DOANH NGHIỆP

Nghỉ dưỡng Nha Trang “rộn ràng” với sự xuất hiện của Peninsula

Nghỉ dưỡng Nha Trang “rộn ràng” với sự xuất hiện của Peninsula

Cả gần năm trời không có dự án mới, nhiều dự án bị rút ra khỏi thị trường hoặc kéo dài thời gian thực hiện do vướng mắc pháp lý…, trong bối cảnh đó, sự xuất hiện đúng lúc và chuẩn mực của Peninsula được ví như thời điểm của “Nắng hạn gặp mưa rào”. Đặc biệt, với những gì mà dự án này sở hữu thì sự chào đón nồng nhiệt từ phía các đại lý bán hàng, của khách hàng dành cho dự án này là lẽ tất nhiên.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

 Dự án Peninsula Nha Trang

Nhộn nhịp từ “trái tim phố biển”

Không phô trương màu mè nhưng với những gì mà Peninsula sở hữu: Vị trí quá đẹp, pháp lý chuẩn chỉnh, chiến lược phát triển bài bản và hấp dẫn…Peninsula là một tín hiệu rất vui của thị trường Nha Trang sau thời gian dài trầm lắng.

Thống kê của Savills cho thấy, 6 tháng đầu năm 2019, không có dự án mới nào được mở bán trên thị trường, lượng giao dịch suy yếu, lượng bán ra đạt chưa đến 200 căn, giảm mạnh so với con số 850 giao dịch của cùng kỳ năm ngoái.

Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của một dự án mới, đủ điều kiện mở bán, vị trí dự án độc tôn, đắc địa và sản phẩm 5 sao, chủ đầu tư tên tuổi, đơn vị vận hành uy tín như Peninsula Nha Trang khiến thị trường nhanh chóng sôi động trở lại.

“Thị trường Nha Trang từ cuối năm ngoái tới nay mới lại nhộn nhịp như thế này, người mua liên tục nhắn tin, gọi điện và tới trực tiếp dự án tham quan, tìm hiểu cơ hội đầu tư và hỏi chúng tôi về thời điểm mở bán”, ông Nguyễn Minh Trí, giám đốc phát triển dự án, Công ty cổ phần Đầu tư Tâm Real, một trong 5 đại lý chính thức phân phối dự án Peninsula Nha Trang cho biết.

“6 tháng qua, Nha Trang khan hiếm nguồn cung condotel, nhất là những dự án tốt, sản phẩm chất lượng, vì vậy thông tin Peninsula Nha Trang mở bán rất được quan tâm. Chúng tôi cảm nhận được sức nóng của dự án trước hết ở những ưu thế đặc biệt của Peninsula Nha Trang từ vị trí đắc địa tới sản phẩm 5 sao, được xây dựng và thiết kế tối ưu với mong muốn của khách hàng”, ông Dương Văn Sỹ, Công ty cổ phần Thương mại và Dịch vụ BĐS An Vượng Land nhận định.

Phân tích rõ nét về mức độ tăng trưởng khách du lịch tới Nha Trang, ông Lý Kim Long, đại diện công ty TNHH đầu tư kinh doanh địa ốc Kim Long cho rằng bên cạnh nguồn khách quen thuộc với thị trường Nha Trang như khách Nga, Trung Quốc, dòng khách Châu Âu và khách Hàn Quốc, Nhật Bản cũng đang ngày một yêu thích Nha Trang. Ngành Du lịch tỉnh này đã có chiến lược thu hút nguồn khách mới, đa dạng hóa nguồn khách quốc tế, năm 2019 dự kiến đón trên 6,8 triệu lượt khách du lịch. “Khách du lịch tăng mạnh kéo theo nhu cầu lớn về cơ sở lưu trú, hứa hẹn lấp đầy tỷ lệ sử dụng căn hộ condotel. Những dự án tốt, vị trí trung tâm phố biển như Peninsula Nha Trang sẽ là kênh đầu tư đầy tiềm năng, hấp dẫn”, ông Long nói.

Ghi nhận của phóng viên cho thấy, có cả ngàn nhân viên sale hào hứng tham gia chiến dịch bán hàng của Peninsula Nha Trang. Nhiều “chiến binh” còn cạo tóc tạo hình tên dự án lên đầu thể hiện sự “máu lửa” của mình và các đại lý bán hàng đều rất tự tin vào khả năng hấp thụ sản phẩm từ dự án này. “Peninsula Nha Trang ra hàng như nắng hạn gặp mưa, chúng tôi rất hào hứng với dự án”, ông Bùi Trọng Vương, Công ty cổ phần Đầu tư BĐS Eland chia sẻ.

Tiến độ dự án Peninsula Nha Trang

“Sức hút” Peninsula Nha Trang

Nằm trong Khu đô thị biển An Viên, vị trí độc tôn, hiếm hoi còn sót lại của trung tâm Nha Trang, Peninsula Nha Trang trải dài trên 2,2km bờ biển, được ví như trái tim phố biển Nha Trang. Tòa khách sạn sở hữu tầm nhìn ôm trọn Vịnh Nha Trang - Top 29 vịnh biển đẹp nhất thế giới và nằm trên trục đường Trần Phú – con đường vàng của Nha Trang.

Đây là dự án gần như đầu tiên tại Nha Trang khai thác một phân khúc tiềm năng nhưng rất mới là căn hộ du lịch, tiêu chuẩn 5 sao được thiết kế phù hợp với nhu cầu và tâm lý sử dụng của đối tượng khách du lịch Châu Âu, Đông Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Đây là mảnh ghép hoàn hảo cho thị trường cơ sở lưu trú của Nha Trang lâu nay vốn dĩ được xây dựng chủ yếu phục vụ cho khách Nga và Trung Quốc.

Bên cạnh đó, điểm cộng của Peninsula là không chỉ đơn thuần khai thác dịch vụ lưu trú và các dịch vụ phục vụ khách lưu trú, Chủ đầu tư dự án đồng thời đầu tư khu trung tâm mua sắm và giải trí biển Peninsula Square rộng 8,187m2. Đây là tổ hợp vui chơi giải trí với các hạng mục như rạp chiếu phim, trung tâm outlet, các trò vui chơi giải trí cho trẻ em và người lớn, khu trượt băng, vui chơi liên hoàn, Game đua xe, bắn súng, game công nghệ cao… “Chúng tôi đặt mục tiêu đưa Peninsula Square trở thành trung tâm giải trí biển tại Nha Trang”, Đại diện đơn vị phát triển dự án chia sẻ.

Nét mới mẻ này cùng với vị trí độc tôn, hiếm có, đem lại sức hút riêng biệt cho Peninsula Nha Trang. Từ đây, du khách chỉ cần 200m là tới Cảng tàu du lịch, 800m tới cảng Vinpearl. Khi cảng tàu du lịch được di chuyển về KĐT An Viên, du khách nghỉ dưỡng tại Peninsula sẽ đi tham quan các địa điểm du lịch khác của vùng biển Nha Trang dễ dàng và thuận tiện hơn.

Đặc biệt, 615 căn hộ hạng sang, tiêu chuẩn 5 sao của Peninsula Nha Trang 100% đều hướng biển, view biển, 100% căn hộ có tầm nhìn ôm trọng vịnh xanh. Toà cao ốc ven biển này được thiết kế hình chữ v để đảm bảo 100% phòng khách sạn đều có tầm nhìn trọn vẹn biển, kính cong để tận dụng góc ban công view biển.

Mỗi phòng khách sạn là một nghệ thuật với sự hoàn thiện nội thất ở cấp độ cao, cách âm tuyệt vời kết hợp tổng hòa sang trọng tới từng chi tiết nhỏ nhất. khách sạn được thiết kế theo phong cách resort với hệ thống sân vườn cả mặt đất và trên cao. Trang trí nội thất là sự kết hợp giữa phong cách phương tây thanh lịch và đặc trưng Nha Trang. Ngay từ sảnh, du khách sẽ cảm giác như đang ngắm những đàn yến đang về tổ, ngoài cửa kính là sân vườn tràn ngập ánh sáng và hương hoa êm dịu.

Đại diện đơn vị phát triển dự án, Công ty CP Tập đoàn đầu tư Maxland tiết lộ, dự án hướng tới mục tiêu kiến tạo một thiên đường du lịch và nghỉ dưỡng theo phong cách 5S & more, trở thành tâm điểm du lịch vui chơi giải trí mới của Nha Trang. Tại Peninsula Nha Trang, lần đầu tiên, du khách sẽ được trải nghiệm phong cách du lịch mới từ cơ sở lưu trú hiện đại, kiến trúc thanh lịch, sang trọng, đẳng cấp ngay giữa lòng phố biển nhưng lại như nghỉ dưỡng ở resort nhờ hệ thống sân vườn độc đáo, trung tâm mua sắm và giải trí Peninsula Square sẽ là miền vui chơi bất tận, đầy cảm hứng, bãi biển nhiệt đới rộng gần 5 ha, bể bơi vô cực tầng thượng, tầm nhìn biển không giới hạn…Peninsula Square cũng là dự án duy nhất  sở hữu “vườn & kính xuyên không”, hứa hẹn là địa điểm check in lung linh độc đáo, duy nhất tại Nha Trang.

Nhằm đem đến cho du khách trải nghiệm tuyệt vời nhất của kỳ nghỉ hay đi công tác, chủ đầu tư Peninsula Nha Trang đặc biệt tích hợp các tiện ích sang trọng, đẳng cấp với hệ thống nhà hàng sang trọng, phòng hội thảo, Business center, khu Gym, Spa, massage, xông hơi hiện đại , Rooftop Bar, bể bơi vô cực rộng gần 500m2… cùng với khu trông trẻ và vui chơi trẻ em, cảnh quan sân vườn độc đáo.

Peninsula Nha Trang được đầu tư bởi Công ty CP đầu tư điện lực Hà Nội (HNPIC) và sẽ được quản lý vận hành bởi đơn vị quản lý vận hành quốc tế. Dự án sẽ đi vào vận hành cuối năm 2020, bổ sung cho Nha Trang 615 phòng lưu trú hạng sang, đáp ứng nhu cầu của đối tượng du khách có mức chi tiêu cao.

  thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Cổ phiếu doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài chi phối: Trái đắng hay quả ngọt?

Cổ phiếu doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài chi phối: Trái đắng hay quả ngọt?

Những doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài chi phối luôn làm "xao động" thị trường mỗi lần lên sàn, bên cạnh những "quả ngọt" thì có không ít nhà đầu tư đã nếm phải "trái đắng".

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Cổ phiếu doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài chi phối: Trái đắng hay quả ngọt?

Những "trái đắng"

Đầu tiên có thể kể đến cổ phiếu SKG của Công ty cổ phần Tàu cao tốc Superdong Kiên Giang. Thành lập năm 2007 với vốn điều lệ 10 tỷ đồng và phát triển thần tốc trong 10 năm lên mức vốn hóa trên 2.000 tỷ đồng vào thời kỳ đỉnh cao năm 2016, lúc bấy giờ, SKG được xem như một “công ty độc quyền” vận tải đường tàu cao tốc vào Phú Quốc – với kỳ vọng hòn đảo này trở thành casino đầu tiên cho người Việt.

Do kỳ vọng quá lớn, nên nhiều nhà đầu tư đã quên đi các rủi ro về mặt bản chất của SKG khi doanh nghiệp này có cơ cấu cổ đông hoàn toàn bị chi phối bởi các ông chủ người Malaysia.

Bên cạnh đó, một điểm không thể bỏ qua là toàn bộ tàu đều được đóng qua công ty liên quan tại Malaysia (Kaibuok Shipyard Bhd) - quê hương của các ông chủ trên – với chi phí không rõ ràng.

Và yếu tố thứ ba là SKG thậm chí phải trả trước hàng trăm tỷ tiền đóng tàu và bảo dưỡng qua Malaysia. Tất cả điều này hội tụ lại đều dấy lên một lo ngại rất lớn về rủi ro chuyển giá.

Như vậy, hẳn nhiều nhà đầu tư thông minh, cẩn trọng cũng sẽ tự hỏi rằng: “Nếu công ty độc quyền tốt như thế, thì vì động cơ gì họ lại muốn niêm yết công ty dù họ không có nhu cầu gọi vốn hay bất cứ thúc ép nào từ Chính phủ (?!)”.

Câu trả lời nằm ở vài tháng sau khi niêm yết, ban lãnh đạo SKG liên tục bán ra cổ phiếu, hầu như chưa bao giờ mua vào – một dấu hiệu xấu.

Đến nay, vốn hóa SKG đã giảm gần 70% xuống còn 645 tỷ đồng, lợi nhuận cả năm 2018 chỉ vỏn vẹn chỉ 3 tỷ đồng, bằng 1/60 so với hai năm trước đó. Đây là một bài học đắt giá cho những nhà đầu tư cả tin.

