 triệu USD, lớn nhất là Canada, tiếp đến là Mexico, Nhật Bản, Chile, Peru. Đáng lưu ý, mức xuất siêu đều cao hơn cùng kỳ năm trước, đặc biệt là Nhật Bản đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu khá lớn.

Các diễn biến trên là kết quả tích cực của việc CPTTP được thực hiện. Kết quả càng có ý nghĩa khi được thể hiện ngay trong những tháng đầu tiên thực hiện. Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam một mặt đã tranh thủ tốt hơn về thị trường với cơ hội thuế suất thuế nhập khẩu vào các nước này được giảm thiểu, mặt khác đây cũng là các thị trường có thể góp phần để Việt Nam có điều kiện để xử lý được khó khăn trong xuất khẩu nông, lâm, thủy sản với Trung Quốc.

Mặc dù đạt được kết quả tích cực, nhưng đó chỉ là bước đầu, chưa thể chủ quan. Xuất khẩu của Việt Nam sang một số thị trường còn bị giảm (với Australia giảm 373 triệu USD, Malaysia giảm 122 triệu USD); nhập khẩu từ một số thị trường tăng (Australia, Canada, Peru, Brunei); còn nhập siêu từ một số thị trường (như Malaysia, Australia, Singapore, Brunei, New Zealand). Đáng lưu ý, với Australia năm trước xuất siêu, nay nhập siêu, còn với Brunei là nhập siêu tăng.

Ngoài ra, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam còn thấp so với tổng nhập khẩu của các thị trường này. Tốc độ tăng xuất khẩu vào các thị trường này còn thấp hơn tốc độ tăng chung của tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tác động đến việc thực hiện kế hoạch tăng trưởng xuất khẩu chung...

 
Sửa đổi, bãi bỏ nhiều điều kiện sản xuất, nhập khẩu ô tô

Sửa đổi, bãi bỏ nhiều điều kiện sản xuất, nhập khẩu ô tô

Dự kiến, nhiều điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô được quy định tại Nghị định 116 năm 2017 sẽ được bãi bỏ, sửa đổi trong thời gian tới.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

sản xuất nhập khẩu oto

Dự thảo sửa đổi Nghị định này cũng đang được Bộ Công Thương đưa ra lấy ý kiến.

Sẽ kiểm tra ô tô nhập khẩu theo kiểu loại thay vì theo lô

Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, Chính phủ sẽ sớm ban hành văn bản sửa đổi quy định của Nghị định 116/2017 về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô, trong đó ô tô nhập khẩu sẽ được kiểm tra theo kiểu loại.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Mai Tiến Dũng cho biết như vậy tại cuộc làm việc với các bộ ngành về việc sửa đổi điều kiện kinh doanh và kiểm tra chuyên ngành ngày 21/8.

Cụ thể, thay vì hình thức kiểm tra theo lô như quy định hiện hành, Chính phủ sẽ sửa đổi Nghị định 116/2017 theo hướng các xe nhập khẩu sẽ được kiểm tra theo kiểu loại, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

"Đề nghị Bộ Giao thông vận tải có văn bản báo cáo Thủ tướng sửa nghị định theo hình thức rút gọn. Cố gắng đến cuối tháng 8, đầu tháng 9 sẽ ban hành nhanh" - Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.

Theo Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, việc sửa đổi Nghị định 116 là phù hợp trong bối cảnh thị trường ô tô, hoạt động nhập khẩu ô tô đã đi vào ổn định.

Thực tế trong 2 năm qua sau khi nghị định được ban hành, ngành ô tô trong nước đã có bước phát triển nhất định, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quản lý nhà nước cũng chặt chẽ hơn, không còn tình trạng lộn xộn trong hoạt động nhập khẩu xe.

Bằng chứng là lượng xe nhập khẩu tăng, các hãng xe đều xác nhận nguồn gốc và kiểu loại, thực hiện nghiêm túc quy định của Nghị định 116. Vì vậy, với năng lực của các trung tâm đăng kiểm hiện nay, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho rằng việc cải cách trong quản lý, chuyển sang hậu kiểm là phù hợp.

Bãi bỏ nhiều điều kiện về lao động, cháy nổ

Trong khi đó, dự thảo Nghị định sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương cũng đang được Bộ này lấy ý kiến.

Dự thảo được Bộ Công Thương xây dựng nhằm triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019 của Chính phủ, trong đó giao các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục rà soát, trình Chính phủ bãi bỏ, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh không rõ ràng, không cụ thể, không khả thi.

Dự thảo Nghị định đưa ra đề xuất sửa đổi, bãi bỏ điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực: sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô; điện lực; hóa chất; thực phẩm; than, khoáng sản; kinh doanh khí.

Trong đó, với lĩnh vực sản xuất và nhập khẩu ô tô, dự thảo sửa đổi, bãi bỏ các quy định về điều kiện an toàn, vệ sinh lao động, an toàn phòng cháy và chữa cháy, phương án chữa cháy. Theo đó, bãi bỏ khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 7 của Nghị định số 116/2017/NĐ-CP. 

Khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 7 của Nghị định số 116/2017/NĐ-CP đang đưa ra các điều kiện sau:

- Người phụ trách kỹ thuật các dây chuyền sản xuất, lắp ráp ô tô phải có trình độ đại học trở lên, thuộc ngành cơ khí, ô tô và có kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô tối thiểu 05 năm.

- Có đủ nhân lực, phương án bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

- Đáp ứng đủ điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy, phương án chữa cháy theo quy định của pháp luật phòng cháy, chữa cháy.

Như vậy, nếu đề xuất của Bộ Công Thương được chấp thuận, việc quản lý nhà nước sẽ chuyển hướng từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với các điều kiện này mà sẽ không đặt ra trong điều kiện cấp giấy phép kinh doanh.

Bộ Công Thương cũng cho biết, có 02 định hướng cơ bản trong quá trình xây dựng Nghị định này. Thứ nhất, trong quá trình xây dựng Dự thảo Nghị định, có thể đề xuất bãi bỏ thêm một số điều kiện trong một số lĩnh vực đồng thời có đề xuất giữ lại điều kiện kinh doanh trong một số lĩnh vực.

Thứ hai, theo phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh của Bộ, một số điều kiện kinh doanh được đơn giản hóa theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tuy nhiên, vì việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với một số điều kiện kinh doanh sẽ trực tiếp ảnh hưởng lớn đến cấu trúc, nội hàm chính sách và quy trình, phương pháp quản lý nhà nước đang được quy định tại văn bản pháp quy chuyên ngành về lĩnh vực này.

Do vậy, đối với những điều kiện đề xuất bãi bỏ thì bãi bỏ ngay tại Dự thảo Nghị định sửa nhiều Nghị định đang xây dựng và ngược lại các điều kiện kinh doanh có liên quan đến hậu kiểm thì sẽ được quy định tại Nghị định chuyên ngành của ngành, lĩnh vực có liên quan. 

Chống thất thu cho ngân sách và sử dụng hiệu quả quỹ đất trong thanh toán Dự án BT

Chống thất thu cho ngân sách và sử dụng hiệu quả quỹ đất trong thanh toán Dự án BT

Theo Nghị định số 69/2019/NĐ-CP (Nghị định 69) mới ban hành, đất sạch (đã giải phóng mặt bằng, đền bù) nếu được dùng để thanh toán cho nhà đầu tư xây dựng công trình theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (gọi tắt là Dự án BT), phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thay vì để cho UBND tỉnh tự quyết như trước kia.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 quỹ đất nhà nước

Khắc phục những bất cập tại các Dự án BT

Đưa ra đánh giá về việc sử dụng quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện Dự án BTtrong thời gian qua, ông La Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính) cho biết, về cơ bản việc sử dụng quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư BT đã phát huy được hiệu quả thông qua việc huy động các nguồn lực của khu vực tư nhân và việc cung cấp các dịch vụ công, giảm áp lực lên nguồn ngân sách nhà nước.

Theo đó, Nghị định 69 đã quy định 02 nhóm quỹ đất được sử dụng để thanh toán cho Nhà đầu tư thực hiện dự án BT, bao gồm: Đất chưa giải phóng mặt bằng và đất đã giải phóng mặt bằng.

Trong đó, Nhà nước thực hiện giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê theo quy định của pháp luật đất đai, để thanh toán cho Nhà đầu tư khi thực hiện Dự án BT.

Bên cạnh đó, để tránh việc nhà đầu tư cố tình lập dự án BT để lấy đất, trụ sở làm việc, Nghị định quy định trước khi muốn thực hiện dự án BT để được thanh toán bằng quỹ đất, nhà đầu tư phải đảm bảo dự án được lập theo mô hình nào và phải thông qua đấu thầu rộng rãi, chưa kể trong một số trường hợp muốn sử dụng đất hoặc tài sản công để thanh toán, dự án đó phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

Thanh toán theo nguyên tắc ngang giá

Đối với việc thanh toán Dự án BT bằng quỹ đất, Nghị định 69 nêu rõ, việc thanh toán phải đảm bảo nguyên tắc giá trị Dự án BT xác định theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng; Giá trị quỹ đất để thanh toán cho nhà đầu tư xác định theo quy định của pháp luật về đất đai; Thực hiện thanh toán Dự án BT bằng quỹ đất theo nguyên tắc ngang giá, bù trừ chênh lệch giữa giá trị Dự án BT và giá trị quỹ đất thanh toán; Thời điểm thanh toán Dự án BT bằng quỹ đất là thời điểm UBND cấp tỉnh ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư. 

Quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư được áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

Quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư gồm: Đất xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế theo quy định của pháp luật về đất đai; đất của cơ sở nhà, đất tại vị trí cũ sử dụng để thanh toán Dự án BT đầu tư xây dựng công trình tại vị trí mới.