Trường hợp thứ hai là Công ty Cổ phần Seoul Metal Vietnam (mã SMV trên sàn OTC). SMV vốn là một nhà sản xuất đinh ốc vít siêu nhỏ gốc Hàn Quốc cho các doanh nghiệp sản xuất điện thoại, linh kiện như Samsung (chiếm 75% doanh thu của SMV) và khi thị trường chứng khoán đang ở trạng thái "mua là thắng" khoảng giữa năm 2017 thì SMV công bố rộng rãi rằng mình sẽ lấn sân sang mảng đinh ốc cho ô tô, rồi hứa hẹn rằng sẽ niêm yết trong quý 4/2017, thậm chí doanh nghiệp này còn chào bán cổ phần riêng lẻ thành công cho cả SCIC và nhiều tổ chức tài chính khác, thu hút uy tín và sự kỳ vọng đáng kể cho các nhà đầu tư cá nhân Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu soi vào cơ cấu cổ đông công ty thì khi đó có đến 60% cổ phần chi phối bởi công ty mẹ Seoul Metal Hàn Quốc. Đặc biệt, doanh nghiệp này phụ thuộc gần 90% doanh thu đến từ các công ty sản xuất Hàn Quốc lớn như Samsung, LG, và phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu từ công ty mẹ. Đáng chú ý là hàng loạt cổ đông nội bộ bán ra trước khi lên sàn.

Và rồi, chỉ sau vài tháng sau, SMV không những bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước từ chối cho phép niêm yết, mà còn ngừng công bố hẳn báo cáo tài chính quý. Giá cổ phiếu trên OTC giảm một mạch gần 60%, từ 45.000đ/cp xuống còn dưới 20.000đ/cp. Hơn nữa, kết quả kinh doanh của công ty cũng sụt giảm năm đầu tiên sau rất nhiều năm tăng trưởng, để lại một di sản xấu cho các cổ đông cả tin, có cả đơn vị SCIC nổi tiếng.

Gần đây, dù nhiều người kỳ vọng vào các đợt mua bán và sáp nhập (M&A), thoái vốn, tuy nhiên sau khi những thương vụ thành công, những công ty bị mua lại bởi khối ngoại không những không tốt lên, mà còn đi thụt lùi.

Trường hợp Công ty CP Nhựa Bình Minh (BMP) và cả công ty nhỏ Siam Brothers Việt Nam (SBV) là những trường hợp kinh điển. Biên lợi nhuận gộp của các công ty này giảm đều theo thời gian, bất chấp biến động của nguyên liệu, dấy lên lo ngại của các nhà đầu tư về chi phí đầu vào mà các công ty này bắt đầu nhập khẩu từ đối tác Thái Lan...

Như vậy, từ các trường hợp trên có thể thấy rằng, do sự thiếu tin tưởng vào thể chế, động cơ tư lợi, mô hình kinh doanh phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, đa số các công ty có ông chủ ngoại ở nước ta đều tiềm ẩn rủi ro rất lớn về việc chuyển giá, giao dịch nội bộ, thậm chí làm giả số liệu để bán được cổ phiếu ra nhanh chóng.

Vẫn có những điểm sáng

Dù vậy, nhìn một cách khách quan, vẫn có đâu đó những trường hợp doanh nghiệp FDI hạch toán đúng sự thật, kinh doanh hiệu quả cao, tạo việc làm và chi cổ tức hào phóng cho các cổ đông.

Tổng Công ty Máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEA) là một ví dụ đặc biệt khi hàng năm công ty vẫn nhận được cổ tức gần 5.000 tỷ đồng đều đặn từ các gã khổng lồ FDI tương đối “đàng hoàng” như Honda Vietnam, Toyota, Ford.

Ngoài ra, SATRA Corp cũng là một dạng holdings đặc biệt tương tự như VEA khi công ty này nắm giữ 40% cổ phần của ông lớn Heineken Vietnam, thu lợi cổ tức 4.000-5.000 tỷ đồng mỗi năm, song những trường hợp này thường rất hiếm hoi và được xếp vào dạng “ngoại lệ”.

Tóm lại, thị trường chứng khoán luôn vận động liên tục, mọi quyết định mua bán còn dựa trên nhiều yếu tố và cơ hội luôn mở ra cho những nhà đầu tư có một triết lý đầu tư đúng đắn và biết kiên định với mục tiêu của mình. Trong đó, điều quan trọng mà các  nhà đầu tư cá nhân cần phải ghi nhớ là cần tìm hiểu thật kỹ những doanh nghiệp, đặc biệt là triển vọng của họ trước khi giải ngân đầu tư vào cổ phiếu của những doanh nghiệp này, tránh đầu tư theo phong trào.

 

  thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Kinh tế trong nước diễn biến tích cực

Kinh tế trong nước diễn biến tích cực

Sáng 25/9, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Chủ tịch Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia đã chủ trì phiên họp quý III/2019 nhằm tham vấn các chính sách tài chính, tiền tệ, thương mại tới Chính phủ.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Kinh tế trong nước diễn biến tích cực

Tại cuộc họp, Ngân hàng Nhà nước và các Bộ: Tài chính, Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư đã có các báo cáo quan trọng liên quan tới các chính sách tài chính, tiền tệ, thương mại của quốc gia trong những tháng qua và từ đầu năm tới nay, đồng thời đề xuất định hướng giải pháp điều hành các chính sách vĩ mô từ nay tới cuối năm 2019 và dự kiến cho năm 2020.

Các thành viên Hội đồng đều đánh giá cao chất lượng thông tin từ các bộ, ngành và cơ bản đồng tình với nhận định mặc dù kinh tế thế giới và các nền kinh tế lớn tăng trưởng chậm lại, thị trường tài chính-tiền tệ và thương mại toàn cầu biến động phức tạp nhưng kinh tế trong nước diễn biến khả quan và đạt nhiều kết quả quan trọng trong 9 tháng đầu năm; tin tưởng cả nước sẽ hoàn thành được kế hoạch của năm 2019.

Cụ thể, tình hình xuất khẩu của các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Thái Lan đều tăng trưởng âm trong 8 tháng đầu năm. Trung Quốc và Ấn Độ tăng trưởng dương lần lượt là 0,4% và 1,04% nhưng đều thấp hơn cùng kỳ năm ngoái (lần lượt là 12% và 11,5%). Trong quý II/2019, GDP của nhiều nước cũng tăng chậm lại đáng kể, trong đó có cả Hoa Kỳ, Đức, Trung Quốc, Thái Lan...

Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đều hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 so với dự báo đưa ra hồi nửa đầu năm. Các ngân hàng trung ương trên thế giới có xu hướng chuyển sang nới lỏng chính sách tiền tệ với 95 lượt hạ lãi suất.

Trong khi đó, các chuyên gia đánh giá các chỉ số trong 8 tháng đầu năm 2019 của VIệt Nam phù hợp với mục tiêu đặt ra và hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 6,8% cho cả năm. Động lực đến từ sự phục hồi của lĩnh vực công nghiệp khai khoáng, tiêu dùng trong nước, giải ngân vốn FDI, một số dự án chế biến chế tạo mới (thép, chế xuất xăng dầu) bù đắp được xu hướng chậm lại của sản xuất điện thoại, linh kiện.

Lạm phát vẫn nằm trong tầm kiểm soát khi bình quân 8 tháng chỉ tăng 2,57%, là mức thấp nhất trong 3 năm qua do mức điều chỉnh giá một số mặt hàng Nhà nước quản lý thấp hơn các năm trước, giá nguyên liệu chất đốt giảm mạnh theo giá thế giới, các nhóm hàng khác không có biến động giá và lạm phát cơ bản ổn định.

  thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Tăng tốc “rượt đuổi” mục tiêu xuất khẩu

Tăng tốc “rượt đuổi” mục tiêu xuất khẩu

Theo Bộ Công thương, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đang mất cân đối. Với những ngành hàng có thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn giữ mức tăng trưởng ổn định. Ngược lại, nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ yếu vào Trung Quốc thì giảm mạnh về số lượng hoặc giá trị.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tăng tốc “rượt đuổi” mục tiêu xuất khẩu

Nhiều mặt hàng gặp khó

Đơn cử với hàng nông sản, kim ngạch xuất khẩu 8 tháng chỉ đạt 11,27 tỷ USD, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm 2018. Nhóm hàng xơ sợi tuy vẫn giữ đà tăng trưởng 16% (tính đến đầu tháng 9-2019), nhưng giá trị gia tăng không cao. Tính chung, kim ngạch xuất khẩu đến nay đã giảm hơn 10% so với cùng kỳ năm 2018.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, lý giải việc Trung Quốc liên tục phá giá đồng nhân dân tệ đã tạo ra sự chênh lệch lớn giữa đồng đô la Mỹ với đồng nhân dân tệ. Trong khi đó, doanh nghiệp (DN) Việt phải nhập khẩu bông của Mỹ, sản xuất và xuất sợi vào thị trường Trung Quốc, nên biên độ lợi nhuận giảm.

DN nào ký hợp đồng xuất khẩu thanh toán bằng đồng nhân dân tệ thì lợi nhuận còn giảm mạnh hơn. Ngoài ra, các thị trường nhập khẩu sợi khác của Việt Nam như Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Ai Cập… liên tục áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, tăng thuế nhập khẩu với sản phẩm này khiến hàng Việt càng giảm năng lực cạnh tranh. 

Bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hội Lương thực, thực phẩm TPHCM, thông tin các cơ quan chức năng Trung Quốc đã ban hành nhiều quy định mới, như yêu cầu tất cả sản phẩm cá nuôi hoặc đánh bắt từ biển (hải sản ướp đá) đều phải được lấy từ các công xưởng có đăng ký DN Việt Nam, khi khai báo hải quan phải xuất trình chứng thư về thủy sản do Nhà nước Việt Nam cấp. Phía Trung Quốc cũng thông báo một số nội dung liên quan đến quản lý, giám sát hàng hóa, đặc biệt là tăng cường quản lý về kiểm dịch… Thực tế này đã gây khó khăn cho hàng xuất khẩu. 

Tuy nhiên, tín hiệu vui lại đến với những ngành hàng khác như điện - điện tử, phụ tùng máy móc, linh kiện điện tử, máy tính, cao su - nhựa, lương thực thực phẩm… Đây là nhóm ngành hàng vẫn duy trì đều đặn đà tăng trưởng ở mức trên 10% từ đầu năm đến nay. Cá biệt, điện thoại các loại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu trong tháng 8 đạt trị giá 5,91 tỷ USD, tăng 48,1% so với tháng trước, kéo kim ngạch xuất khẩu toàn ngành trong 8 tháng đạt 33,39 tỷ USD. Mức tăng trưởng ấn tượng này nhờ xuất khẩu tập trung chủ yếu ở các thị trường Mỹ, châu Âu, Á - Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Hiện Mỹ và Liên minh châu Âu vẫn là thị trường xuất khẩu chủ lực của các nhóm ngành hàng này, chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. 

Linh hoạt thị trường 

Chỉ còn 3 tháng nữa kết thúc năm 2019 và theo các chuyên gia, để giữ được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu, DN cần chủ động hơn trong việc tìm kiếm, mở rộng thị trường; đa dạng nguồn hàng và thị trường xuất khẩu. Tham tán thương mại Việt Nam tại Australia cho hay, hiện nhiều DN đã chủ động chuyển xuất khẩu thô sang xuất khẩu đã qua chế biến và có thương hiệu.

Cách tiếp cận thị trường cũng được chuyển đổi theo hướng sâu và chặt chẽ hơn với các hệ thống phân phối ngoại. Điều này giúp DN Việt chuẩn hóa chất lượng, mẫu mã hàng hóa ngay từ khâu sản xuất. Đồng thời giảm rủi ro do phải thu hồi lô hàng khi không đáp ứng điều kiện xuất vào nước bạn. Riêng với ngành chế biến thực phẩm, các DN còn chủ động tham gia chuỗi cung ứng hệ thống nhà hàng, khách sạn, từng bước tiếp cận người tiêu dùng và gia nhập sâu thị trường. 

Ông Vũ Đức Giang chia sẻ thêm, tuy ngành xơ sợi Việt Nam giảm mạnh về kim ngạch xuất khẩu, nhưng ngược lại, DN may mặc có sự gia tăng đột biến đơn đặt hàng dịch chuyển từ khu vực Trung Quốc.

Hoặc như ngành nhựa, ông Trần Việt Anh, Phó chủ tịch Hiệp hội DN TPHCM, cho biết thêm, ngay từ đầu năm 2019, nhiều DN đã có sự chuyển đổi công nghệ sản xuất theo hướng tập trung phát triển sản phẩm thân thiện môi trường, nhựa kỹ thuật hoặc sản phẩm nhựa xuất khẩu không nằm trong danh mục bị thị trường quốc tế đánh thuế hoặc hạn chế sử dụng. Do vậy, có thể bù đắp vào tổng kim ngạch xuất khẩu chung của toàn ngành. 

Theo các chuyên gia kinh tế, cuộc chạy đua hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chỉ còn 3 tháng nữa để tăng tốc. Dựa vào năng lực cũng như sự linh hoạt trong việc tìm kiếm, chuyển tiếp thị trường xuất khẩu hiện nay của các DN Việt, hy vọng mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đặt ra từ đầu năm sẽ đạt được.