Xác định giá trị quỹ đất

Việc sử dụng đất để thanh toán Dự án BT, Nghị định quy định rõ: Đối với quỹ đất chưa giải phóng mặt bằng thì trên cơ sở vị trí, diện tích quỹ đất thanh toán được UBND cấp tỉnh dự kiến thanh toán, căn cứ đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký Hợp đồng BT và đề nghị của Nhà đầu tư, UBND cấp tỉnh có văn bản cam kết với nhà đầu tư về việc sử dụng quỹ đất để thanh toán Dự án BT. Đồng thời giao các cơ quan chức năng của địa phương và nhà đầu tư thực hiện trình tự theo các bước:

Thứ nhất, lập quy hoạch chi tiết 1/500 trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

Thứ hai, lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

Thứ ba,­ ứng trước kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định;

Thứ tư, tổ chức thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án được phê duyệt.

Trên cơ sở kết quả thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư. Đối với quỹ đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư để xác định giá trị quỹ đất thanh toán.

Đối với việc xác định giá trị quỹ đất thanh toán được thực hiện như sau: Trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất thì giá trị quỹ đất thanh toán là tiền sử dụng đất xác định tại thời điểm có quyết định giao đất theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất.

Trường hợp cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì giá trị quỹ đất thanh toán là tiền thuê đất nộp một lần cho cả thời gian thuê xác định tại thời điểm có quyết định cho thuê đất theo quy định của pháp luật về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Ngoài ra, Quyết định quy định, việc sử dụng quỹ đất của cơ sở nhà, đất tại vị trí cũ để thanh toán Dự án BT đầu tư xây dựng công trình tại vị trí mới thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Quy định rõ các điều khoản của hợp đồng

Hợp đồng BT ký giữa Nhà nước và doanh nghiệp phải có những điều khoản cụ thể do hợp đồng này là thỏa thuận cao nhất mà cơ quan nhà nước và chủ đầu tư phải tuân thủ trong suốt quá trình thực hiện dự án. Dù vậy, gần như từ trước đến nay Nhà nước phó mặc cho hai bên soạn thảo chứ không có một quy định pháp luật chặt chẽ về các điều khoản của hợp đồng. 

Chính phủ cần có một nghị định hướng dẫn cụ thể về nội dung của hợp đồng BT trong hai trường hợp: giao công trình qua đấu thầu hay giao công trình chỉ định (nếu đấu thầu không thành công). Như vậy mới có thể cắt bỏ được cái mà người dân vẫn hay cho là lợi ích nhóm.

GS., TS. Đặng Hùng Võ (Nguyên thứ trưởng Bộ TN-MT)

Chấm dứt tình trạng chỉ định nhà đầu tư BT

Để ngăn chặn thất thoát đất công khi thực hiện dự án BT, chỉ có cách là địa phương bán đất lấy tiền để trả cho doanh nghiệp làm dự án hạ tầng. Và muốn bán quỹ đất đó đúng giá trị của nó thì phải đấu giá.

Ai trả cao sẽ được quyền sử dụng tài sản đất đó. Khi có tiền cũng đấu thầu chọn nhà đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng nhằm đảm bảo dự án đúng tiến độ, chất lượng. Cần chấm dứt tình trạng chỉ định nhà đầu tư triển khai dự án BT như lâu nay và để nhà đầu tư chọn quỹ đất để thanh toán.

TS. Vũ Đình Ánh

Cần có quỹ riêng để xây dựng hạ tầng

Việc bán đấu giá đất lấy tiền để đầu tư cho các dự án hạ tầng và các dự án hạ tầng được giao qua đấu thầu là minh bạch, rạch ròi nhất để tránh tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm trong việc đầu tư công.

Theo tôi, cần có quỹ riêng để đầu tư cho các dự án về hạ tầng bởi hạ tầng. Đồng thời cần có quy hoạch và tầm nhìn chung, đầu tư cho hạ tầng là một chiến lược dài hạn chứ không phải từng năm.

Chuyên gia chính sách công Nguyễn Quang Đồng

 

Ứng dụng công nghệ mới phù hợp với hoạt động của kinh tế chia sẻ

Ứng dụng công nghệ mới phù hợp với hoạt động của kinh tế chia sẻ

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định số 999/QĐ-TTg phê duyệt đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ. Theo đó, Bộ Tài chính được giao nhiệm vụ triển khai ứng dụng công nghệ mới của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong lĩnh vực thuế, ban hành và hướng dẫn thực hiện chính sách thuế và quản lý thuế phù hợp đối với hoạt động của kinh tế chia sẻ.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<
 
ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh tế

Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ được thực hiện với mục tiêu đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ và kinh tế truyền thống. Đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia mô hình kinh tế chia sẻ bao gồm người cung cấp dịch vụ, người sử dụng dịch vụ và doanh nghiệp cung cấp nền tảng. Đề án cũng nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ số và phát triển nền kinh tế số.

Nội dung của Đề án thể hiện quan điểm ủng hộ và thích ứng với xu thế phát triển mới của mô hình kinh tế chia sẻ trong điều kiện phát triển rất nhanh của công nghệ số trên thế giới. Không cần thiết phải có các chính sách riêng biệt cho hình thức kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ do kinh tế chia sẻ không phải là một bộ phận tách rời hoặc một thành phần kinh tế riêng trong nền kinh tế.

Quản lý nhà nước cần đảm bảo cho các hoạt động kinh tế hợp pháp được phát triển trong đó có các hoạt động kinh tế chia sẻ. Quản lý nhà nước cần thay đổi tư duy và cách thức quản lý cho phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế số và cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời nâng cao mô hình nhận thức và năng lực của doanh nghiệp, địa phương và người dân về mô hình kinh tế chia sẻ.

Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ nhằm hạn chế những rủi ro liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và phòng ngừa thất thoát thuế, lẩn tránh thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Về giải pháp quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ, Đề án nêu lên các nhóm giải pháp về thực hiện quyền và trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ, người sử dụng dịch vụ, doanh nghiệp và Nhà nước.

Trong đó, Đề án nhấn mạnh Nhà nước phải tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa kinh tế chia sẻ và kinh tế truyền thống bằng cách rà soát, bãi bỏ các quy định điều kiện kinh doanh không phù hợp đối với lĩnh vực kinh doanh truyền thống và áp dụng chung cho kinh tế chia sẻ. Xây dựng các chính sách tạo sự chủ động phát triển kinh tế chia sẻ, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp. Sửa đổi, hoàn thiện và bổ sung hệ thống pháp luật và chính sách hiện hành để phù hợp với các hoạt động của kinh tế chia sẻ, đặc biệt quy định rõ trách nhiệm giữa các bên, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý mô hình kinh doanh này.

Cơ quan nhà nước phải xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin và dữ liệu giữa chính quyền các cấp và các doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề, các hộ kinh doanh; tăng cường các giải pháp về thanh kiểm tra; nâng cao năng lực quản lý nhà nước bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ quyền riêng tư của công dân, tổ chức, đảm bảo chủ quyền trên không gian mạng.

Về tổ chức thực hiện, Thủ tướng giao Bộ Tài chính triển khai ứng dụng công nghệ mới của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong lĩnh vực thuế, ban hành và hướng dẫn thực hiện chính sách thuế và quản lý thuế phù hợp với hoạt động của kinh tế chia sẻ.

Bộ Tài chính nghiên cứu xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu quản lý thuế đối với hoạt động kinh tế chia sẻ. Nghiên cứu xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin và dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan thuế đáp ứng yêu cầu quản lý thuế đối với hoạt động kinh tế chia sẻ.

Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ ngành phối hợp với Bộ Tài chính và các địa phương trong kết nối, trao đổi thông tin với cơ quan thuế và phối hợp trong quản lý thuế.

 
Nâng cao sức chống đỡ trong lĩnh vực thương mại, tiền tệ

Nâng cao sức chống đỡ trong lĩnh vực thương mại, tiền tệ

Còn 5 tháng nữa sẽ khép lại năm tài chính 2019 - năm bản lề của cả giai đoạn 2016-2020. Đâu là thuận lợi, khó khăn, thách thức đặt ra cho nền kinh tế nói chung và TP. Hồ Chí Minh (TPHCM) nói riêng. TS. Trần Du Lịch, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra một số nhận định xoay quanh những nội dung này.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 
 Lĩnh vực thương mại, tiền tệ

PV: Ông đánh giá khái quát diễn biến kinh tế trong 7 tháng đầu năm 2019 như thế nào, thưa ông?

TS. Trần Du Lịch: Khi Chính phủ xây dựng kế hoạch 2019 trình Quốc hội, nhất là về tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đề ra mức tăng 6,6%-6,8% (trong khi năm 2018 GDP tăng tới 7,08%), đã cho thấy chúng ta đã dự liệu những yếu tố thuận lợi có được trong năm 2018 không kéo dài. 

Trong bối cảnh khó khăn chung, Chính phủ đã làm được một số việc quan trọng, trong đó có chính sách tiền tệ. Trước đây, chúng ta cứ nghĩ rằng rất khó để giảm lãi suất cho vay nhưng ta đã làm được, trong khi lãi suất huy động không giảm; hay việc ổn định tỷ giá, kiểm soát được CPI. Những kết quả này đã tác động trực tiếp việc ổn định kinh tế vĩ mô, tạo tâm lý tốt cho người dân. 

Đâu là vấn đề khiến ông băn khoăn, trăn trở nhất?

Theo tôi, vấn đề hiện nay không chỉ lo cho những tháng cuối năm mà cần phải xử lý những tồn tại của nền kinh tế như thế nào để làm “bàn đạp” cho những năm tới. Cụ thể, những vấn đề chồng chéo trong các bộ luật đã được đề cập từ nhiều năm nhưng đến nay vẫn chưa được xử lý rốt ráo. Chúng ta cũng đặt ra vấn đề quy hoạch kết cấu hạ tầng rất lớn, nhưng tất cả các dự án đều bị chậm trễ. Tiến độ triển khai các công trình trọng điểm của quốc gia như xây dựng sân bay Long Thành, đường cao tốc phía Đông rất ì ạch và để làm được thì mấu chốt vẫn là bài toán giải quyết điểm nghẽn về cơ chế. Nạn kẹt xe, ngập nước… là những vấn đề nóng nhưng dư địa để huy động nguồn lực lại không nhiều.

Nhiều vấn đề vướng mắc nhưng chúng ta tháo gỡ quá chậm, ví dụ vướng mắc trong đầu tư công, giải ngân, rồi sự chững lại của các công trình BT, BOT, việc đổi mới một số chính sách về đất đai, dự án đầu tư… do pháp luật còn chồng chéo, chưa thống nhất trong nhìn nhận những quy định nên tạo ra sự lo ngại cho những người có trách nhiệm. 

Theo ông, Chính phủ cần tháo gỡ khó khăn và điều hành nền kinh tế như thế nào trong những tháng cuối năm? 

Điều quan trọng nhất là Chính phủ cần quan tâm, gỡ điểm nghẽn mà pháp luật quy định để tăng huy động vốn, nếu làm chậm sẽ mất cơ hội. Thứ hai, cần các chính sách giải quyết về nông nghiệp. Chúng ta cũng cần nhìn nhận một số vấn đề, đặc biệt là nguồn lợi từ ngư trường là rất hữu hạn, ta không thể tăng đánh bắt tự nhiên để xuất khẩu, do vậy nên làm thế nào để khai thác một cách hữu hiệu sự hữu hạn này, chứ không phải mở rộng bề ngang. 

Vừa rồi, tôi đi thực tế tại một số tỉnh như Kiên Giang thì có không ít đội tàu đã phải nằm bờ vì không có ngư trường khai thác, nếu xâm phạm ngư trường sẽ bị dính thẻ vàng như trường hợp Ủy ban châu Âu đã xử phạt. Có sản phẩm chúng ta cũng phải áp dụng công nghiệp để chế biến, nhằm nâng giá trị gia tăng lên chứ không thể xuất khẩu thô mãi được. Cần tăng cường hỗ trợ DN thông qua xây dựng các trung tâm về giống. Chúng ta cũng đã đề ra phải xây dựng 5 trung tâm hậu cần nghề cá, nhưng đến nay vẫn chưa làm được cái nào.

Trong lĩnh vực công nghiệp cần đẩy mạnh việc cơ cấu lại các khu công nghiệp, phát triển các khu công nghiệp hỗ trợ nội địa. Một vấn đề lớn nữa, cần xây dựng một chương trình riêng về nâng cao năng suất lao động, xem đó như một trong những biện pháp đột phá có cơ sở nhất để nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Vì hiện nay chúng ta vẫn đứng ở mức thấp so với nhóm ASEAN 6 (gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan)  thì không thể cạnh tranh tốt hơn trong khu vực. Đồng thời tập trung nghiên cứu các chính sách cho mô hình khởi nghiệp công nghệ cao để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp. 

Cuối cùng, việc Chính phủ phải làm, đó là nâng cao sức chống đỡ trong các lĩnh vực thương mại, tiền tệ để không ảnh hưởng nhiều đến kinh tế vĩ mô. Trong kỳ vọng như vậy, năm 2020 GDP sẽ tăng trưởng khoảng 6,8%, để bình quân 5 năm 2016-2020 đạt mức 6,7%.

Về phía TPHCM, ông có khuyến nghị gì để thành phố về đích trong năm 2019 cũng như giữ vững vai trò đầu tàu của nền kinh tế?

Tôi cho rằng, kinh tế TPHCM không thoát khỏi bối cảnh chung của nền kinh tế cả nước. Nhưng do đặc thù, nếu nền kinh tế thuận lợi thì TPHCM được hưởng lợi nhiều nhất, còn bất lợi thì cũng là nơi bị ảnh hưởng đầu tiên.

Với hiện tại, TPHCM cần chủ động tính toán lại bài toán phát triển vùng kinh tế, chứ không phải chỉ riêng thành phố, để phát huy tốt nhất các nguồn lực. Phải giải quyết cho được vướng mắc về cơ cấu hạ tầng, phát huy được vai trò của cảng biển, của hệ thống logistics vì hiện nay nguy cơ tắc nghẽn quá lớn, do sự phát triển thiếu đồng bộ.

Hiện nay, TPHCM cũng đang nỗ lực để xử lý, như đang từng bước xây dựng trung tâm tài chính, nhưng đây là chuyện dài hơi. Còn trong 1-2 năm tới, tôi nghĩ thành phố phải thể hiện rõ về quan điểm đổi mới để phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ hơn, tập trung xử lý về hạ tầng không dàn trải, có những cái không nhất thiết phải làm ngay; đồng thời đẩy nhanh tiến độ các công trình còn trì trệ, công trình chống ngập, đường sắt trên cao...  

Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng, giá đất thực sự là điểm nghẽn. Trên thực tế, nếu giá đất tăng cao sẽ vượt sức chịu đựng của nền kinh tế vì không ai đầu tư hiệu quả với giá đất cao để làm thương mại, dịch vụ hay công nghiệp được. Thực sự chúng ta chưa hết đất, mà chủ yếu là do đầu cơ, trong khi chúng ta đang thiếu các công cụ để chống đầu cơ và yếu kém trong quản lý bất động sản. 

Trong bối cảnh chung như vậy, để TPHCM vươn lên đóng vai trò đầu tàu tăng trưởng nền kinh tế trong những năm tới là thực sự khó khăn, nếu không có những giải pháp đột phá.

Kinh nghiệm cho thấy, khi xác định một vấn đề đúng, phải làm, thì phải tập trung nguồn lực và trong quá trình triển khai phải đeo bám để xử lý ngay những bất cập. Nếu làm mà đụng phải khó khăn rồi bỏ đó, thì sẽ không bao giờ đẩy nhanh được các dự án.

VN-Index giảm 0,9% so với cùng kỳ, nhà đầu tư ngoại vẫn "rót vào" 843 triệu USD

VN-Index giảm 0,9% so với cùng kỳ, nhà đầu tư ngoại vẫn "rót vào" 843 triệu USD

Trước tác động của thương chiến Mỹ - Trung, dòng vốn ngoại rút dần ra khỏi Trung Quốc. Theo đó, rất nhiều nhà sản xuất kinh doanh và đầu tư trên thế giới có một lượng vốn dư thừa vì sản xuất bị đình trệ, chậm lại sẽ đi tìm những thị trường tương đối ổn định để đầu tư và Việt Nam được đánh giá có môi trường đầu tư tương đối tốt. Vì thế vốn đầu tư nước ngoài, kể cả trực tiếp hay gián tiếp vẫn chảy vào Việt Nam.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 

Đóng cửa phiên giao dịch ngày 16/8, sắc xanh hiện diện trên cả 3 chỉ số. Theo đó, VN-Index đóng cửa tăng 0,62 điểm (0,06%) lên 980 điểm; HNX-Index tăng 0,67% lên 102,35 điểm và Upcom-Index tăng 0,34% lên 57,55 điểm. Trong đó, giao dịch khối ngoại vẫn là điểm trừ khi họ bán ròng tương đương 220 tỷ đồng trên toàn thị trường. 

Tuy nhiên, theo tính toán của Bloomberg, nếu tính chung trong 12 tháng qua (tính đến ngày 14/8), mặc dù VN-Index giảm khoảng 0,9% so với cùng kỳ, nhưng các nhà đầu tư ngoại vẫn "rót" tới  843 triệu USD vào thị trường chứng khoán Việt Nam. 

Nhu cầu mua của nhà đầu tư ngoại đẩy vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam lên cao kỷ lục.

Theo chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Trí Hiếu, hiện nay do tác động của thương chiến Mỹ - Trung, dòng vốn ngoại rút dần ra khỏi thị trường Trung Quốc. Theo đó, rất nhiều nhà sản xuất kinh doanh và đầu tư trên thế giới có một lượng vốn dư thừa vì sản xuất bị đình trệ, chậm lại sẽ đi tìm những thị trường tương đối ổn định để đầu tư, và Việt Nam được đánh giá có môi trường đầu tư tương đối tốt. Vì thế vốn đầu tư nước ngoài, kể cả trực tiếp hay gián tiếp vẫn chảy vào Việt Nam.

Ông Mark Mobius, Giám đốc điều hành Mobius Capital Partners thì cho rằng, thực tế chứng minh nếu tính từ đầu năm đến nay, VN-Index đã tăng 9,7% khi kết thúc phiên giao dịch ngày 15/8, chỉ số này tăng vượt xa chỉ số MSCI AC ASEAN với mức tăng 0,8% và cũng là chỉ số tăng mạnh nhất khu vực Đông Nam Á. Hai yếu tố hỗ trợ lớn là quy định giảm thuế doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt 6%. Cụ thể, trong nửa đầu năm 2019, số vốn huy động được thông qua kế hoạch thoái vốn khỏi các doanh nghiệp nhà nước đạt 5.160 tỷ đồng tương đương 222 triệu USD, còn trong năm 2018, con số này đạt kỷ lục với 5,09 tỷ USD.

Bên cạnh đó, đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cùng với kế hoạch thoái vốn khỏi các doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ sẽ bù đắp cho đợt giảm giá vừa qua của chứng khoán Việt vì những diễn biến thương mại gần đây, theo nhận định của một số nhà đầu tư nước ngoài, như Federico Parenti tại Sempione Sim SpA.

Đại diện một nhà đầu tư ngoại, ông Parenti đang quản lý khối tài sản trị giá khoảng 3 tỷ USD, trong đó có cổ phiếu của Vinamilk (HoSE:VNM) và TCT Bia rượu nước giải khát Sài Gòn (HoSE:SAB) cho biết, “Tôi không thay đổi quan điểm. Khi đầu tư vào một quốc gia, bạn sẽ làm điều đó trong dài hạn”.