 

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Cải cách chính sách tài khóa thúc đẩy tăng trưởng

Cải cách chính sách tài khóa thúc đẩy tăng trưởng

Chính sách tài khóa là một trong những công cụ điều hành vĩ mô quan trọng của nền kinh tế. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tiến hành cải cách chính sách tài khóa mạnh mẽ để phù hợp với bối cảnh hội nhập. Nhìn chung, các chính sách tài khóa đã đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Cải cách chính sách tài khóa thúc đẩy tăng trưởng

Đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế

Chính sách tài khóa là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, chính sách tài khóa của Việt Nam được thực hiện theo hướng mở rộng; thực hiện tốt (thu, chi ngân sách được cân đối phù hợp với qui mô nền kinh tế) đã tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và các tổ chức tài trợ quốc tế.

Những năm qua, Bộ Tài chính đã chỉ đạo thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương thu, chi ngân sách ở tất cả các cấp, ngành, địa phương và đơn vị. Nhờ vậy, tỷ trọng chi thường xuyên giảm (năm 2018 giảm còn dưới 62% tổng chi ngân sách nhà nước, mục tiêu là dưới 64%), tỷ trọng chi đầu tư phát triển tăng (năm 2018 đạt trên 27%, mục tiêu là 25 - 26%).

Cùng với việc tích cực xây dựng, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn Luật Quản lý nợ công, Bộ Tài chính đã đẩy mạnh cơ cấu lại nợ công theo hướng bền vững; Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, triển khai các giải pháp phát triển cân bằng và toàn diện thị trường tài chính, cùng với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thông qua việc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại DN, thu đủ số cổ tức, lợi nhuận sau thuế, tiền bán vốn tại các DN theo nghị quyết Quốc hội...

Có thể khẳng định, các chính sách tài chính đã đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; góp phần quan trọng vào đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đi vào thực chất hơn, tạo ra nhiều chuyển biến quan trọng và rõ nét. 

Chính sách tài chính nói chung và chính sách tài khóa nói riêng được xây dựng hướng đến tính an toàn và bền vững; Kỷ luật tài khóa được tuân thủ chặt chẽ, không để xảy ra tình trạng phá vỡ các kế hoạch ngân sách đã phê duyệt; Hạn chế tối đa các khoản chi cho tiêu dùng, trong đó chi hành chính cho bộ máy chính phủ được xem là khá “cồng kềnh” hiện nay bằng cách đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh giảm biên chế, chuyển các đơn vị sự nghiệp sang cơ chế tự chủ tài chính để giảm bớt gánh nặng chi sự nghiệp từ nguồn vốn ngân sách… 

Đồng bộ chính sách tài chính tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng

Đánh giá cao về những kết quả tích cực trong đổi mới, cải cách chính sách tài khóa, các chuyên gia cho rằng, thực tiễn vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần làm rõ trong bối cảnh hiện nay, đó là chính sách tài chính phải làm gì để phục vụ mô hình tăng trưởng mới. Với việc chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu, đòi hỏi Nhà nước cần có xuất giải pháp cải cách mang tính đột phá, đồng bộ các chính sách tài chính nhằm tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới.

 

Làm rõ về vấn đề này, ông Hà Huy Tuấn - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đề xuất nhiều giải pháp, như cần có chính sách thuế tài sản, huy động nguồn lực từ đất đai để tái cơ cấu nền kinh tế.

Ông Hà Huy Tuấn cho rằng, các chính sách tài chính trong thời gian tới, nhất là chính sách huy động nguồn lực, cần duy trì ổn định tỷ trọng thu thuế, phí; Đơn giản hóa các chính sách, đơn giản mục tiêu, có thể hiểu là mỗi chính sách thuế chỉ cần đạt được một mục tiêu; Thu ngân sách nên bình đẳng, công bằng, còn hỗ trợ nên chuyển sang phần chi ngân sách.

Về các chính sách thu ngân sách, ông Hà Huy Tuấn đề nghị, thuế trực thu cần phải ưu đãi, mở rộng diện chịu thuế. Đối với thuế gián thu, cũng cần giải ưu đãi, mở rộng diện chịu thuế và hợp nhất, đơn giản hóa thuế suất. Đồng thời, phải coi thuế tài sản là nguồn thu chính, giá tính thuế thực hiện theo giá thị trường gắn với quy hoạch đất đai và thuế suất. 

Đưa ra các giải pháp về chính sách phân bổ nguồn lực, ông Đặng Văn Thanh - Chủ tịch Hội Kế toán Kiểm toán Việt Nam đề xuất, nên sớm xây dựng Luật Tài chính quốc gia; Có chính sách quản lý tập trung toàn bộ các nguồn quỹ quốc gia, nên tổng kết để có hệ thống chính sách thuế ổn định trong vòng 5 - 10 năm tới. Bên cạnh đó, cần đánh giá lại thị trường trái phiếu chính phủ; Huy động mạnh mẽ nguồn lực tài chính nhà nước; Tiếp tục có chính sách huy động nguồn vốn FDI, ODA có chọn lọc kỹ càng hơn; cơ cấu lại chi NSNN; phân bổ nguồn lực tài chính rõ ràng, hiệu quả hơn…

Theo GS.,TS. Nguyễn Thị Cành, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh), vấn đề quan trọnđể kiểm soát các khoản chi cần phải minh bạch trong công bố thông tin. Theo thông lệ các nước phát triển, cân đối NSNN cũng phải theo chuẩn mực như một báo cáo tài chính DN. Vì vậy, Chính phủ cần có quy định báo cáo tài chính của các địa phương, các cơ quan nhận nguồn tài trợ từ NSNN. Chẳng hạn quy định báo cáo tài chính công cần có bảng cân đối tài chính và thuyết minh một cách minh bạch...

“Chúng tôi đánh giá cao cách tiếp cận của Chính phủ Việt Nam trong việc hướng tới một chính sách tài chính tạo động lực cho tăng trưởng. Đây là nỗ lực lớn trong việc cơ cấu chính sách tài chính của một đất nước. Việc phấn đấu tăng trưởng GDP và tăng chi tiêu công trong mục tiêu trung hạn là rất lớn. Trong bối cảnh đó, nguồn thu từ dầu, từ thuế xuất nhập khẩu có khả năng suy giảm, giảm mức thuế theo các cam kết tại các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là Hiệp định EVFTA… là thách thức đối với Việt Nam.”

Ông Sebastian Paust - Tham tán thứ nhất, Trưởng Bộ phận hợp tác phát triển, Đại sứ quán Đức tại Việt Nam

 

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Chính sách tài chính hướng đến mô hình tăng trưởng xanh

Chính sách tài chính hướng đến mô hình tăng trưởng xanh

Thời gian qua, tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa nhiều vào khai thác, xuất khẩu tài nguyên thô, làm cho môi trường có nguy cơ bị đe dọa, ảnh hưởng đến phát triển bền vững. Hiện nay, Việt Nam đang có nhiều nỗ lực hướng đến tăng trưởng xanh thông qua việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Do đó, vấn đề đặt ra là cần triển khai hiệu quả các chính sách tài chính phục vụ cho tăng trưởng xanh.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Chính sách tài chính hướng đến mô hình tăng trưởng xanh

Trên cơ sở Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh của Chính phủ, ngày 20/10/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2183/QĐ-BTC về kế hoạch hành động ngành Tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020 với việc xác định rõ định hướng điều chỉnh chung.

Theo đó, việc điều chỉnh chính sách tài chính hướng đến tăng trưởng xanh diễn ra theo xu hướng như: Nâng cao nhận thức, huy động tối đa nguồn lực hệ thống tài chính cho mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, hướng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế xanh, bền vững; Củng cố nguồn thu, thay đổi cấu trúc ngân sách nhà nước (NSNN), cơ cấu kinh tế, mô hình kinh doanh theo hướng xanh hóa, bền vững; Giảm thiểu triệt để các tác nhân gây hại môi trường thông qua việc mở rộng phạm vi đối tượng chịu thuế, điều chỉnh mức điều tiết thuế, phí bảo vệ môi trường; Khuyến khích nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua công cụ thuế, chi NSNN cho Chương trình mục tiêu quốc gia; Khuyến khích các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa triển khai các hoạt động sản xuất - kinh doanh theo tiêu chí tăng trưởng xanh thông qua việc mở rộng các ưu đãi về thuế, tín dụng...

Ngoài việc hạn chế, ngăn ngừa các tác nhân gây hại môi trường, chính sách tài chính còn hướng đến khuyến khích sản xuất, tiêu dùng xanh thông qua các công cụ thuế, chi NSNN, tín dụng, chính sách thúc đẩy thị trường vốn xanh. Cụ thể:

Đối với chính sách thuế: Các chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất - nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng từng bước được hoàn thiện theo hướng chú trọng khuyến khích đầu tư, sản xuất theo công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và hỗ trợ cho việc thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia.

Đối với chi NSNN: Chi NSNN ngày càng ưu tiên cho các Chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến bảo vệ môi trường với các nội dung trọng tâm là: Chi NSNN cho sự nghiệp môi trường, với mức kinh phí không thấp hơn 1% tổng chi cân đối của NSNN trong dự toán ngân sách nhằm hỗ trợ các nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo dự án, thực hiện phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường quốc gia; xây dựng và ban hành tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường...; Các chương trình môi trường quốc gia như Chương trình 327 trông lại rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc hay Chương trình 5 triệu ha rừng, chi NSNN cho giảm nghèo, nước sạch và hợp vệ sinh.

Đối với chính sách tín dụng: Trong kế hoạch hành động của Chính phủ nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế hướng đến tăng trưởng xanh, các tổ chức tín dụng được xem là những mắt xích quan trọng.

Từ năm 2015, theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước được đưa ra trong Chỉ thị số 03/2015/CT-NHNN và Chỉ thị số 01/2017/CT-NHNN, hoạt động cấp tín dụng của ngành Ngân hàng phải chú trọng đến những dự án có mục tiêu rõ ràng về bảo vệ môi trường, đồng thời khuyến khích hoạt động kinh doanh thân thiện với môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng, cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời đảm bảo phát triển, tăng trưởng bền vững.

Thời gian qua, tăng trưởng kinh tế nước ta còn dựa chủ yếu vào khai thác, xuất khẩu tài nguyên thô. Môi trường tiếp tục bị xuống cấp trong khi các thảm họa do thiên tai và những diễn biến về thay đổi khí hậu toàn cầu đang tăng nhanh, gây nhiều thiệt hại về người và của và đang gây những áp lực cho phát triển bền vững đất nước.

Trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, nguy cơ không bảo đảm về an ninh năng lượng và nguy cơ thiếu hụt năng lượng phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước đang hiện hữu. Nhằm tái cấu trúc và từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu theo hướng xanh hóa, nhiều chính sách của Chính phủ đã được thiết kế và ban hành, trong đó phải kể đến chính sách tài chính hướng đến tăng trưởng xanh.

 

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Lo ngại xói mòn năng lực cạnh tranh và lợi thế so sánh

Lo ngại xói mòn năng lực cạnh tranh và lợi thế so sánh

Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) vừa công bố báo cáo tập hợp quan điểm của 7 hiệp hội (VCCI, VASEP, VISTA, JCCI, VEI…), nêu ra những điểm có thể gây tác hại của dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi (bản dự thảo tại thời điểm 11/8/2019).

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Lo ngại xói mòn năng lực cạnh tranh và lợi thế so sánh

Theo báo cáo, Việt Nam sẽ phải đối phó với việc giảm kim ngạch xuất khẩu, còn ở bên trong, các cơ quan nhà nước phải nỗ lực xử lý vấn đề thất nghiệp gia tăng, chi phí bảo hiểm thất nghiệp tăng và việc cắt giảm lao động hàng loạt.

CIEM cho rằng nếu dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi được chính thức thông qua, với hàng loạt các quy định “ngáng chân” doanh nghiệp, thì kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ bị tác động tiêu cực.

“Bộ luật Lao động năm 2012 đang tồn tại đã và đang gây quá nhiều khó khăn cho việc xuất khẩu hàng hóa của các ngành công nghiệp trọng điểm xuất khẩu. Nhiều đơn hàng đã bị hỏng do các đoàn đánh giá độc lập của ‘bên mua’ căn vào các quy định quá khắt khe của Bộ luật Lao động hiện hành để ‘đánh trượt’ doanh nghiệp trong việc xuất hàng đi nước ngoài”, báo cáo viết.

Khi doanh nghiệp đang phải đối diện với quá nhiều khó khăn về thị trường, nguồn vốn thì các thay đổi theo hướng gây khó khăn hơn trong dự thảo Bộ luật Lao động sẽ khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bị đình trệ, doanh thu sụt giảm.

Khi đó, nhiều doanh nghiệp sẽ có khả năng phải đối mặt với việc giải thể, phá sản hoặc cắt giảm công suất lao động do thiếu vốn. Điều này dẫn tới nguồn thu từ hoạt động của doanh nghiệp (như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng…) cũng sẽ bị sụt giảm theo. Đến lượt mình, nhà nước sẽ chịu sức ép lớn do việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội của quốc gia trở nên khó khăn vì không có đủ nguồn thu, phát sinh bội chi.

Năng lực cạnh tranh bị xói mòn, doanh nghiệp gặp khó?

Dự thảo Bộ luật Lao động mới sẽ có thể làm cho lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường xuất khẩu quốc tế trở nên “vô giá trị”, khi các doanh nghiệp Việt Nam bị các bên đánh giá chấm điểm trượt ngay trên “sân nhà”.

Cụ thể, khi xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế, trước tiên doanh nghiệp phải vượt qua các vòng đánh giá vô cùng khắt khe của đoàn đánh giá độc lập. Một trong các tiêu chí để được chấp nhận đủ điều kiện đưa hàng Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ, EU, Canada, Úc … là phải đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn phát triển bền vững như GLOBAL G.A.P, BAP (Best Aquaculture Practices), ASC (Aquaculture Stewardship Council  standard)...

Chứng nhận theo các tiêu chuẩn này là sự xác nhận cấp quốc tế đối với thủy sản được sản xuất, chế biến có trách nhiệm đảm bảo tốt các quy định về lao động, tức là phải tuân thủ pháp luật lao động nước sở tại (nơi xuất xứ hàng hóa) là Việt Nam.

Rõ ràng, khi pháp luật nước sở tại quy định quá chặt về các điều kiện mà doanh nghiệp cần tuân thủ trong lĩnh vực lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội thì nó vô tình đã “làm khó” cho doanh nghiệp và khiến doanh nghiệp Việt Nam càng trở nên yếu thế hơn trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp ở các quốc gia khác.

“Hàng Việt Nam trước khi xuất sang các thị trường nước ngoài đã bị đánh trượt về điều kiện ngay trên chính ‘sân nhà’”, CIEM cảnh báo.

Cũng theo CIEM, lợi ích quốc gia từ chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ vô giá trị do rào cản pháp luật lao động quá lớn với các nhà đầu tư nước ngoài.

Có thể thấy, nền sản xuất công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam hiện nay chưa phát triển nên không thể giảm chi phí giá thành đầu vào của nguyên vật liệu để tăng sức cạnh tranh.

Lợi thế duy nhất để doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam là chi phí về lao động, nguồn nhân lực. Nhưng điểm mạnh này có thể trở thành điểm yếu khi môi trường pháp lý không thuận lợi, hàng loạt các chi phí cho người lao động ngày càng tăng cao. Điều này khiến doanh nghiệp nước ngoài có thể từ bỏ Việt Nam để tìm kiếm các quốc gia khác.

Theo đánh giá của CIEM, dự thảo Bộ luật Lao động mới còn khá nhiều “điểm mờ”. Những “điểm mờ” này tạo ra những “khoảng trống pháp luật”. Trong thực tiễn, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, giải quyết khiếu nại, khởi kiện, đình công khi gặp phải các quy định mờ này thường diễn giải theo hướng “có lợi hơn cho người lao động” nên càng gây khó khăn hơn cho doanh nghiệp.

Chưa hết, những quy định trong dự thảo bộ luật có thể khiến nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm lao động dôi dư do năng lực tài chính hiện tại chưa đáp ứng được các yêu cầu dự thảo luật.

Ngoài ra, dự thảo bộ luật còn có thể khiến nhiều doanh nghiệp phải gia tăng những rủi ro về chi phí lao động bên cạnh những rủi ro mà doanh nghiệp đã và đang phải đối diện liên quan đến thị trường, hàng hóa (nhất là đối với các doanh nghiệp sản xuất, gia công, làm dịch vụ các hàng hóa mang tính đặc thù về thời vụ, hoặc phải xử lý ngay các nguyên liệu nông - lâm - thủy sản tươi sống…)

Điều này được cho là sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung và nền nông nghiệp Việt Nam nói riêng.

5 vấn đề cần cân nhắc kỹ

Trong khi đó, góp ý vào Dự thảo Bộ Luật Lao động sửa đổi, ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại TP.HCM cảm thấy lo ngại. Đồng thời, ông đề xuất 5 vấn đề cần cân nhắc kỹ.

Thứ nhất, thị trường lao động là một trong những thị trường nhân tố đầu vào cơ bản của bất cứ nền kinh tế nào. Nhưng với Dự thảo, ông Vũ Thành Tự Anh cho rằng, chúng ta đang can thiệp quá sâu, thô bạo, quá chi tiết vào quan hệ lao động. Đây là tư duy sai ngay từ đầu, đi ngược lại kinh tế thị trường.

“Nguyên tắc của kinh tế thị trường là Nhà nước chỉ can thiệp khi có thất bại của thị trường. Nhưng các nhà soạn thảo Dự thảo này đứng ở góc độ sợ người lao động làm quá sức, sợ giới chủ bóc lột người lao động quá  mức dù hai bên được thỏa thuận... Quan trọng là Nhà nước phải làm thế nào để hợp đồng lao động, khế ước lao động được thực thi chứ không thể ngồi nghĩ thay cho người lao động, nghĩ thay cho người sử dụng lao động”, ông Vũ Thành Tự Anh chia sẻ quan điểm.

Thứ hai, bất kỳ bộ luật nào cũng phải đảm bảo cho thị trường vận hành một cách hiệu quả. Kinh tế Việt Nam vào thời điểm này vẫn phải trông nhờ vào lợi thế quy mô lao động lớn. Nhưng mong muốn toàn dụng lao động sẽ không thực hiện được khi giới hạn thời gian làm thêm, giới hạn về tiền lương lũy kế… Với những giới hạn này, thậm chí còn tạo ra thiểu dụng lao động và thất nghiệp có tính cơ cấu.

Không những vậy, cách quy định tiền lương làm thêm giờ lũy tiến theo giờ rất có thể tạo ra khuyến khích ngược, người lao động có thể sẽ làm không năng suất trong 1-2 giờ đầu để có lợi về tiền lương trong giờ tiếp sau…

Thứ ba, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp cao. Khi nhiều quy định không phù hợp với thực tiễn kinh doanh, người sử dụng lao động sẽ tìm cách lách, sẽ tạo ra chi phí nhưng đó là lãng phí của xã hội không nên có.

Thứ tư, làm thế nào để nền kinh tế cạnh tranh qua các quy định của Dự thảo, khi chúng tạo ra chi phí tăng lên cho người sử dụng, tăng chi phí tuân thủ.

Trong khi năng suất lao động của Việt Nam luôn thấp hơn tốc độ tăng của tiền lương, 2-3% với 7-8%, làm Việt Nam mất đi  lợi thế so sánh với các thị trường khác.

Thứ năm, thị trường lao động cần linh hoạt, tạo ra không gian để người sử dụng lao động sử dụng lao động một cách hiệu quả nhất. Thời đại 4.0, hội nhập có nhiều ngành nghề mới, nhiều cách làm việc mới với thời gian làm việc linh hoạt, thậm chí xuyên đêm, việc kiểm soát thời gian ngoài giờ thế nào?

Ông Vũ Thành Tự Anh lo ngại, với nhiều nội dung trong Dự thảo, lợi thế so sánh của Việt Nam có thể tiếp tục bị xói mòn trong môi trường cạnh tranh quốc tế.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Cơ sở lý thuyết và thực tiễn xây dựng thuế tài sản tại Việt Nam

Cơ sở lý thuyết và thực tiễn xây dựng thuế tài sản tại Việt Nam

Thuế tài sản là một sắc thuế được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới. Thuế tài sản có vai trò quan trọng, không chỉ là nguồn thu của ngân sách mà mục tiêu quan trọng hơn là điều tiết hành vi sử dụng các tài sản của xã hội, đặc biệt là những tài sản hữu hạn về số lượng. Nghiên cứu từ các cơ sở lý thuyết , bài viết bàn về ý nghĩa của thuế tài sản và việc cần thiết xây dựng Dự án Thuế tài sản ở Việt Nam.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

xây dựng thuế tài sản tại Việt Nam

Cơ sở lý thuyết xây dựng Luật Thuế tài sản

Học thuyết thuế lần đầu tiên được nhà kinh tế học Adam Smith đề xuất năm 1776, với những tiền đề cơ bản như: Công bằng trong tính thuế, nghĩa là căn cứ vào thực lực kinh tế, chứ không phải cào bằng; Chừng mực, không quá cao, quá thấp; Không cực đoan, tức thích ứng với những ngoại lệ thông qua miễn giảm; Không áp dụng luật mới cho quá khứ, cái gì đã có theo luật cũ phải thừa nhận; Có hiệu quả, tức phí hành chính thu kiểm tra thuế và phí thủ tục khai báo thuế thấp (cũng vì vậy dự luật thuế phải trình được bảng dự toán cân đối thu chi khi thu thuế); Đơn giản hóa và người đóng không bị áp lực bởi thuế tăng; Minh bạch, rõ ràng. Thuế là nền tảng của thiết chế kinh tế có thể gây bất ổn kinh tế, một khi thiếu minh bạch, rõ ràng.

Theo lý thuyết kinh tế học, thuế tài sản thuộc thuế "gốc", tức đánh vào tài sản sẵn có, khác với thuế thu nhập đánh vào tài sản tăng thêm, được tính trên tổng số tài sản hiện có trừ đi trị giá vay mượn chưa trả. Do không mang bản chất khấu trừ đó, nên thuế nhà đất và thuế ô tô không thuộc thuế tài sản như ý kiến của một số chuyên gia tại một số diễn đàn, nó mang bản chất phí để thực thi chức năng quản lý của nhà nước đối với tài sản nhà đất và ô tô.

Kinh nghiệm quốc tế về đánh thuế tài sản

Ở Đức, thuế tài sản được ban hành lần đầu vào năm 1893. Tuy nhiên, từ năm 1997, nước Đức không áp dụng thuế tài sản. Mức đánh thuế của Đức năm cuối cùng 1997 = Tài sản hiện có - Nợ chưa trả - Mức miễn thuế đổ đồng 120.000 DM (thời điểm đó chưa lưu hành đồng Euro) cho 1 thành viên gia đình x Thuế suất 1% đối với cá nhân và 0,6% đối với pháp nhân (Điều 10 Luật VStG). Kết quả năm 1997, Đức thu được 9 tỷ DM (4,62 tỷ Euro).

Hiện nay, tại Đức, có thuế nhà đất nhưng cách thức tính thuế đang gây nhiều tranh cãi, bởi trị giá nhà đất lấy từ xưa, nay đã thay đổi và chênh lệch tùy từng địa phương, nên Tòa Bảo hiến ấn định, thuế nhà đất chỉ được phép thu theo luật hiện hành đến hết năm 2019, sau đó phải cải cách. Do chi phí cao khi xây dựng các chuẩn mực mới nên các chuẩn mực cũ được vận dụng tiếp trong luật cải cách thêm 5 năm, muộn nhất hết năm 2024.

Ở Đức, câu chuyện đánh thuế căn hộ thứ 2 nhằm mục đích trang trải chi phí nhà nước phát sinh ở địa phương có căn hộ đó (theo Điều 105 Hiến pháp Đức, thuế đánh vào những ai đăng ký hộ khẩu ở căn hộ thứ 2 dù thuê hay sở hữu). Tỷ suất tùy từng địa phương từ 5% tới 23% mỗi năm, phổ biến 10% trị giá.

Trong khi đó, ở nhiều quốc gia khác, có các phương thức đánh thuế khác như: Thuế đối với đất, nhà và công trình trên đất; thuế đối với nhà; thuế đối với đất. Hầu hết các nước đánh thuế đối với cả nhà và đất. Về đối tượng chịu thuế, nhiều quốc gia thu thuế đối với cả nhà ở; đất ở, đất và các công trình không sử dụng để ở; đất cho mục đích công nghiệp. Đất ở, nhà ở nhìn chung chịu gánh nặng thuế thấp hơn so với các loại đất, nhà sử dụng cho các mục đích kinh doanh.

 Thuế suất ở nhiều quốc gia cũng có sự khác nhau. Ngoài biểu thuế suất có nhiều mức, còn có sự phân biệt giữa các khu vực với số hệ số định giá khác nhau, phụ thuộc vào từng loại tài sản. Ví dụ, ở Philippines, thuế ở thành phố và đô thị trong khu vực Manila không vượt quá 2% giá trị định giá của bất động sản (BĐS). Còn Hàn Quốc ban hành biểu thuế suất lũy tiến theo giá trị tài sản và áp dụng các mức thuế khác nhau, trong đó thường điều tiết cao hơn đối với đất. Ví dụ, đất làm sân golf, khu giải trí cao cấp có mức thuế suất cao nhất, lên tới 4%; biệt thự, nhà trong sân golf và khu giải trí cao cấp cũng có mức thuế tương tự.