Đồng quan điểm, ông Bharat Joshi, nhà quản lý quỹ Aberdeen Standard Investments (nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu của Vinamilk như một khoản đầu tư cố định tại Việt Nam) cũng chia sẻ, nhu cầu trong nước của Việt Nam có thể “đánh bật” những rủi ro xuất phát từ căng thẳng thương mại. 

Ông Joshi khẳng định, Việt Nam chứng kiến tăng trưởng trong cơ cấu kinh tế, thu nhập của tầng lớp trung lưu cải thiện, nhu cầu tín dụng bắt đầu tăng trưởng, trong khi Chính phủ Việt Nam đang làm những gì có thể nhằm đẩy mạnh công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, để đảm bảo chắc chắn, phần lớn giới đầu tư không nên phớt lờ rủi ro Mỹ tăng thuế với hàng hóa của Việt Nam, ông Felix Lam, người quản lý gần 2 tỷ USD cổ phiếu của khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại BNP Paribs Asset Management cho rằng, thanh khoản tăng sẽ là cơ hội để ông mua vào.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng khoảng 10.605 tỷ đồng trên thị trường cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, tập trung vào các giao dịch thoả thuận lớn. Giá trị danh mục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 34,9 tỷ USD, tăng 7% so với cuối năm 2018.

Số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục gia tăng, đạt hơn 2,28 triệu tài khoản, tăng 4,7% so với cuối năm 2018, trong đó, số lượng tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài tăng 7%. Điều này chứng tỏ sự đánh giá lạc quan của cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam.

Cơ sở pháp lý quan trọng về sử dụng tài sản công thanh toán dự án BT

Cơ sở pháp lý quan trọng về sử dụng tài sản công thanh toán dự án BT

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2019/NĐ-CP quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (Dự án BT) là cơ sở pháp lý quan trọng trong thực hiện.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 

Đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công được Quốc hội thông qua ngày 21/6/2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, Chính phủ quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức BT.

Trước đây, cơ chế thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT tại Quyết định số 23/2015/QĐ-TTg ngày 26/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 183/2015/TT-BTC ngày 17/11/2015 của Bộ Tài chính quy định chỉ có một hình thức thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT.

Tuy nhiên, theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, ngoài việc thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT, Nhà nước cho phép sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức này.

Thực tiễn trong quá trình thực hiện cơ chế Nhà nước thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT theo quy định trước đây có phát sinh vướng mắc. Do đó, để khắc phục tình trạng này và triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2019/NĐ-CP ngày 15/8/2019 quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán dự án BT là cần thiết, tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng trong thực hiện.

Việc ban hành Nghị định số 69/2019/NĐ-CP cũng phù hợp với quy định từ ngày 01/7/2016 trở đi, thủ tục hành chính không được quy định tại Thông tư cấp Bộ theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Quy trình soạn thảo chặt chẽ

Nghị định số 69/2019/NĐ-CP được xây dựng bám sát Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai và kế thừa quy định về cơ chế Nhà nước thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT đang phát huy tốt trong quá trình thực hiện.

Đồng thời, Nghị định đã sửa đổi các nội dung không còn phù hợp với thực tế và bổ sung một số nội dung quy định mới nhằm kịp thời hướng dẫn, tổ chức thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017.

Trong đó, Nghị định bổ sung thêm việc sử dụng một số loại tài sản công khác theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện nự án BT bao gồm: Quỹ đất; Đất, nhà và tài sản khác gắn liền với đất (trụ sở làm việc) của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật về hội; Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; Các loại tài sản công khác theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

Trong quá trình soạn thảo, cơ quan soạn thảo Nghị định (Bộ Tài chính) đã tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản Nghị định theo đúng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các văn bản hướng dẫn. Bộ Tài chính đã gửi xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương, cơ quan có liên quan (thông qua văn bản, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính và lấy ý kiến trực tiếp tại một số hội thảo); xin ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp. Trên cơ sở ý kiến tham gia, Ban soạn thảo đã tổng hợp tiếp thu, giải trình, hoàn thiện và trình Chính phủ theo đúng quy định.

Tại buổi họp báo của Bộ Tài chính giới thiệu nội dung chính Nghị định số 69/2019/NĐ-CP, ông La Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Quản lý công sản cho biết, Nghị định gồm 03 Chương với 19 Điều, chỉ quy định về việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT và có hiệu lực từ ngày 1/10/2019. Việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố danh mục dự án; tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; đàm phán, ký kết hợp đồng dự án BT... được thực hiện theo quy định của pháp luật về các lĩnh vực xây dựng, đầu tư, đối tác công tư, đầu thầu.

Theo đó, đối tượng áp dụng quy định tại Nghị định là cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng BT; Cơ quan, tổ chức, đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ủy quyền ký kết hợp đồng BT hoặc giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, đàm phán, ký kết hợp đồng BT và thực hiện hợp đồng BT; Nhà đầu tư thực hiện hợp đồng BT; Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện dự án BT.

 
Top 5 công ty nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam

Top 5 công ty nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam

Với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, vấn đề chính trị, kinh tế, dân cư,... nước ta đang ngày càng thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư và phát triển trong nhiều lĩnh vực. DNG xin điểm qua một số công ty nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam:

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

1. Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (SEV)

Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam

Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (SEV) chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4 năm 2009 với tổng vốn đầu tư 670 triệu USD. SEV là nhà máy sản xuất điện thoại di động đầu tiên với quy mô hoàn chỉnh tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại. SEV là nhà máy sản xuất điện thoại di động thứ 7 của Samsung trên thế giới, và Việt Nam là quốc gia thứ 5 có cơ sở sản xuất của Samsung, bên cạnh Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil.@ Được coi là một đối thủ cạnh tranh mạnh của Nhật Bản, Đài Loan và cả các doanh nghiệp nội địa, SEV càng ngày càng mở rộng sản xuất nhằm trở thành nhà cung cấp bộ nhớ Ram động (DRAM), tủ lạnh, bộ nhớ flash, đầu DVD lớn nhất thế giới, và trở thành một trong 20 doanh nghiệp hàng đầu toàn cầu vào năm 2010. Hiện tại, SEV đã là một trong những nhà sản xuất dẫn đầu thế giới về màn hình plasma và điện thoại di động. 

Đến nay, Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (SEV) tại KCN Yên Phong đã giải ngân 1,7/2,5 tỷ USD, đạt 68% tổng vốn đăng ký đầu tư. Từ số vốn đã giải ngân, SEV xây dựng tại KCN Yên Phong Khu tổ hợp công nghệ Samsung, với nhà máy sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới và là nhà máy duy nhất trên thế giới có dây chuyền sản xuất điện thoại khép kín. Năng lực sản xuất của nhà máy bình quân mỗi tháng đạt: 8,3 triệu chiếc điện thoại di động; 5,5 triệu chiếc camera; 6 triệu mobile phone case; 600 nghìn máy hút bụi; 5 triệu LCD; 17 triệu pin điện thoại…. Sản phẩm của SEV xuất khẩu sang 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Giải quyết việc làm cho hơn 39.400 người lao động trong và ngoài tỉnh, SEV đã xây dựng khu ký túc xá dành cho nhân viên sản xuất với 14 tòa nhà, sức chứa 6.500 công nhân.

>>>Xem thêm:  Tổng hợp danh sách công ty Hàn Quốc tại Việt Nam hiện nay<<<

2. Công ty Honda Việt Nam (HVN)

Công ty Honda Việt Nam

Được thành lập vào năm 1996, công ty Honda Việt Nam là liên doanh giữa Công ty Honda Motor (Nhật Bản), Công ty Asian Honda Motor (Thái Lan) và Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông nghiệp Việt Nam với 2 ngành sản phẩm chính: xe máy và xe ô tô. Sau gần 20 năm có mặt tại Việt Nam, Honda Việt Nam đã không ngừng phát triển và trở thành một trong những công ty dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất xe gắn máy và nhà sản xuất ô tô uy tín tại thị trường Việt Nam.

Tháng 3 năm 2005, Honda Việt Nam chính thức nhận được giấy phép của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho phép sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam.

Đây là một mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự phát triển của Công ty. Chỉ sau 1 năm và 5 tháng, Honda Việt Nam đã xây dựng thành công nhà máy, xây dựng mạng lưới đại lý, các chương trình đào tạo bán hàng, dịch vụ, lái xe an toàn cho nhân viên các đại lý và ra mắt mẫu xe đầu tiên vào tháng 8 năm 2006. Từ thời điểm đó, Honda Việt Nam không chỉ được biết đến là nhà sản xuất xe máy với các sản phẩm danh tiếng mà còn là nhà sản xuất ô tô uy tín tại thị trường Việt Nam.

Ngành nghề kinh doanh chính: 

  • Sản xuất, lắp ráp, mua bán và cho thuê xe máy và xe ô tô mang nhãn hiệu Honda

  • Cung cấp dịch vụ bảo hành, sửa chữa, bảo dưỡng và dịch vụ sau bán hàng cho xe ô tô và xe máy.

  • Xuất khẩu và nhập khẩu xe máy và xe ô tô nguyên chiếc, linh kiện, chi tiết phụ tùng phục vụ hoạt động sản xuất ô tô xe máy.

>>> Xem thêm:  Tổng hợp danh sách công ty Nhật Bản tại Việt Nam hiện nay<<<

3. Công ty ô tô TOYOTA Việt Nam (TMV)

Công ty ô tô TOYOTA Việt Nam

Công ty ô tô Toyota Việt Nam (TMV) được thành lập vào tháng 9 năm 1995, là liên doanh với số vốn đầu tư ban đầu là 89,6 triệu USD từ Tập đoàn Toyota Nhật Bản (70%), Tổng công ty Máy Động Lực và Máy Nông Nghiệp - VEAM (20%) và Công ty TNHH KUO Singapore (10%).