Ý nghĩa của việc xây dựng Luật Thuế tài sản

Thuế tài sản là một sắc thuế được áp dụng rất phổ biến ở các nước trên thế giới. Trong những loại tài sản được đánh thuế trên thế giới, phổ biến nhất là BĐS như nhà đất, bởi đây được quan niệm là tài sản hữu hạn. Nếu một nhóm người có tiềm lực kinh tế chiếm hữu quá nhiều tài sản này sẽ dẫn đến không còn cơ hội cho những người yếu thế hơn. Từ đó, xảy ra tình trạng bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận nhà ở, một quyền rất cơ bản của con người. Do đó, việc áp dụng thuế tài sản chính là nhằm điều tiết hành vi đó.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy, thuế tài sản được đề cập đến từ nhiều năm trước đây. Gần đây, tính cấp bách của việc áp dụng thuế tài sản càng rõ hơn khi sự chênh lệch giữa nhóm người giàu và nhóm có thu nhập trung bình, thu nhập thấp trong xã hội ngày càng tăng. Hiện nay, có một số người có tiềm lực, thu gom tài sản để chiếm giữ, điển hình như nhà đất… khiến giá nhà, đất ngày càng cao, người nghèo càng khó có cơ hội tiếp cận nhà ở. Do đó, nếu chưa áp dụng thuế tài sản thì tình trạng đầu cơ và sự bất bình đẳng lại càng tăng. Khi tiền dồn vào đầu cơ không chỉ khiến giá cả tăng cao mà còn khiến nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh giảm sút, gây bất lợi cho hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. Như vậy, lợi ích của việc chống đầu cơ là rất lớn, mà trong chống đầu cơ, thuế tài sản đóng vai trò hết sức quan trọng.

Từ khía cạnh ngân sách, việc áp dụng thuế tài sản có ảnh hưởng. Nguyên do là nếu Việt Nam áp dụng luật thuế này thì số thu cũng tăng lên, tuy nhiên, không nên cho rằng, vì thu cho ngân sách mà có thuế tài sản. Thuế trước hết là công cụ của Nhà nước để điều tiết các hành vi trong xã hội (Ví dụ: Việt Nam đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với những hàng hóa xa xỉ, hàng hóa không có lợi cho sức khỏe, cho xã hội, cần hạn chế tiêu dùng). Thuế tài sản cũng nhằm phân phối, điều tiết thu nhập, hạn chế các hành vi đầu cơ, khuyến khích những hành vi lành mạnh, mang lại lợi ích tốt đẹp cho xã hội.

Do vậy, phải thấy rằng, tăng thu không phải là mục tiêu đầu tiên của việc áp thuế tài sản mà trước hết và quan trọng hơn là để điều tiết tài sản. Người nào chiếm hữu, sở hữu nhiều tài sản thì cần có trách nhiệm với xã hội, khi làm giảm cơ hội tiếp cận tài sản của người khác. Khi đó, Nhà nước phải đứng ra làm người điều tiết, dùng nguồn thu đó để đầu tư trở lại cho xã hội. Bên cạnh đó, thuế tài sản còn làm lành mạnh thị trường BĐS.

Một số khuyến nghị

Có thể thấy, việc ban hành và thực thi thuế tài sản tại Việt Nam mang tính cấp thiết. Tuy nhiên, việc triển khai áp dụng sắc thuế này là không đơn giản. Thuế tài sản tác động đến nhiều đối tượng, nhiều người có thu nhập cao, người đầu cơ BĐS, thậm chí là kinh tế ngầm, xa hơn là một số hành vi rửa tiền chưa bị phát hiện. Do đó, dự án Luật Thuế tài sản thời gian qua khi đưa ra thảo luận, xin ý kiến các chuyên gia, người dân đã nhận được nhiều ý kiến khác nhau trong dư luận, trên nhiều diễn đàn. Vì vậy, để có thể áp dụng thuế tài sản một cách khả thi, có được sự đồng thuận rộng rãi, dự thảo Luật cần làm nổi bật được tính điều tiết, phân phối từ những người nhiều tài sản cho những người yếu thế, người nghèo được hưởng lợi.

Theo đó, có thể thiết kế Luật theo hướng áp dụng một hệ số lũy tiến, tài sản càng nhiều thì mức đóng thuế càng cao (Ở nhiều nước, thậm chí có hệ số lũy tiến lên đến 10 – 12%). Hệ số lũy tiến có thể sẽ phù hợp, dễ tạo sự đồng thuận của người dân. Như vậy, những người có nhiều tài sản, tài sản có giá trị lớn phải đóng thuế nhiều, người có ít tài sản đóng thuế ít, người không có tài sản chịu thuế hoặc có sở hữu tài sản nhưng chưa đến mức phải tính thuế thì không phải nộp thuế. Quy định như vậy sẽ đảm bảo yêu cầu công bằng trong đánh thuế, giải quyết những vấn đề bất công bằng trong phân phối của cải, tài sản xã hội.

Ngoài ra, cùng với các chính sách quản lý khác của Nhà nước, thuế tài sản sẽ góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ BĐS, giúp thị trường minh bạch hơn. Tuy nhiên, tác dụng thực tế của thuế tài sản trong việc hạn chế đầu cơ BĐS còn phù thuộc nhiều vào nội dung cụ thể của Luật như chọn đối tượng điều chỉnh, mức độ điều tiết cũng như thực tiễn triển khai thực thi Luật và sự đồng bộ của các chính sách quản lý BĐS.

Điều 105, Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam đã xác định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”; tại Điều 181, Bộ Luật này nêu rõ “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Như vậy, ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao quyền sử dụng cho các đối tượng trong xã hội để sử dụng đất và người sử dụng đất được phép mua bán, trao đổi quyền sử dụng đất trên thị trường thì thuế đánh vào tài sản sẽ đánh vào quyền sử dụng đất. Trong trường hợp này, quyền sử dụng đất chính là quyền tài sản, đồng thời cũng là tài sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự.

Hiện nay, tại Việt Nam có 2 sắc thuế đánh vào quyền sử dụng đất gồm: Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, đánh vào quyền sử dụng đất trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đánh vào quyền sử dụng đất để ở, xây dựng công trình và sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Sự ra đời của Luật Thuế tài sản thay thế cho 2 luật thuế nói trên, đồng thời bổ sung thêm nhà vào đối tượng chịu thuế sẽ đảm bảo phù hợp các quy định pháp lý và thực tiễn hiện nay. Cũng theo nguyên tắc nói trên, mức thuế tài sản đối với nhà, tác giả cho rằng, không nên đánh thuế nhà giá trị thấp (chỉ nên quy định ngưỡng chịu thuế với nhà có giá trị từ 700 triệu đồng trở lên hay 1 tỷ đồng trở lên).

Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn đánh thuế tài sản tại một số quốc gia, tác giả đề xuất 2 phương án:

Một là, Nhà nước chỉ nên quy định đánh thuế vào tài sản thứ hai trở đi, còn tài sản thứ nhất thì không đánh thuế. Quy định như vậy thì người chỉ sở hữu một tài sản chịu thuế không phải nộp thuế. Người sở hữu từ hai tài sản chịu thuế trở lên sẽ phải nộp thuế đối với các tài sản chịu thuế còn lại ngoài tài sản chịu thuế thứ nhất.

Tuy nhiên, phương án này sẽ gặp khó khăn nhất định trong quản lý tài sản chịu thuế, như xác định số lượng tài sản chịu thuế của một người là bao nhiêu, việc xác định tài sản nào là thứ nhất, tài sản nào thứ hai trở đi. Ngoài ra, trường hợp một người có nhiều hơn một tài sản nhưng đều giá trị thấp, cuộc sống khó khăn với một người chỉ có một tài sản nhưng giá trị rất lớn, cuộc sống khá giả thì việc chỉ đánh thuế vào tài sản thứ hai trở đi lại trở nên không hợp lý.

Hai là, bất cứ tài sản nào có giá trị (xác định theo các quy định về giá tính thuế) vượt quá một ngưỡng nhất định sẽ thuộc diện phải tính thuế. Thuế tài sản sẽ tính trên phần giá trị vượt quá ngưỡng chịu thuế đó. Các tài sản có giá trị không vượt quá ngưỡng chịu thuế sẽ không thuộc diện tính thuế.

Hiện nay, Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn trong quản lý tài sản dân cư, thị trường BĐS chưa thực sự minh bạch, hệ thống quản lý nhà đất và các giao dịch BĐS còn chưa đầy đủ thì việc tính thuế trên tất cả các tài sản không phân biệt thứ nhất, thứ hai có thể là phương án phù hợp hơn cả.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Việt Nam đang đi đúng hướng trong chuyển đổi kinh tế số

Việt Nam đang đi đúng hướng trong chuyển đổi kinh tế số

Trao đổi với phóng viên bên lề Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam 2019 (VRDF), ông Shanmuga Retnam, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Singapore tại Việt Nam (SBAV) cho rằng, để đạt được mục tiêu GDP bình quân đầu người năm 2030 ít nhất là 18.000 USD (theo giá PPP năm 2011) và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, Việt Nam phải khơi thông nguồn lực và tăng cường kết nối trong quá trình chuyển đổi kinh tế số.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

chuyển đổi nền kinh tế số

Phóng viên: Việt Nam cần phải làm gì để đạt được mục tiêu trên, thưa ông?

Ông Shanmuga Retnam: Tôi cho rằng, mục tiêu trên là khả thi. Thực tế, quy mô nền kinh tế đã đạt 5,535 triệu tỷ đồng năm 2018, với GDP bình quân đầu người là 2.587 USD. Với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6 - 8%/năm trong những thập niên qua và môi trường kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ, thì việc đạt mục tiêu là có cơ sở.

“Phép màu” sẽ đến với Việt Nam và chúng ta có cơ sở để tin tưởng khi thực tế cho thấy, “người hàng xóm” Singapore, vốn là nước kém phát triển với GDP bình quân đầu người dưới 320 USD vào những năm 60 của thế kỷ trước, đã bứt tốc kinh ngạc, đưa GDP bình quân đầu người lên 60.000 USD.

Kỳ tích đó là nhờ chiến lược phù hợp trong đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa, phát triển thị trường vốn tự do, đầu tư cho con người, cộng với việc thực hiện các chính sách thiết thực. Vượt qua những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên, Singapore trở thành một trong các trung tâm thương mại và cảng biển lớn nhất thế giới.

Việt Nam đang đi đúng hướng, với tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao và sự thay đổi tích cực trong chính sách phát triển và môi trường kinh doanh. Để thực hiện mục tiêu quốc gia có thu nhập cao, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nền kinh tế dựa trên tri thức.

Tin vui là mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã phê duyệt Đề án Thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ. Đây là bằng chứng cho thấy, Việt Nam đang đi đúng hướng đẩy mạnh chuyển đổi số và tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0.

Cụ thể hơn, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan. Đây là điều kiện tiên quyết để đảm bảo khung pháp lý và chính sách hỗ trợ được đồng bộ, từ đó mới thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo đà cho tăng trưởng.

Ngoài ra, cần xây dựng các cụm kinh tế theo chiều dọc - liên kết quan hệ giữa nhà sản xuất, nhà cung ứng và nhà cung cấp dịch vụ, cùng với xây dựng đội ngũ lao động trình độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế số.

Sự can thiệp thị trường của Chính phủ là cần thiết, nhưng nên tiếp cận theo hướng mở cửa hơn để khu vực tư nhân và giới doanh nhân tự định hướng tương lai các ngành, lĩnh vực. Thêm vào đó, Chính phủ cần tiếp tục phát huy vai trò xây dựng khung pháp lý và tạo điều kiện để doanh nghiệp thúc đẩy tăng trưởng.

Việt Nam đang đi đúng hướng trong chuyển đổi kinh tế số

Việt Nam có thể vận dụng kinh nghiệm nào của Singapore để thực hiện mục tiêu trở thành quốc gia phát triển?

Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu là người có công lớn trong chuyển đổi khu vực công của Singapore theo mô hình tổ chức cung cấp dịch vụ. Singapore biết cách quy tụ và nuôi dưỡng nhân tài để đảm nhận các vị trí lãnh đạo trong khu vực công và bồi dưỡng họ để đáp ứng theo yêu cầu của thị trường.

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Singapore đã thành lập các cơ quan kinh tế như Ban Phát triển kinh tế (EDB) để thu hút các công ty đa quốc gia đến đầu tư và thành lập trụ sở khu vực tại Singapore thông qua những ưu đãi thuế và tạo điều kiện cho nhân viên của các doanh nghiệp này đến Singapore làm việc...

Với Việt Nam, việc tạo thuận lợi kinh doanh là càng cần thiết để đưa Việt Nam thành điểm đến đầu tư và kinh doanh hấp dẫn. Theo Báo cáo “Môi trường Kinh doanh 2019” do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố, Việt Nam đứng thứ 69/190 nền kinh tế được khảo sát về môi trường kinh doanh, giảm 1 bậc so với Báo cáo năm 2018. Tuy nhiên, xét theo thang điểm 100, môi trường kinh doanh tại Việt Nam đạt 68,36 điểm, vẫn cao hơn năm 2018.

Việt Nam có thể không tiên phong phát triển chuỗi công nghệ trong kinh tế số, nhưng nên “đặt cược” vào 2 yếu tố là quy mô dân số và nhân tài trong nước để phát triển một số ngành, lĩnh vực. Chẳng hạn, phát triển mô hình liên kết giữa đơn vị trong nước với các đối tác nước ngoài để thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D).

Đâu là chiến lược phù hợp để Việt Nam khơi thông nguồn lực trong nước, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu quốc gia có thu nhập cao, thưa ông?

Việt Nam là quốc gia may mắn có nguồn nhân lực trẻ dồi dào - điều kiện thuận lợi để khơi gợi tinh thần sáng tạo và khởi nghiệp. Việt Nam cần phát triển các cơ sở giáo dục hoàn chỉnh như Đại học Harvard (Mỹ), Đại học Quản lý Singapore (SMU)… Các cơ sở này sẽ giúp đẩy nhanh chuyển giao tri thức và mạng lưới của các quỹ đầu tư mạo hiểm và nhà đầu tư đến các cơ sở của họ tại Việt Nam.

Ngoài ra, Việt Nam có thể áp dụng “Chiến lược Đại dương xanh” (Blue Ocean Strategy) để định vị lại lợi thế cạnh tranh. Thực tế, Việt Nam có nền tảng phát triển nông nghiệp tốt, nhưng chưa tận dụng như một tài sản kinh tế quý báu. Sản xuất nông sản phù hợp với thị trường toàn cầu là hướng đi tất yếu.

Tăng cường kết nối cũng là nhân tố quan trọng trong Chiến lược Đại dương xanh. Ngoài kết nối khu vực, Việt Nam cũng cần chú trọng kết nối các thành phố lớn với các địa phương xung quanh. Đơn cử, phát triển khu vực kinh tế Đồng bằng sông Hồng với quy mô khoảng 22 triệu dân dựa vào các trụ cột như Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh. Một khía cạnh khác là kết nối ngành, từ y tế đến tài chính - ngân hàng, hay fintech. Nhưng quan trọng hơn, để những kết nối đó phát huy hiệu quả, vẫn cần có khung pháp lý phù hợp.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Thủ tướng chỉ đạo quy hoạch Phú Quốc thành đặc khu kinh tế

Thủ tướng chỉ đạo quy hoạch Phú Quốc thành đặc khu kinh tế

Thủ tướng yêu cầu lập quy hoạch đảo Phú Quốc theo định hướng phát triển thành đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (đặc khu kinh tế) tại văn bản số 739/TTg-CN ngày 8/6/2018.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

quy hoạch Phú Quốc thành đặc khu kinh tế

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa có ý kiến đối với đề nghị của UBND tỉnh Kiên Giang về việc dừng quy hoạch đảo Phú Quốc thành đặc khu kinh tế.

Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức lập mới Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 739 ngày 8/6/2018. Theo chỉ đạo tại văn bản này, tỉnh Kiên Giang sẽ lập mới quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc theo định hướng phát triển thành đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (hay còn được biết đến là đặc khu kinh tế).

Đầu tháng 8, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang đề nghị Thủ tướng cho dừng việc lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đảo Phú Quốc thành Đặc khu kinh tế cho tới khi Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (còn gọi là Luật Đặc khu) được Quốc hội thông qua. UBND tỉnh Kiên Giang cũng đề xuất Thủ tướng cho phép tỉnh được sử dụng ngân sách địa phương lập mới quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đảo Phú Quốc theo hướng trở thành khu kinh tế Phú Quốc. Sau đó, Kiên Giang còn đề nghị thành lập thành phố Phú Quốc trên cơ sở huyện đảo Phú Quốc.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa có ý kiến đối với đề nghị của UBND tỉnh Kiên Giang về việc dừng quy hoạch đảo Phú Quốc thành đặc khu kinh tế.

Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức lập mới Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 739 ngày 8/6/2018. Theo chỉ đạo tại văn bản này, tỉnh Kiên Giang sẽ lập mới quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc theo định hướng phát triển thành đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (hay còn được biết đến là đặc khu kinh tế).

Đầu tháng 8, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang đề nghị Thủ tướng cho dừng việc lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đảo Phú Quốc thành Đặc khu kinh tế cho tới khi Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (còn gọi là Luật Đặc khu) được Quốc hội thông qua. UBND tỉnh Kiên Giang cũng đề xuất Thủ tướng cho phép tỉnh được sử dụng ngân sách địa phương lập mới quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đảo Phú Quốc theo hướng trở thành khu kinh tế Phú Quốc. Sau đó, Kiên Giang còn đề nghị thành lập thành phố Phú Quốc trên cơ sở huyện đảo Phú Quốc.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ cải cách chính sách tài chính

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ cải cách chính sách tài chính

Trong khuôn khổ Diễn đàn Tài chính Việt Nam 2019, tại phiên thảo luận thứ nhất, các nhà quản lý, nhà khoa học và chuyên gia kinh tế trong nước và quốc tế đã thảo luận về cải cách chính sách tài chính nhằm tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ cải cách chính sách tài chính

Vấn đề cải cách chính sách tài chính nhằm tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm đặc biệt và thảo luận sôi nổi của các chuyên gia, các nhà khoa học tại phiên thảo luận thứ nhất trong khuôn khổ Diễn đàn Tài chính Việt Nam 2019.

Tham luận tại Diễn đàn, PGS.,TS. Lê Xuân Bá – chuyên gia kinh tế đã chỉ ra những điểm nghẽn trong mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam gồm: Vốn đầu tư phát triển không nhiều nhưng hiệu quả lại thấp; Lao động đông nhưng kỹ năng kém, thể lực yếu, kỷ luật lao động chưa cao; Đóng góp của TFP vào GFP không cao...

Trong bối cảnh đó, theo PGS., TS. Lê Xuân Bá, Việt Nam cần thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế; Thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường định hướng XHCN (vận hành đầy đủ, đồng bộ các quy luật của kinh tế thị trường, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển); Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách; Xây dựng nhà nước kiến tạo, hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, tạo ra môi trường thuận lợi cạnh tranh; Hoàn thiện chế độ sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của người dân; Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế...

Liên quan đến tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh mới, ông Jun Fan - chuyên gia về chính sách xã hội, Văn phòng UNICEF, khu vực Đông Á Thái Bình Dương chia sẻ về vấn đề đầu tư nguồn vốn con người và năng suất lao động, trong đó nhấn mạnh đến một số vấn đề đáng lưu ý trong chi tiêu công liên quan đến năng suất lao động ở Việt Nam.

Chuyên gia này đặt ra câu hỏi: Trong khi phân bổ ngân sách chung của Việt Nam cho các ngành xã hội rất ấn tượng thì câu hỏi đặt ra là việc chi tiêu thực tế cho những vấn đề quan trọng là gì? Liệu tỷ trọng chi tiêu cho lĩnh vực xã hội trên GDP hay tổng chi tiêu của Chính phủ ở cấp quốc gia có phải là một chỉ số tốt để đảm bảo đủ nguồn lực cho việc chi tiêu cho ngành xã hội khi mà mức độ huy động nguồn lực của Việt Nam còn tương đối thấp? Trong khi đó, ưu tiên chi tiêu trong ngành xã hội thực tế vẫn chưa hỗ trợ nhiều cho việc tăng năng suất lao động…

Trong bối cảnh đó, chuyên gia này khuyến nghị, Việt Nam tiếp tục ưu tiên đầu tư cho các dịch vụ xã hội và cải thiện thực hiện ngân sách trong các lĩnh vực xã hội mà vẫn duy trì được mức độ phân bổ chung cho các ngành xã hội, trong đó tập trung việc thực hiện ngân sách chung cho lĩnh vực giáo dục và y tế, chú trọng đến công bằng; Tăng ngân sách cho lĩnh vực bảo trợ xã hội cho trẻ em…

Tham luận tại Diễn đàn, bà Jacqueline Cottrell - Chuyên gia tư vấn chính sách tài khóa môi trường, Phó Chủ tịch cơ quan Ngân sách xanh châu Âu cũng đã có tham luận về cải cách chính sách tài chính nhằm đổi mới mô hinh tăng trưởng của Việt Nam hướng tới phát triển bền vững. Chuyên gia này cũng đã đưa ra các khuyến nghị chung nhằm tiếp tục thực hiện chính sách tài chính xanh sau năm 2020.

Theo đó, Việt Nam cần chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu khi xây dựng chiến lược về kế hoạch phát triển (ví dụ chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội sau 2020); Đổi mới mô hình tăng trưởng; tập trung các lĩnh vực sáng tạo xanh có tiềm năng tạo ra tăng trưởng cao ở Việt Nam và cải thiện hiệu quả năng lượng trong công nghiệp trong nước; Đảm bảo thuế suất xanh đủ cao và được duy trì để thay đổi ứng xử của người tiêu dùng và khuyến khích đầu tư kinh doanh; Tăng cường các điều kiện khung đối với hợp tác công – tư và đầu tư xanh.

Chia sẻ về quan điểm cải cách chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, GS., TS. Nguyễn Thị Cành - Trường Đại học Kinh tế - Luật, cho rằng cần xem xét mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ đầu tư vốn từ ngân sách nhà nước vào cơ sở hạ tầng và đầu tư cho giáo dục; Cung cấp hàng hóa dịch vụ công, cơ sở hạ tầng của Nhà nước đóng vai trò quyết định cho sự phát triển bền vững. Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách tài khóa phải hướng đến tính an toàn và bền vững. Cần giảm chi cho bộ máy Chính phủ được xem là khá cồng kềnh hiện nay thông qua việc đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh giảm biên chế, chuyển các đơn vị sự nghiệp sang cơ chế tự chủ tài chính để giảm nhẹ gánh nặng chi cho sự nghiệp từ nguồn ngân sách.

Ngoài ra,  GS., TS. Nguyễn Thị Cành cũng cho rằng, trong điều kiện nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp, Chính phủ có thể phát triển hạ tầng thông qua các hình thức đầu tư hợp tác công - tư (PPP) trong các dự án đầu tư công. Trong đó, Chính phủ cần xem lại các quy định pháp lý của các hình thức hợp tác PPP và cần tăng cường hơn nữa công tác giám sát có hiệu quả quản lý đầu tư công, các hình thưc đầu tư hợp tác PPP. Cùng với đó, thu hẹp bộ máy quản lý hành chính nhà nước nhằm giảm chi tiêu thường xuyên, đồng thời cải cách hoạt động của doanh nghiệp nhà nước vì đây là khu vực kém hiệu quả nhất trong đầu tư nhà nước. Cần tiếp tục tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhà nước, theo hướng Nhà nước theo hướng chỉ giữ một số ngành then chốt, giảm quy mô.

Cuối cùng, chuyên gia này cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục rà soát lại các mục tiêu chi tiêu công theo một khuôn khổ chính sách nhất quán hơn nhằm tạo điều kiện để Việt Nam gắn kết tốt hơn giữa chỉ tiêu và mục tiêu, đặc biệt là dự toán NSNN các cấp phải gắn với thực hiện mục tiêu (kết quả đầu ra)...

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 358 tỷ USD

Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 358 tỷ USD

Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong nửa đầu tháng 9/2019 đạt 20,71 tỷ USD, giảm 4,81 tỷ USD so với nửa cuối tháng trước đó. Tuy nhiên, tính chung từ đầu năm đến hết ngày 15/9/2019 tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 358 tỷ USD, tương ứng tăng 25,98 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2018.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Xuất nhập khẩu hàng hóa việt nam

Theo đó, tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 9/2019 đạt 10,45 tỷ USD, giảm 24,9% (tương ứng giảm 3,46 tỷ USD) so với 15 ngày cuối tháng 8/2019.

Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/9/2019, tổng trị giá xuất khẩu của cả nước đạt 181,72 tỷ USD, tăng 7,7% (tương ứng tăng 12,99 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2018.

10 mặt hàng xuất khẩu Việt Nam

Về nhập khẩu, trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 9/2019 đạt 10,26 tỷ USD, giảm 11,6% (tương ứng giảm 1,35 tỷ USD) so với 15 ngày cuối tháng 8/2019.

Tính đến hết ngày 15/9/2019,  tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 176,15  tỷ USD, tăng 8% (tương ứng tăng 12,99 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2018.

10 mặt hàng xuất khẩu Việt NamTính chung từ đầu năm đến hết ngày 15/9/2019 tổng trị giá xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 358 tỷ USD, tăng 7,8%, tương ứng tăng 25,98 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2018.

Như vậy, tuy xuất khẩu giảm, nhưng cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam nửa đầu tháng 9 vẫn thặng dư 189 triệu USD, đưa mức thặng dư thương mại hàng hóa của cả nước từ đầu năm đến hết ngày 15/9 đạt 5,57 tỷ USD.

Theo Tổng cục Hải quan, so với nửa cuối tháng 8/2019, xuất khẩu trong nửa đầu tháng 9 biến động giảm ở hầu hết các mặt hàng chủ lực là điện thoại các loại và linh kiện; hàng dệt may; máy vi tính điện tử và linh kiện; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; giày dép; hàng thủy sản...