Là một trong những liên doanh ô tô có mặt đầu tiên tại thị trường Việt Nam, TMV luôn nỗ lực phát triển bền vững và cùng Việt Nam “Tiến tới tương lai”. TMV đã, đang và sẽ không ngừng cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao và dịch vụ sau bán hàng hoàn hảo nhằm mang đến sự hài lòng cao nhất cho khách hàng, cũng như đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô và đất nước Việt Nam.

Kể từ khi thành lập đến nay, TMV đã không ngừng lớn mạnh và liên tục phát triển không chỉ về quy mô sản xuất, mà cả doanh số bán hàng. Hiện tại, TMV luôn giữ vị trí dẫn đầu trên thị trường ô tô Việt Nam với sản lượng nhà máy của công ty đạt trên 30.000 xe/năm (theo 2 ca làm việc). Doanh số bán cộng dồn của TMV đạt trên 305.799 chiếc, và các sản phẩm đều chiếm thị phần lớn trên thị trường. Từ 11 nhân viên trong ngày đầu thành lập, tới nay số lượng cán bộ công nhân viên của công ty đã lên tới hơn 1.900 người và hơn 6.000 nhân viên làm việc tại hệ thống 41 đại lý/chi nhánh đại lý và Trạm dịch vụ ủy quyền Toyota phủ rộng khắp trên cả nước.

Bên cạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, TMV luôn nỗ lực đóng góp tích cực cho Ngân sách Nhà nước qua việc hoàn thành tốt công tác nộp thuế, cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng và xã hội Việt Nam với nhiều hoạt động dài hơi, thiết thực và có ý nghĩa.

Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển, với sự nỗ lực không ngừng của toàn bộ nhân viên TMV, đại lý, nhà cung cấp và đối tác, TMV đã đạt được nhiều thành tựu to lớn & liên tục phát triển lớn mạnh, hoàn thành sứ mệnh đối với khách hàng, đóng góp đáng kể cho ngành công nghiệp ô tô và xã hội Việt Nam. Với những thành tích đạt được, TMV đã vinh dự được Chính phủ Việt Nam trao tặng Huân chương lao động hạng nhì và được coi là một trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động thành công nhất tại Việt Nam.

Công ty ô tô TOYOTA Việt Nam (TMV) được thành lập vào năm 1995, là công ty liên doanh với số vốn ban đầu là 9.6 triệu USD từ Tập đoàn Toyota Nhật Bản, Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông Nghiệp Việt Nam, và Công ty TNHH KUO Singapore. Từ khi thành lập đến nay TMV đã không ngừng lớn mạnh, luôn nỗ lực phát triển không chỉ về quy mô sản xuất mà cả về doanh số bán hàng. TMV luôn cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao và dịch vụ sau bán hàng hoàn hảo nhằm mang đến sự hài lòng cao nhất cho khách hàng, cũng như đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô và đất nước Việt Nam.

4. Công ty TNHH Canon Việt Nam

Công ty TNHH Canon Việt Nam

Công ty TNHH Canon Việt Nam – thành viên trong Tập đoàn Canon, là một công ty chế xuất 100% vốn đầu tư của Nhật Bản, chuyên sản xuất các loại máy in xuất khẩu ra thị trường thế giới. Công ty Canon Việt Nam chính thức được thành lập vào năm 2001. Sau 14 năm hoạt động, Công ty TNHH Canon Việt Nam hiện nay công ty có 03 nhà máy tại Việt Nam: Nhà máy Thăng Long – Trụ sở chính đặt tại KCN Thăng Long – Đông Anh, Hà Nội – chuyên sản xuất các loại máy in phun, máy quét ảnh; Nhà máy Quế Võ (chi nhánh) – đặt tại KCN Quế Võ – Quế Võ, Bắc Ninh – chuyên sản xuất các loại máy in lazer; Nhà máy Tiên Sơn (chi nhánh) – đặt tại KCN Tiên Du – Tiên Sơn, Bắc Ninh – chuyên sản xuất các loại máy in phun.

5. Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam

Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam

Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam được chính thức thành lập và đi vào hoạt động năm 1995 - là một chi nhánh của tập đoàn Unilever toàn cầu. Unilever - một trong những tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới của Anh và Hà Lan chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm chăm sóc cá nhân, gia đình và thực phẩm. 

Unilever Việt Nam có hệ thống phân phối toàn quốc bao gồm 150 nhà phân phối và 200.000 cửa hàng bán lẻ. Cho tới nay hầu hết các sản phẩm của Unilever như: OMO, P/S, Clear, Pond's, Sunlight, Lipton,... đã trở thành những sản phẩm quen thuộc của mỗi gia đình Việt Nam.

thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Top 10 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam uy tín năm 2019

Top 10 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam uy tín năm 2019

Ngày 4/7/2019, Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) chính thức công bố danh sách Top 10 Doanh nghiệp Công nghệ uy tín năm 2019.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Uy tín của các Doanh nghiệp Công nghệ được đánh giá lượng hóa một cách khách quan và độc lập, căn cứ theo kết quả đánh giá tài chính doanh nghiệp, đánh giá uy tín doanh nghiệp trên truyền thông bằng phương pháp Media coding, và khảo sát các doanh nghiệp, chuyên gia ngành công nghệ; và được công bố theo 02 Danh sách: Top 10 Doanh nghiệp Công nghệ thông tin - Viễn thông và Top 10 Doanh nghiệp Công nghệ Giải pháp phần mềm & Cung ứng thiết bị Công nghệ - Viễn thông uy tín năm 2019.

Top 10 Doanh nghiệp Công nghệ thông tin - Viễn thông uy tín năm 2019

Top 10 Doanh nghiệp Công nghệ thông tin - Viễn thông uy tín năm 2019

Top 10 Doanh nghiệp Công nghệ Giải pháp phần mềm & Cung ứng thiết bị Công nghệ - Viễn thông uy tín năm 2019

Top 10 Doanh nghiệp Công nghệ Giải pháp phần mềm & Cung ứng thiết bị Công nghệ - Viễn thông uy tín năm 2019

>>>Xem thêm:  Tổng hợp danh sách công ty Hàn Quốc tại Việt Nam hiện nay<<<

Tổng quan ngành Công nghệ thông tin - Viễn thông Việt Nam 2018

Năm 2018, ngành Công nghệ thông tin - Viễn thông (CNTT-VT) tiếp tục đóng góp tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu toàn ngành Thông tin truyền thông (TTTT) với tốc độ phát triển nhanh, doanh thu cao, có giá trị xuất khẩu lớn. Các sản phẩm, dịch vụ của ngành được định hướng để tạo nền tảng phát triển kinh tế tri thức, thực hiện Cách mạng công nghệ (CMCN) 4.0, góp phần làm chủ các hệ thống thông tin, đảm bảo an toàn thông tin. 

Cụ thể, theo số liệu tổng kết của Bộ TT-TT, năm 2018, công nghiệp ICT tiếp tục đóng góp tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu toàn ngành, với tổng doanh thu năm 2018 ước đạt 98,9 tỷ USD (năm 2017 là 91,5 tỷ USD), xuất khẩu ước đạt 94 tỷ USD. Lĩnh vực sản xuất phần mềm duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao (13,8%) với doanh thu ước đạt 4,3 tỷ USD, xuất khẩu ước đạt 3,5 tỷ USD. Ở lĩnh vực sản xuất phần cứng, điện tử, viễn thông, tổng doanh thu năm 2018, đã tăng lên tới 2.000.000 tỷ đồng (88 tỷ USD), trong đó, công nghiệp viễn thông với vai trò là hạ tầng cho nền kinh tế số, tổng doanh thu là 350.000 tỷ đồng (15 tỷ USD), tăng trưởng hàng năm 6%. Các doanh nghiệp (DN) trong ngành đã xuất khẩu tới 50 nước trong khu vực và trên thế giới; sản xuất được các thiết bị như tổng đài, BTS, smartphone, set-top-box… Lĩnh vực nội dung số, theo kế hoạch, phải chiếm 20 - 30% doanh thu của các nhà mạng, tuy nhiên hiện nay mới chiếm chưa đến 10%, là tỷ lệ quá thấp so với các nước. Năm 2018, các doanh nghiệp viễn thông di động đã triển khai thành công kế hoạch chuyển đổi mã mạng, dịch vụ chuyển mạng giữ nguyên số; tập trung xử lý triệt để tình trạng SIM rác; quy hoạch tần số thử nghiệm 5G…

Theo kết quả khảo sát và đánh giá Chính phủ Điện tử của Liên Hợp Quốc năm 2018, Việt Nam xếp vị trí thứ 88 trên tổng số 193 quốc gia được thực hiện đánh giá. 

Nhận diện xu hướng và mục tiêu toàn ngành năm 2019 

Hòa cùng xu thế tăng trưởng vũ bão của công nghệ toàn cầu, ngành CNTT-VT Việt Nam cũng nổi lên một số xu hướng điển hình sau:

xu hướng và mục tiêu toàn ngành CNTT năm 2019

>>> Xem thêm:  Tổng hợp danh sách công ty Nhật Bản tại Việt Nam hiện nay<<<

Một là, tiềm năng phát triển của các ứng dụng công nghệ là rất lớn. Cụ thể, trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu (Data Analysis), điện toán đám mây (Cloud Computing), blockchain, phân tích tăng cường, công nghệ Edge, thực tế tăng cường (AR)... là những lựa chọn ưu tiên hàng đầu. Đặc biệt, trong vài năm trở lại đây, làn sóng AI đã lan rộng ra toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, trở thành tâm điểm của cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 cũng như trọng tâm phát triển của rất nhiều doanh nghiệp trong ngành. Hiện tại, Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ việc nghiên cứu và ứng dụng AI trong kinh doanh và đời sống. Các lĩnh vực ứng dụng tiêu biểu như trong điều khiển tự động (làm xe tự lái, robot tự động); chăm sóc sức khỏe (thu thập, đánh giá, đưa ra các chỉ số sức khỏe và chế độ chăm sóc từng bệnh nhân); dịch vụ và quảng cáo (dựa trên thói quen và hành vi mua sắm của khách hàng để đưa ra khuyến cáo về sản phẩm phù hợp)...