Về nhập khẩu, so với nửa cuối tháng trước, nhập khẩu trong nửa tháng này biến động giảm ở một số mặt hàng là máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; điện thoại các loại và linh kiện; than các loại; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; thức ăn gia súc và nguyên liệu; chất dẻo nguyên liệu…

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Tôn, thép Việt trước sức ép bảo hộ thương mại

Tôn, thép Việt trước sức ép bảo hộ thương mại

Mặc dù đã dự báo trước, nhưng ngành tôn, thép trong nước vẫn không thể lường hết được sức ép bảo hộ thương mại ngày một gia tăng, dẫn đến tình trạng cạnh tranh vô cùng gay gắt trên sân chơi hội nhập toàn cầu.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tôn, thép Việt trước sức ép bảo hộ thương mại

Giảm mạnh sản lượng lẫn kim ngạch

Tình cảnh buồn trong ngành sắt thép xuất khẩu của Việt Nam những tháng đầu năm 2019 là giá chỉ đạt ở mức trung bình 650 USD/tấn, giảm mạnh hơn 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Dấu hiệu này cho thấy, sức ép cạnh tranh về giá trên thương trường quốc tế đang khiến ngành sắt thép giảm mạnh về kim ngạch xuất khẩu và với tình hình căng thẳng thương mại giữa các cường quốc hiện nay vẫn đang tiếp diễn, sức ép về giá của ngành sắt thép nói chung sẽ còn diễn biến khó lường và theo chiều hướng rất khó khăn.

Về thị trường xuất khẩu, hầu hết những bạn hàng quen thuộc lâu nay của ngành sắt thép Việt Nam như Campuchia, Indonesia hay Malaysia… vẫn đảm bảo sản lượng, dù không có đột phá tăng trưởng. Tuy nhiên, xuất khẩu sắt thép sang một số thị trường như Mỹ lại sụt giảm rất mạnh: hơn 42% về lượng và trên 46% về kim ngạch.

Sản lượng thép của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ hiện chiếm chưa tới 9% tổng sản lượng thép xuất khẩu. Trong khi đó, năm 2018 tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 14%. Đáng chú ý, sản phẩm chính xuất khẩu sang Mỹ là thép cán nguội, tôn mạ kim loại và sơn phủ màu (chiếm khoảng 80% - 85%).

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), sản lượng thép tiêu thụ gặp nhiều khó khăn khiến việc xuất khẩu sụt giảm mạnh với khoảng 50% so với cùng kỳ, nguyên nhân do ảnh hưởng, tác động của chiến tranh thương mại.

Ở chiều ngược lại, cả nước đã chi trên 5 tỷ USD để nhập khẩu thép các loại, tăng mạnh cả sản lượng lẫn giá trị, lần lượt là trên 14% và 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sắt thép có xuất xứ từ Trung Quốc nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất, chiếm trên 42% trong tổng lượng và chiếm khoảng 40% trong tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước.

“Đáng chú ý, thép cuộn chứa Bo của Trung Quốc nhập khẩu về Việt Nam tăng mạnh, được trà trộn bán với giá rẻ khiến thị trường thép xây dựng trong nước đang rất khó khăn về tiêu thụ, bởi cung vượt cầu quá nhiều”, đại diện VSA phản ánh.

Xây dựng “rào cản” đủ mạnh

Theo Phó Chủ tịch VSA Trịnh Khôi Nguyên, từ đầu năm đến nay, ngành thép trong nước gặp nhiều khó khăn do sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ việc gia tăng nguồn cung trong nước, cộng thêm hàng giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc.

Không chỉ vậy, tình trạng dư thừa nguồn cung thép trên thế giới cũng đang gây ra sự bất ổn của thị trường thép nói chung, trong đó có Việt Nam. Bởi theo thống kê của VSA, năng lực sản xuất các sản phẩm thép của Việt Nam từ năm 2018 cung đã vượt cầu quá xa. Từ đó dẫn đến nhiều nhà máy sản xuất các sản phẩm thép trong nước chỉ hoạt động khoảng 60% công suất, chưa có nhà máy nào đạt 100%.

Chưa kể, một số dự án thép lớn tiếp tục đi vào hoạt động trong năm nay càng làm trầm trọng thêm tình trạng cung vượt cầu. Trước sức ép hiện nay, trong ngắn hạn, VSA kiến nghị Nhà nước không phê duyệt, cấp phép thêm các dự án đầu tư mới đối với những sản phẩm thép trong nước đang có công suất dư thừa quá lớn. Đơn cử như thép cuộn cán nóng/nguội, thép xây dựng, thép tôn mạ kim loại và sơn phủ màu, VSA khuyến cáo các doanh nghiệp chưa cần thiết phải đầu tư thêm trong giai đoạn hiện nay.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước cần sớm ban hành tiêu chuẩn, quy định làm hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm thép nhập khẩu. Có các chính sách và biện pháp ngăn chặn việc chuyển dịch đầu tư nước ngoài, trong đó có Trung Quốc, vào Việt Nam những công nghệ không thích hợp, tiêu hao năng lượng nhiều, gây ô nhiễm môi trường như các lò điện cảm ứng sản xuất thép.

“Theo quan điểm của VSA, trong xu thế hội nhập toàn cầu về kinh tế, việc các nước sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại (kiện chống bán phá giá, kiện chống trợ cấp, kiện lẩn tránh áp thuế - PV) là việc làm thường xuyên, kịp thời để bảo vệ hàng sản xuất trong nước. Đồng thời, cần tuân thủ những quy định của WTO”, ông Trịnh Khôi Nguyên đề nghị.

Đồng quan điểm, Tổng giám đốc Thép Việt Đỗ Duy Thái cho rằng, việc đưa ra các biện pháp phòng vệ thương mại không phải đi đấu tranh với bên ngoài để được hưởng thuế suất, mà điều quan trọng hơn cả chính là rào cản để bảo vệ thị trường và sản xuất trong nước. Ông Thái dẫn chứng, Mỹ là nước được đánh giá tự do về mậu dịch, nhưng chính họ vẫn phải bảo vệ thị trường trong nước bằng các biện pháp chống bán phá giá.

Đặc biệt, Mỹ coi việc bảo vệ thị trường trong nước quan trọng hơn việc xuất khẩu. Chính việc làm này đem đến thành công cho họ. “Do đó, điều đầu tiên và quan trọng hơn cả trong lúc này là vai trò của Nhà nước bảo vệ doanh nghiệp bằng các biện pháp phòng vệ. Mặc dù biện pháp này có thể bị hệ lụy, nhưng sẽ không lớn. Điều quan trọng là sản phẩm thép Việt Nam có đáp ứng chất lượng và giá thành cạnh tranh được với giá thế giới không”, ông Thái nói.

Các doanh nghiệp cần chủ động tiếp cận, tăng năng lực cạnh tranh thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tránh rủi ro; tuân thủ pháp luật cạnh tranh quốc tế; tích cực phối hợp với các đối tác bạn hàng thị trường xuất khẩu để cập nhật thông tin, cung cấp thông tin trung thực với cơ quan điều tra các nước để bày tỏ thiện chí hợp tác.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

26 ngân hàng phối hợp nộp thuế điện tử và thông quan 24/7

26 ngân hàng phối hợp nộp thuế điện tử và thông quan 24/7

Theo Công văn số 5724/TCHQ-TXNK ngày 09/9/2019 của Tổng cục Hải quan, hiện nay, có 26 ngân hàng đã phối hợp cùng Tổng cục Hải quan triển khai thực hiện nộp thuế điện tử và thông quan 24/7.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

26 ngân hàng phối hợp nộp thuế điện tử

Tổng cục Hải quan đã bổ sung thêm Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á vào danh sách các ngân hàng triển khai nộp thuế điện tử và thông quan 24/7 kể từ ngày 10/9/2019.

Việc bổ sung thêm Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á đã nâng tổng số ngân hàng phối hợp cùng với Tổng cục Hải quan hỗ trợ doanh nghiệp nộp thuế điện tử 24/7 lên thành 26 ngân hàng.

Chương trình thu nộp thuế điện tử và thông quan 24/7 được triển khai từ cuối năm 2017 đến nay đã mang lại hiệu quả, lợi ích cho cả doanh nghiệp và cơ quan hải quan.

Theo đó, người nộp thuế có thể lập bảng kê nộp thuế trực tiếp trên Cổng thanh toán điện tử hải quan mọi lúc, mọi nơi, trên mọi phương tiện có kết nối internet và được ngân hàng xác nhận kết quả giao dịch nộp thuế thành công ngay sau khi nhận được yêu cầu chuyển tiền nộp thuế và thực hiện thông quan ngay hàng hóa.

Danh sách 26 ngân hàng hỗ trợ nộp thuế điện tử và thông quan 24/7

STT

Tên ngân hàng thương mại

1

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

2

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank)

3

Ngân hàng TMCP Quân đội (Mbbank)

4

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

5

Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)

6

Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank)

7

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

8

Ngân hàng TMCP Hàng hải (Maritimebank)

9

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (Vpbank)

10

Ngân hàng Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank)

11

Ngân hàng TMCP An Bình (Abbank)

12

Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank)

13

Ngân hàng TMCP Xăng dầu (Pgbank)

14

Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)

15

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank)

16

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)

17

Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank)

18

Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB)

19

Ngân hàng TMCP Nam Á

20

Ngân hàng TMCP Bản Việt (VCCB)

21

Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd

22

Ngân hàng TNHH INDOVINA

23

Ngân hàng TNHH một thành viên Shinhan Việt Nam

24

Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC Việt Nam

25

Ngân hàng TNHH một thành viên Woori Việt Nam (Woori Bank)

26

Ngân hàng TMCP Quốc dân

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế

Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế

Là chủ đề chính của Diễn đàn Tài chính Việt Nam 2019 do Bộ Tài chính (Viện Chiến lược và Chính sách tài chính) tổ chức ngày 19/9/2019 tại Quảng Ninh với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác kỹ thuật của Đức, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc tại Việt Nam. Đây là diễn đàn thường niên do Bộ Tài chính tổ chức từ năm 2017.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế

Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế là xu hướng, mục tiêu và được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đây cũng là chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước xuyên suốt, được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020. Tháng 10/2011, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI đã đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh.

Tiếp đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương Đảng Khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, trong đó có chủ trương quan trọng là: “Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm”.

Cùng đó, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 09/11/2016 về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 trong đó yêu cầu từng bước cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng tích cực tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng chi thường xuyên. Chính phủ thông qua Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/02/2017 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ, đồng thời quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức quán triệt và thực hiện các chủ trương, chính sách về cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, diễn đàn diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động. Nhiều chuyên gia trên thế giới nhận định còn nhiều khó khăn, thách thức, dự báo trong 5-10 năm tới kinh tế có dấu hiệu suy giảm. Trong bối cảnh đó, nền kinh tế trong nước cũng chịu những tác động. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu về đổi mới mô hình tăng trưởng, thay đổi cơ cấu nền kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền tài chính quốc gia, nhờ đó, nhờ đó GDP đạt mức tăng trưởng trung bình 6,35% cho giai đoạn 5 năm qua.

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt nam vẫn đối mặt với không ít thách thức, khó khăn, trong đó, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho rằng, lợi thế hiện nay của Việt Nam là dân số vàng và tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở nguồn vốn, tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên, theo dự báo, đến năm 2028- 2030 sẽ không còn mô hình này nữa, trong bối cảnh đó, việc cải cách chính sách tài chính nhằm tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam vô cùng quan trọng.

Trong bối cảnh đó, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn đề nghị tại diễn đàn này, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cùng đánh giá lại thực trạng hiện nay của chính sách tài chính của Việt Nam trong đóng góp cho tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế, từ đó chỉ ra được những thách thức tồn tại của chính sách đó, cụ thể cần tập trung những vấn đề sau:

Thứ nhất, đóng góp về chính sách động viên, nâng cao quản trị hiệu quả của tài chính công; giải pháp để chặn đứng tình trạng kém hiệu quả, lãng phí của quản lý sử dụng đầu tư công, tài chính công; đổi mới thể chế chính sách để thúc đẩy dịch vụ công quan trọng cho cộng đồng dân cư và nền kinh tế; chính sách liên quan đến phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền, giữa người dân và doanh nghiệp.

Thứ hai, cần có những giải pháp để thực hiện mục tiêu phát triển khu vực kinh tế tư nhân, với yêu cầu khu vực này không chỉ đóng góp 10% trong GDP mà phải từ 20-25%. Đồng thời, phấn đấu trong 10 năm tới, có 6-10 doanh nghiệp tư nhân trong Top 500 của thế giới. Có như vậy, mới đưa khu vực doanh nghiệp tư nhân trở thành trụ cột, đưa nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.

Thứ ba, cần có đánh giá để sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính công, đẩy mạnh đổi mới sắp xếp lại DNNN, vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê, việc sắp xếp lại, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa thực chất, số lượng doanh nghiệp sắp xếp lại giảm rất lớn lên đến 90%, nhưng số lượng quy mô vốn thoái mới được 10%.

Thứ tư, mục tiêu phát triển thị trường vốn, phải giải quyết các vấn đề bất cập, như: Thị trường chứng khoán dường như phát triển khá nhưng trái phiếu doanh nghiệp dường như quá nhỏ bé, trên 9% so với GDP, nhỏ so với dư nợ tín dụng 132%...; Huy động nguồn lực của kinh tế tư nhân trong hợp tác công tư, đầu tư phát triển hạ tầng đạt nhiều kết quả nhưng vẫn còn nhiều tồn tại...

Thứ năm, chúng ta đang sống trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, vậy giải pháp về tài chính- ngân sách phải làm gì để thúc đẩy phát triển lĩnh vực này, những đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực, sử dụng ngân sách đầu tư cho giáo dục; sử dụng nguồn lực của xã hội để thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo...