Hai là, xu hướng khởi nghiệp trong lĩnh vực CNTT diễn ra sôi nổi dù còn nhiều thách thức. Thực tế, doanh nghiệp Việt Nam khi khởi nghiệp thường gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nhân sự có trình độ và chuyên sâu liên quan đến lĩnh vực CNTT. Tuy nhiên, bù lại các doanh nghiệp này thường rất quan tâm và dành nhiều tiềm lực tài chính để phục vụ việc xây dựng và triển khai nền tảng CNTT vững mạnh. Bên cạnh đó, Chính phủ và Nhà nước luôn thể hiện rõ quan điểm khuyến khích, động viên và ưu tiên hỗ trợ tối đa các doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực CNTT (có các biện pháp miễn giảm thuế để tạo điều kiện thuận lợi cho việc gây dựng và phát triển nền CNTT trong nước).

Ba là, bảo mật dữ liệu và an ninh mạng tiếp tục là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức, doanh nghiệp. Trong bối cảnh hiện nay, dữ liệu là nền tảng để áp dụng các công nghệ mới như Big Data, AI, Data Analysis… nhằm tối đa hóa doanh thu. Với những lĩnh vực như thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến, ví điện tử, các dịch vụ trực tuyến tức thì (đặt xe, gọi thức ăn)…, dữ liệu là huyết mạch sống còn.

Bốn là, vấn đề đạo đức và quyền riêng tư trong kỉ nguyên số ngày càng được quan tâm xứng đáng. Không chỉ người tiêu dùng ngày càng nhận thức rõ giá trị thông tin cá nhân của mình, nâng cao hiểu biết về quyền và trách nhiệm trao đổi thông tin, mà các doanh nghiệp cũng chú ý tới đạo đức kinh doanh hơn, chủ động nhận diện thách thức/nguy cơ để bảo vệ thông tin khách hàng, qua đó góp phần gìn giữ uy tín doanh nghiệp. Về phía Chính phủ, có thể dễ dàng nhận thấy những nỗ lực của các nhà chức trách thông qua việc lập kế hoạch và ban hành các dự thảo luật hỗ trợ, điển hình như Luật An ninh mạng đã được thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2019.

Nhìn chung, năm 2019 là năm tiếp đà tăng trưởng của ngành CNTT-VT nhưng có phần hoàn thiện và “thông minh” hơn. Bộ TTTT đã được Thủ tướng Chính phủ giao hợp tác với Diễn đàn kinh tế thế giới để thành lập Trung tâm CMCN 4.0 tại Việt Nam. Trung tâm dự kiến sẽ bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2019. Đây là trung tâm hình thành các chính sách cho CMCN 4.0, nghiên cứu và tham mưu cho Chính phủ và các Bộ, ngành về công nghiệp 4.0 như Trí tuệ nhân tạo (AI); Internet kết nối vạn vật (IoT); chuỗi khối (Blockchain); Tự động hóa; Thiết bị không người lái và hàng không tương lai; Thương mại số; Công nghiệp 4.0 về Trái đất; Y tế chính xác; Dữ liệu lớn, những công nghệ có thể áp dụng rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Động thái này thể hiện sự quyết tâm "Nâng cao thứ hạng Việt Nam" và đưa ngành CNTT-VT vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội và kinh tế. 

Doanh nghiệp CNTT-VT: Cần làm gì để hài hòa mục tiêu tăng trưởng doanh thu và cải thiện uy tín

Trong khảo sát các doanh nghiệp CNTT-VT do Vietnam Report thực hiện gần đây, đa số (85,7%) cho biết, họ dự định ưu tiên đầu tư cho việc đổi mới, nghiên cứu các sản phẩm mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường, trước khi tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (71,4%) và nghiên cứu, áp dụng các công nghệ mới (57,1%), cho thấy mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp CNTT-VT vẫn là phát triển sản phẩm mới.

3 ưu tiên chiến lược của doanh nghiệp CNTT-VT trong năm 2019 - 2020

3 ưu tiên chiến lược của doanh nghiệp CNTT-VT trong năm 2019 - 2020

Dữ liệu mã hóa truyền thông các doanh nghiệp trong ngành CNTT-VT tại Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 5/2018 đến tháng 5/2019 của Vietnam Report chỉ ra rằng, trong nhóm chủ đề về Khách hàng/ sản phẩm, lượng thông tin về sản phẩm/ dịch vụ nói chung chiếm tỷ lệ cao nhất (28,2%), kế đến là các thông tin về khuyến mại (14,8%) và ra mắt sản phẩm mới (12,5%). 

5 chủ đề có tỷ lệ thông tin lớn nhất ttrong nhóm Khách hàng/ sản phẩm của ngành CNTT-VT Việt Nam

5 chủ đề có tỷ lệ thông tin lớn nhất ttrong nhóm Khách hàng/ sản phẩm của ngành CNTT-VT Việt Nam

Việc ưu tiên phát triển sản phẩm mới hoàn toàn có cơ sở khi nền kinh tế tiếp tục được dự báo tăng trưởng ổn định, cùng với xu thế ứng dụng công nghệ trong hầu hết các ngành nghề hoạt động làm tăng nhu cầu sản phẩm công nghệ được thiết kế riêng biệt, phù hợp với từng đối tượng doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, uy tín, đặc biệt là uy tín truyền thông luôn là vấn đề trăn trở của nhiều doanh nghiệp, nhưng hiện chưa được nhiều doanh nghiệp CNTT-VT coi trọng.

Nếu chỉ tập trung vào chuyên môn mà bỏ qua việc xây dựng uy tín truyền thông, doanh nghiệp CNTT-VT vô hình chung sẽ làm mất đi cơ hội quảng bá thương hiệu và hình ảnh của mình trong mắt cộng đồng. Trong thời gian tới, doanh nghiệp CNTT-VT cần cân nhắc hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng doanh thu và cải thiện uy tín, để doanh nghiệp không chỉ khỏe mà còn đẹp, góp phần đưa ngành CNTT-VT Việt Nam ngày càng vươn cao và vươn xa hơn nữa.

>>>Xem thêm: Top 5 công ty nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam<<<

Bảng xếp hạng Top 10 Doanh nghiệp Công nghệ uy tín năm 2019 là kết quả nghiên cứu độc lập và khách quan của Vietnam Report được công bố thường niên từ năm 2018, dựa trên phương pháp Media Coding (mã hóa dữ liệu báo chí) trên truyền thông, kết hợp nghiên cứu chuyên sâu các ngành trọng điểm, có tiềm năng tăng trưởng cao như: Bất động sản - Xây dựng, Ngân hàng, Bảo hiểm, Dược, Thực phẩm - Đồ uống, Bán lẻ, Du lịch, Logistics...

Phương pháp nghiên cứu phân tích truyền thông để đánh giá uy tín của các doanh nghiệp dựa trên học thuyết Agenda Setting của 2 giáo sư Maxwell McCombs và Donald L. Shaw về sự ảnh hưởng, tác động của truyền thông đại chúng đến cộng đồng và xã hội, được Vietnam Report và các đối tác hiện thực hóa và áp dụng từ năm 2012. Theo đó, Vietnam Report đã sử dụng phương pháp Branch Coding (đánh giá hình ảnh của công ty trên truyền thông) để tiến hành phân tích uy tín của các công ty công nghệ thông tin - viễn thông tại Việt Nam.

Vietnam Report tiến hành mã hóa (coding) các bài báo viết về doanh nghiệp công nghệ được đăng tải trên các trang báo có ảnh hưởng tại Việt Nam trong thời gian từ tháng 05/2018 đến tháng 05/2019. Tổng số có 501 bài báo, tương ứng 1.224 coding unit (đơn vị mã hóa) được đánh giá ở cấp độ câu chuyện (story - level) về 24 khía cạnh hoạt động cụ thể của các công ty từ sản phẩm, kết quả kinh doanh, thị trường... tới các hoạt động và uy tín của lãnh đạo công ty. Các thông tin được lựa chọn để mã hóa (coding) dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản: Tên công ty xuất hiện ngay trên tiêu đề của bài báo, hoặc tin tức về công ty được đề cập tối thiểu chiếm 5 dòng trong bài báo, đây được gọi là ngưỡng nhận thức - khi thông tin được đánh giá là có giá trị phân tích. Các thông tin được đánh giá ở các cấp độ: 0: Trung lập; 1: Tích cực; 2: Khá tích cực; 3: Không rõ ràng; 4: Khá tiêu cực; 5: Tiêu cực. Tuy nhiên, thống kê lại, nhóm nghiên cứu đưa ra 3 cấp bậc để đánh giá cuối cùng, bao gồm: Trung lập (gồm 0 và 3), tích cực (1 và 2), và tiêu cực (4 và 5).

Những nhận định trong thông cáo mang tính tổng quát và tham khảo cho các doanh nghiệp, đối tác; không phải nhận định cá nhân và không phục vụ mục đích hay nhu cầu của bất cứ nhà đầu tư cụ thể nào. Do đó, các bên liên quan nên cân nhắc kỹ tính phù hợp của các thông tin trên trước khi sử dụng để đưa ra quyết định đầu tư và hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc sử dụng các thông tin đó.

thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Top 10 công ty công nghệ hàng đầu Việt Nam 2019

Top 10 công ty công nghệ hàng đầu Việt Nam 2019

Tất cả những việc làm hot nhất tại các Công ty Công nghệ hàng đầu Việt Nam. Các Công ty Công nghệ lọt vào danh sách này dựa trên những tiêu chí Chất lượng sản phẩm – Môi trường làm việc – Chế độ đãi ngộ – Khả năng học hỏi.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

1. CÔNG TY CỔ PHẦN HẠ TẦNG VIỄN THÔNG CMC TELECOM

CÔNG TY CỔ PHẦN HẠ TẦNG VIỄN THÔNG CMC TELECOM

GIỚI THIỆU CÔNG TY

CMC Telecom là một trong 8 công ty thành viên của Tập đoàn Công nghệ CMC. Với gần 9 năm xây dựng, phát triển, CMC Telecom là công ty hạ tầng viễn thông nằm trong TOP 4 các công ty viễn thông hàng đầu Việt Nam. CMC Telecom là nhà cung cấp đầu tiên áp dụng công nghệ GPON và sở hữu hạ tầng truyền dẫn 100% cáp quang.

CMC Telecom được biết tới là nhà cung cấp dịch vụ toàn diện với các sản phẩm truyền số liệu chuyên biệt cho doanh nghiệp như Internet Leased Line, dịch vụ Wan nội hạt; liên tỉnh; quốc tế, Internet cáp quang cho doanh nghiệp và đặc biệt là sản phẩm Internet trên mạng Truyền hình cáp Việt Nam (VTVnet) cho gia đình. Không chỉ cung cấp những dịch vụ viễn thông cơ bản, CMC Telecom còn cung cấp cả các dịch vụ gia tăng cho khối khách hàng doanh nghiệp như Video Conference, Bảo mật Hệ thống và dịch vụ Managed Service…

Hai (02) Data Center trung lập tiêu chuẩn Tier3 của CMC Telecom tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh (thuộc Liên minh Dữ liệu Á Châu ADCA) đã nhận được chứng nhận về bảo mật, an toàn thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế IEC/ISO 27001.

VÌ SAO BẠN LẠI LỰA CHỌN CMC Telecom LÀ NƠI PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP:

Ngay từ những ngày đầu thành lập, chúng tôi luôn mong muốn tập hợp được đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, có tư cách đạo đức tốt để cùng hợp tác, phát triển và chung tay xây dựng công ty ngày càng lớn mạnh và phát triển không ngừng.

Đối với chúng tôi, nhân lực là tài sản quý giá nhất. Sự thành công của CMC Telecom ngày hôm nay có được là nhờ sự đóng góp to lớn của những thế hệ đã và đang làm việc từ khi mới thành lập cho đến hôm nay. Chúng tôi đã, đang và mãi mãi ý thức như vậy.

Chúng tôi cam kết sẽ tạo điều kiện cho các ứng cử viên trúng tuyển được làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp, thân thiện và cạnh tranh lành mạnh. Chúng tôi cam kết sẽ tạo ra những cơ hội để tất cả cán bộ nhân viên trong công ty có thể phát huy tốt nhất khả năng, chuyên môn, nhiệt huyết làm việc để cống hiến cho công ty, cho xã hội, và được hưởng các quyền lợi xứng đáng với công sức của mình. Chúng tôi cam kết đảm bảo thu nhập ổn định ở mức cao, đáp ứng đầy đủ các quyền lợi của người lao động được quy định tại luật lao động.., và hơn thế nữa.

Hãy đến với chúng tôi để xây dựng CMC Telecom ngày càng phát triển và vững mạnh.

Địa Điểm

– Trụ sở chính: Tầng 11 tòa nhà CMC, Đường Duy Tân, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội

– Chi nhánh Hà Nội: Tầng 12 tòa nhà CMC, Đường Duy Tân, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội

– Chi nhánh Hải Phòng: 104 Văn Cao, P. Đằng Giang, Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng

– Chi nhánh Đà Nẵng: 383 Nguyễn Văn Linh – P.Thạc Gián – Q.Thanh Khê – Tp.Đà Nẵng

 Chi nhánh HCM: Tầng 4, tòa nhà Paxsky3, số 225 Bis Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 7, Quận 3, TP Hồ Chí Minh.

>>>Xem thêm:  Tổng hợp danh sách công ty Hàn Quốc tại Việt Nam hiện nay<<<

2. CÔNG TY CỔ PHẦN MISA

CÔNG TY CỔ PHẦN MISA 

TRẢI QUA HƠN 20 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN, ĐẾN NAY MISA CÓ 01 TRỤ SỞ CHÍNH, 01 TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM, 01 TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG, 05 VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN TẠI: HÀ NỘI, ĐÀ NẴNG, BUÔN MA THUỘT, TP.HỒ CHÍ MINH, CẦN THƠ.

Với hơn 179.000 khách hàng Doanh nghiệp, HCSN và đơn vị xã/phường cùng hơn 1 triệu khách hàng cá nhân, MISA đã và đang trở thành người bạn đồng hành không thể thiếu của cộng đồng doanh nghiệp cũng như khối cơ quan nhà nước, cá nhân. 05 VP đại diện của MISA thực hiện chức năng xúc tiến, triển khai các sản phẩm của MISA, tổ chức các khóa tập huấn hướng dẫn sử dụng phần mềm cho khách hàng. Việc đưa phần mềm MISA phổ biến tại 63 tỉnh thành là kỳ tích của các cán bộ, nhân viên tại các văn phòng này.

SỨ MỆNH

Sứ mệnh của MISA là phát triển các nền tảng, phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin để thay đổi ngành kinh tế và giúp khách hàng thực hiện công việc theo phương thức mới, năng suất và hiệu quả hơn nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước và các quốc gia trên thế giới.

TẦM NHÌN

Bằng nỗ lực sáng tạo trong khoa học, công nghệ và đổi mới trong quản trị, MISA mong muốn trở thành công ty có nền tảng, phần mềm và dịch vụ được sử dụng phổ biến nhất trong nước và quốc tế

GIÁ TRỊ CỐT LÕI

Tin cậy- Tiện ích- Tận tình

>>> Xem thêm:  Tổng hợp danh sách công ty Nhật Bản tại Việt Nam hiện nay<<<

3. TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG VIETTEL

 TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG VIETTEL

Tập đoàn Viễn thông Quân đội được thành lập theo quyết định 2097/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký vào ngày 14/12/2009, là doanh nghiệp kinh tế quốc phòng 100% vốn nhà nước với số vốn điều lệ 50.000 tỷ đồng, có tư cách pháp nhân, có con dấu, biểu tượng và điều lệ tổ chức riêng.

Tầm nhìn thương hiệu: 

Tầm nhìn thương hiệu được cô đọng từ việc thấu hiểu những mong muốn của khách hàng và những nỗ lực đáp ứng của Viettel Viettel hiểu rằng, khách hàng luôn muốn được lắng nghe, quan tâm chăm sóc như những cá thể riêng biệt.

Còn Viettel sẽ nỗ lực để sáng tạo phục vụ những nhu cầu riêng biệt ấy với một sự chia sẻ, thấu hiểu nhất.

 Ý nghĩa Slogan: 

“Hãy nói theo cách của bạn” Viettel luôn mong muốn phục vụ khách hàng như những cá thể riêng biệt. Viettel hiểu rằng, muốn làm được điều đó phải thấu hiểu khách hàng, phải lắng nghe khách hàng. Và vì vậy, khách hàng được khuyến khích nói theo cách mà họ mong muốn và bằng tiếng nói của chính mình – “Hãy nói theo cách của bạn”.

 Ý nghĩa Logo: 

Logo được thiết kế dựa trên ý tưởng lấy từ hình tượng dấu ngoặc kép. Khi bạn trân trọng câu nói của ai đó, bạn sẽ trích dẫn trong dấu ngoặc kép. Điều này cũng phù hợp với Tầm nhìn thương hiệu và Slogan mà Viettel đã lựa chọn. Viettel quan tâm và trân trọng từng nhu cầu cá nhân của mỗi khách hàng.

Logo Viettel mang hình elip được thiết kế đi từ nét nhỏ đến nét lớn, nét lớn lại đến nét nhỏ tạo thành hình elipse biểu tượng cho sự chuyển động liên tục, sáng tạo không ngừng (Văn hóa phương Tây) và cũng biểu tượng cho âm dương hòa quyện vào nhau (Văn hóa phương Đông).

Ba màu trên logo cũng có những ý nghĩa đặc biệt: màu xanh (thiên), màu vàng (địa), và màu trắng (nhân). Sự kết hợp giao hòa giữa trời, đất và con người thể hiện cho sự phát triển bền vững của thương hiệu Viettel.

>>>Xem thêm: Top 5 công ty nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam<<<

4. LG VIỆT NAM

LG VIỆT NAM

LG là thương hiệu hàng đầu thế giới trong lĩnh vực điện tử và điện gia dụng. Thành lập năm 1947 tại Hàn Quốc, đến nay LG đã có hơn 120 chi nhánh và văn phòng đại diện tại các nước và sản phẩm LG đến tay người tiêu dùng trên toàn thế giới. Là Công ty tiên phong về công nghệ và đổi mới, LG với các sản phẩm kỹ thuật hiện đại dần chiếm lĩnh thị trường và niềm tin của khách hàng.

Năm 1995 LG chính thức có mặt tại Việt Nam, và trở thành thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Song song với hoạt động kinh doanh, Công ty LG với phương châm “con người là ưu tiên hàng đầu”, liên tục tham gia thực hiện các chương trình từ thiện xã hội, trong đó “đường lên đỉnh Olympia” nổi tiếng của LG suốt 14 năm qua gắn liền với sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài của Việt Nam

5. SAMSUNG VIỆT NAM

SAMSUNG VIỆT NAM

Tập đoàn Samsung là một tập đoàn đa quốc gia của Hàn Quốc có tổng hành dinh đặt tại Samsung Town, Seoul. Tập đoàn có nhiều công ty con, hầu hết hoạt động dưới thương hiệu Samsung, là tập đoàn thương mại lớn nhất Hàn Quốc.

Samsung được sáng lập bởi Lee Byung-Chul năm 1938, được khởi đầu là một công ty buôn bán nhỏ. 3 thập kỉ sau, tập đoàn Samsung đa dạng hóa các ngành nghề bao gồm chế biến thực phẩm, dệt may, bảo hiểm, chứng khoán và bán lẻ. Samsung tham gia vào lĩnh vực công nghiệp điện tử vào cuối thập kỉ 60, xây dựng và công nghiệp đóng tàu vào giữa thập kỉ 70. Sau khi Lee mất năm 1987, Samsung tách ra thành 4 tập đoàn – tập đoàn Samsung, Shinsegae, CJ và Hansol. Từ thập kỉ 90, Samsung mở rộng hoạt động trên quy mô toàn cầu, tập trung vào lĩnh vực điện tử, điện thoại di động và chất bán dẫn, đóng góp chủ yếu vào doanh thu của tập đoàn.

Những chi nhánh quan trọng của Samsung bao gồm Samsung Electronics (công ty điện tử lớn nhất thế giới theo doanh thu, và lớn thứ 4 thế giới theo giá trị thị trường năm 2012), Samsung Heavy Industries (công ty đóng tàu lớn thứ 2 thế giới theo doanh thu năm 2010), Samsung Engineering và Samsung C&T (lần lượt là công ty xây dựng lớn thứ 13 và 36 thế giới). Những chi nhánh chú ý khác bao gồm Samsung Life Insurance (công ty bảo hiểm lớn thứ 14 thế giới), Samsung Everland (quản lý Everland Resort, công viên chủ đề lâu đời nhất Hàn Quốc), Samsung Techwin (công ty không gian vũ trụ, thiết bị giám sát, bảo vệ) và Cheil Worldwide (công ty quảng cáo lớn thứ 16 thế giới theo doanh thu năm 2011).

Samsung có tầm ảnh hưởng lớn trong phát triển kinh tế, chính trị, truyền thông, văn hóa ở Hàn Quốc, và là động lực thúc đẩy chính đằng sau “Kì tích sông Hàn”. Đóng góp 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc. Doanh thu chiếm 17% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hàn Quốc.

Tiến trình phát triển của Samsung luôn song hành với quan điểm : “Đóng góp kinh tế cho quốc gia”, “Ưu tiên cho nguồn nhân lực” và “Theo đuổi chủ nghĩa duy lý”. Mỗi một quan niệm đều tương ứng với những thời khắc quan trọng trong lịch sử của Samsung, phản ánh các giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp phát triển của Công ty, từ hãng chuyên về công nghiệp gia dụng trở thành hãng đi đầu về điện tử tiêu dùng toàn cầu

Một Công ty hàng đầu về kỹ thuật số, một công dân quốc tế có trách nhiệm, một tập đoàn đa năng, một doanh nghiệp có đạo đức,… Samsung là tất cả và còn hơn thế nữa. Tại Tập đoàn Samsung (Samsung group) và Samsung điện tử (Samsung Electronics), các sản phẩm, nguồn nhân lực và phương pháp kinh doanh được xây dựng và duy trì chuẩn cao nhất, Samsung đã đóng góp một cách hiệu quả cho một Thế giới tốt đẹp hơn.

6. INTEL CORPORATION

INTEL CORPORATION

Tập đoàn Intel (Integrated Electronics) thành lập năm 1968 tại Santa Clara, California, Hoa Kỳ. Intel sản xuất các sản phẩm như chip vi xử lý cho máy tính, bo mạch chủ, ổ nhớ flash, cạc mạng và các thiết bị máy tính khác. Ban đầu, Intel là nhà sản xuất bộ nhớ SRAM và DRAM và đây là sự kiện tiêu biểu đầu tiên cho các nhà sản xuất chip bộ nhớ sau này.

Intel có 99.000 nhân viên tại 199 văn phòng và cơ sở sản xuất kinh doanh trên toàn cầu. Năm 2005 doanh thu của Intel đạt hơn 38 tỷ USD, và Intel xếp thứ 50 trong các công ty lớn nhất thế giới.

Intel sản xuất các sản phẩm như chip vi xử lý cho máy tính, bo mạch chủ, ổ nhớ flash, card mạng và các thiết bị máy tính khác. Intel Corporation là công ty sản xuất thiết bị chất bán dẫn lớn nhất thế giới, và là nhà phát minh ra chuỗi vi mạch xử lý thế hệ x86 mà bộ xử lý tìm thấy ở các máy tính cá nhân. Intel làm ra các sản phẩm motherboard chipsets (con chip mạch chủ), network cards (Card mạng lưới) and ICs (mạch tổ hợp), flash memory (bộ nhớ Flash), graphic chips (con chip đồ họa), embedded processors (bộ ghi xử lý), và các thiết bị khác có liên quan đến tin học và sự truyền thông.

7. BOSCH VIETNAM

BOSCH VIETNAM

Tập đoàn Bosch là nhà cung cấp công nghệ và dịch vụ hàng đầu toàn cầu, trong lĩnh vực công nghệ ô tô và công nghiệp, hàng tiêu dùng cũng như công nghệ xây dựng. Tập đoàn Bosch bao gồm Robert Bosch GmbH và khoảng 440 công ty con và công ty khu vực tại hơn 60 quốc gia với hơn 375.000 công ty liên kết trên toàn thế giới.

Tại Việt Nam, Bosch hiện đang hoạt động với bảy bộ phận kinh doanh: Hậu mãi ô tô, Công nghệ điều khiển và lái xe, Công cụ điện, Hệ thống an ninh, Công nghệ nhiệt, Công nghệ đóng gói và Điện tử ô tô.

8. CÔNG NGHỆ KMS

CÔNG NGHỆ KMS

KMS Technology được thành lập bởi một nhóm cựu chiến binh công nghệ thông tin tại Hoa Kỳ và Việt Nam với tầm nhìn xây dựng một tổ chức nhanh nhẹn, sáng tạo và hiệu quả, làm tăng giá trị cổ đông của khách hàng.

Đội ngũ lãnh đạo KMS đang tận dụng kinh nghiệm của họ trong việc điều hành cả các công ty công nghệ được hỗ trợ và mạo hiểm với các hoạt động trên nhiều châu lục để xây dựng công ty tối ưu.

Bạn có thể tìm thêm thông tin về KMS tại: http: //www.kms-t Technology.com/

9. CÔNG TY CỔ PHẦN VNG

CÔNG TY CỔ PHẦN VNG

VNG là công ty đi đầu trong lĩnh vực Internet ở Việt Nam. VNG đã vươn lên trở thành cổng thông tin lớn nhất Việt Nam (Zing.vn), cung cấp các sản phẩm giải trí online (nhạc, game, video, tin tức), mạng xã hội và thương mại điện tử cho gần 20 triệu người sử dụng Internet tại Việt Nam.

Trẻ trung, nhiệt huyết, năng động, không ngừng tìm tòi và khám phá công nghệ mới, chúng tôi đang chiếm lĩnh thị trường với hơn 20 sản phẩm giải trí, liên kết cộng đồng, và phần mềm được ưa chuộng nhất.

>>>Xem thêm:  Top 10 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam uy tín năm 2019<<<

10. FPT SOFTWARE

FPT SOFTWARE

Thành lập năm 1999, được xếp hạng trong Top 100 Gia công phần mềm Toàn cầu, được công nhận là Công ty CNTT tốt nhất để làm việc tại Việt Nam (2014), FPT Software là công ty phần mềm toàn cầu có mặt ở Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu, Châu Á Thái Bình Dương và Úc. Nhân viên của FPT Software tự hào về cạnh tranh công bằng, với chất lượng công việc tương đương với 500 nhân viên của các công ty lớn nhất thế giới trong lĩnh vực công nghệ trung tâm như di động, điện toán đám mây và dữ liệu lớn, trong số những người khác.

Hàng năm, hàng ngàn nhân viên đã đi công tác nước ngoài. Nhân viên của FPT Software hiện nay bao gồm các công dân Việt Nam, Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, Slovakia, Singapore, Malaysia, Ấn Độ, Philippines, Myanmar. Mặc dù có nguồn gốc khác nhau, nhưng tất cả đều có chung sứ mệnh biến Phần mềm FPT thành một trong những công ty phần mềm hàng đầu thế giới.

Bạn cũng có thể làm điều đó với FPT Software Career. Tìm thêm cơ hội tại http://career.fpt-software.com/

– Nhân sự: 10.000 nhân viên

– Văn phòng toàn cầu: Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Philippines, Pháp, Đức, Anh, Slovakia, Hoa Kỳ và Úc

– Công việc đa dạng: R & D, Nhà thiết kế, Chuyên viên phân tích kinh doanh, Kiến trúc giải pháp, Nhà phát triển, Người kiểm tra, Đảm bảo chất lượng, Quản lý dự án, Trưởng nhóm kỹ thuật, Nhật Bản và Giao tiếp, Bán hàng

– Top Clients: IBM, Oracle, Cisco, Microsoft, SAP, NTT, Hitachi, Canon, Panasonic, Toshiba, Sony, Neopost, Freescale…

thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Image

ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: 41 Phan Triêm, Phường Hòa Xuân, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0236.3.707404
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@dng.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: Tầng 7, Tòa nhà HP, 60 Nguyễn Văn Thủ, Đakao, Quận 1, Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 02822446739
Mobile: 0915.888.404
Email: info@hcm.com.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HÀ NỘI

Địa chỉ: Tòa nhà Anh Minh, 36 Hoàng Cầu, p. Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 02422612929
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@hno.vn 
Website: thanhlapcongtydanang.com

 

GỌI NGAY

0915.888.404