Thứ sáu, còn nhiều quan điểm đưa ra về tăng trưởng, vậy giải pháp về tài chính - ngân sách phải sửa đổi những nội dung gì để thúc đẩy tăng trưởng, chẳng hạn, cần có quy hoạch như thế nào phù hợp với chiến lược phát triển để đưa đô thị thực sự trở thành động lực trong 10 năm tới.

Thứ bảy, cơ chế chính sách tài chính – ngân sách phải thay đổi gì để góp phần thúc đẩy nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế Việt Nam trên cơ sở thay đổi cơ cấu lại nền kinh tế.

"Thành công của Diễn đàn Tài chính Việt Nam năm 2019 sẽ là động lực quan trọng để tiếp tục mở rộng không gian khoa học của ngành Tài chính, tạo tiền đề cho những sáng kiến mới về các vấn đề về kinh tế - tài chính lớn của quốc gia". Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh.

Tại sự kiện này, ông Sebastian Paust - Tham tán thứ nhất, Trưởng Bộ phận Hợp tác phát triển, Đại sứ quán Cộng hòa Liên bang Đức tại Việt Nam đánh giá cao những vấn đề mà Bộ Tài chính Việt Nam đang hướng tới, qua đó cũng cho thấy tầm quan trọng của chính sách tài chính đối với phát triển kinh tế nói chung và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế nói riêng.

Đối với Việt Nam, ông Sebastian Paust cho rằng, ngân sách nhà nước cần phải đảm bảo được nguyên tắc cân bằng và "tránh câu chuyện làm tăng các khoản vay". Việt Nam có thể giải quyết vấn đề này thông qua việc đưa ra các chính sách tài chính để cân bằng. Tuy nhiên, các chính sách này cần phải giảm bớt các khoản nợ nhưng không làm ảnh hưởng, hoặc làm giảm các khoản đầu tư của Chính phủ đối với các vùng, các dự án cần đầu tư cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, nợ công cũng cần được xem xét ở mức nào cho phù hợp, đưa ra chính sách phù hợp, theo hướng gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững trong tương lai...

Diễn đàn Tài chính Việt Nam 2019 quy tụ khoảng 300 đại biểu là đại diện lãnh đạo cơ quan trung ương; các bộ, ngành; các tổ chức quốc tế (Cơ quan hợp tác kỹ thuật của Đức, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á, Cơ quan Phụ nữ Liên Hợp quốc, Quỹ Nhi đồng trẻ em tại Việt Nam…); các cơ quan nghiên cứu, viện khoa học và trường đại học; các chuyên gia, nhà khoa học; khối doanh nghiệp... Tại diễn đàn này, các đại biểu cùng thảo luận, chia sẻ các nghiên cứu, các quan điểm để hình thành một hệ thống các luận cứ khoa học cho việc đề xuất, kiến nghị các giải pháp cải cách chính sách tài chính mang tính đột phá nhằm tìm kiếm động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam trong các chính sách tài chính, hướng đến phát triển nhanh, toàn diện và bền vững.

Diễn đàn diễn ra hai phiên thảo luận, gồm: Phiên 1 - Cải cách chính sách tài chính đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam do GS.,TS. Nguyễn Công Nghiệp - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính điều hành và Phiên 2 - Cải cách chính sách tài chính thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam do GS., TS. Sử Đình Thành – Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh điều hành.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Kiến nghị của Kiểm toán khi các DN CPH vi phạm việc sử dụng đất?

Kiến nghị của Kiểm toán khi các DN CPH vi phạm việc sử dụng đất?

Theo mục tiêu kiểm toán được Tổng Kiểm toán Nhà nước giao, có 3 nội dung nổi bật mà đoàn kiểm toán cần thực hiện đối với cuộc kiểm toán Chuyên đề xác định giá trị DN CPH, bao gồm: quy hoạch xây dựng; phê duyệt phương án sử dụng đất khi CPH của các cơ quan ban ngành; việc thực hiện phương án sử dụng đất khi CPH. 

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Kiến nghị của Kiểm toán khi DN Cổ phần hóa vi phạm sử dụng đất

Tại buổi tập huấn “Đề cương kiểm toán việc quản lý, sử dụng đất trong quá trình cổ phần hóa (CPH) và sau CPH của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giai đoạn 2011-2017” vừa được Kiểm toán Nhà nước (KTNN) tổ chức, ông Khương Tiến Hùng - Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành VI - đã chia sẻ một số vướng mắc và hướng giải quyết khi thực hiện kiểm toán những nội dung liên quan đến lĩnh vực đất đai của DN CPH.

Doanh nghiệp cố giữ đất để chờ cơ hội chuyển đổi mục đích sử dụng

Quá trình kiểm toán thời gian qua cho thấy, trong vấn đề quy hoạch xây dựng, sai phạm về việc sử dụng đất không phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đang diễn ra rất phổ biến. Hiện nay, các DN của địa phương thường có vốn và quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, nhưng quỹ đất và giá trị đất lại rất lớn. Khi CPH, chỉ một số DN rất nghiêm túc trong việc rà soát phương án sử dụng đất, trả lại đất cho Nhà nước, còn lại phần lớn DN sẽ đưa ra phương án sử dụng không phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh. 

Theo quy định của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và Nghị định số 126/2017/NĐ-CP chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, nếu DN sử dụng đất không đúng, không phù hợp với phương án sắp xếp CPH thì phải trả lại Nhà nước để sử dụng cho mục đích khác. Điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước có thể thu hồi đất nếu DN chuyển đổi sai mục đích, bởi vậy, phương án sử dụng đất rất quan trọng. 

Khi kiểm toán, đoàn kiểm toán căn cứ vào ba điểm tựa để kết luận, đó là: quy hoạch kế hoạch; phương án sử dụng đất theo các quy định về sắp xếp cổ phần hóa DNNN; yếu tố phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị. Theo đó, đoàn kiểm toán sẽ đánh giá: hiện trạng của DN có cần thiết sử dụng khu đất hay không; trong tương lai, việc mở rộng quy mô, kế hoạch, quy hoạch sản xuất kinh doanh trên diện tích đất này có phù hợp hay không. Thực tế, đoàn kiểm toán nhận thấy, nhiều DN vẫn giữ đất để chờ cơ hội chuyển đổi, kêu gọi đầu tư nhưng không phải để sản xuất kinh doanh. Nếu như đoàn kiểm toán chỉ căn cứ vào phê duyệt của cơ quan nhà nước trong giai đoạn trước mà bỏ qua bước đánh giá lại các phê duyệt này thì sẽ không đạt được mục tiêu của cuộc kiểm toán.

Mang quyền được thuê đất của Nhà nước đi góp vốn

Đối với mục tiêu kiểm toán liên quan đến các vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chúng tôi thấy rằng, đa số quỹ đất của DN CPH là đất thuê của Nhà nước trả tiền hằng năm, nên theo quy định sẽ không được tính vào giá trị DN. 

DN thuê đất theo mục đích sử dụng, bởi thế sẽ không có gì đáng nói nếu như quỹ đất này không phải là “đất vàng”. Hiện nay, ngay cả khi không sử dụng, DN vẫn không trả lại đất cho Nhà nước mà tiếp quản và chờ cơ hội, trước đây sử dụng thế nào thì sau khi CPH cũng như vậy.

Tất nhiên, trong quá trình đó, DN sẽ chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bởi lợi thế về quyền sử dụng đất sẽ chỉ xuất hiện khi có sự chuyển đổi. Đối với riêng vấn đề này, đoàn kiểm toán đã phát hiện một số bất cập:
Thứ nhất, các DNNN thực hiện góp vốn thành lập công ty liên doanh, liên kết để triển khai các dự án bất động sản, đây là cách để DNNN lách luật đối với quy định  không được đầu tư ngoài ngành. 

Thứ hai, DN không có đủ khả năng tài chính cũng như kinh nghiệm để triển khai các dự án bất động sản, nên hầu hết đất đai sẽ là phần tài sản được mang ra để liên doanh, liên kết, thực hiện các dự án. Luật hiện hành quy định, DN không được dùng đất thuê để góp vốn liên doanh, liên kết, bởi vậy, các DN đã biến tướng bằng nhiều cách gọi khác nhau, như: góp vốn bằng lợi thế quyền thuê đất, lợi thế mặt bằng, hoặc gọi là thương quyền… Nhưng tựu trung lại, tất cả đều là quyền được thuê đất của Nhà nước mang đi góp vốn. 

Thứ ba, hiện nay, không có luật nào quy định việc DN góp bao lâu thì được thoái vốn, do đó, các DN lợi dụng điều này để bán đất thông qua hình thức góp vốn sau đó thoái vốn ngay. Đoàn kiểm toán chưa phát hiện ra tình trạng này tại các DN của địa phương, nhưng đối với các DN của T.Ư, các tập đoàn, tổng công ty thì hầu hết đều đã tiến hành thoái vốn rất nhanh, trong khoảng từ 3 tháng đến 3 năm. 

Xử lý thế nào với nguồn thu từ lợi thế quyền thuê đất? 

Trong quá trình kiểm toán, đoàn kiểm toán cũng đã phát hiện một loại nguồn thu rất lớn do các nhà đầu tư trả cho DN mang đất đi liên doanh liên kết, với các tên gọi như: chi phí hỗ trợ, chi phí di dời, chi phí bồi thường… Tuy nhiên, về bản chất, đây chính là tiền thỏa thuận giữa các bên để có lợi thế quyền thuê đất. Mặc dù khoản tiền này rất lớn, lên đến 200 - 300 tỷ đồng, nhưng không có luật nào quy định về vấn đề này, thậm chí Luật Đất đai cũng chưa thừa nhận việc quản lý lợi thế quyền thuê đất của Nhà nước. Bởi vậy, sau khi kiểm toán, đoàn kiểm toán đã gặp một số vướng mắc khi đưa ra kiến nghị.

Trên thực tế, các DN đã phản ứng và tranh luận về kiến nghị của KTNN, vì hiện pháp luật không có quy định nào liên quan đến việc quản lý lợi thế quyền thuê đất của Nhà nước, mỗi DN hạch toán một kiểu khác nhau, khiến đoàn kiểm toán xử lý rất khó khăn. Cụ thể như: một số DN đưa nội dung này vào phần tăng vốn DNNN khi CPH, có DN lại đưa vào tăng tài khoản thu về NSNN, cũng có DN nhập vào khoản thu nhập bất thường của DN để nộp thuế xong thì chia quỹ…

Hiện nay, khi khoản tiền này xuất hiện, UBND TP. Hà Nội đã chỉ đạo Sở Tài chính thu về NSNN, nhưng thực tế, điều này chỉ thực hiện được đối với các DN địa phương, còn với các tập đoàn, tổng công ty thì khoản tiền đó đã không thể thu hồi. Đoàn kiểm toán xác định: đây chính là lợi thế quyền thuê đất và thuộc vào lợi ích của Nhà nước, do vậy, KTNN vẫn phải kiến nghị thu về NSNN. 

Một vấn đề nữa liên quan đến việc thu hồi khoản tiền từ lợi thế quyền thuê đất, đó là: nếu khoản tiền xuất hiện trong giai đoạn DN đang CPH thì việc kiến nghị thu về NSNN rất đơn giản, nhưng nếu sau khi chuyển đổi thành công ty cổ phần DN mới nhận được số tiền này thì kiến nghị thu hồi của KTNN sẽ gây tranh cãi. Đối với tình huống này, có một số trường hợp xảy ra: Một là, nếu DN đã ký hợp đồng hợp tác liên doanh với nhà đầu tư và đã nhận tiền trong giai đoạn còn là DNNN thì KTNN sẽ phải kiến nghị thu hồi nộp NSNN số tiền này; 

Hai là, DNNN đã ký hợp đồng hợp tác nhưng đến giai đoạn trở thành công ty cổ phần thì tiền mới về. Với trường hợp này, đoàn kiểm toán đánh giá: dù tiền về ở giai đoạn sau, nhưng nguồn gốc lại từ giai đoạn trước, tức là lợi ích của Nhà nước. Công ty cổ phần không tạo ra khoản tiền này; 

Ba là, DN đã chuyển thành công ty cổ phần, hợp đồng liên doanh đã ký nhưng tiền chưa về, hợp đồng cũng chưa thực hiện, chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mới là “đặt gạch giữ chỗ”. Trường hợp này, đoàn kiểm toán chỉ kiến nghị UBND theo dõi. 

Ngoài ra, còn một trường hợp nữa, đó là DN đã được UBND thành phố cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhưng mới chỉ dừng ở chủ trương, chưa chuyển đổi (có trường hợp chủ trương đã có từ 10 năm trước). KTNN đã kiến nghị xem xét lại các chủ trương này để xử lý dứt điểm, tránh tình trạng DN chỉ quây đất không thực hiện dự án mà Nhà nước cũng không thu hồi được.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Gửi tiết kiệm online: "Mốt", nhưng có an toàn?

Gửi tiết kiệm online: "Mốt", nhưng có an toàn?

Tại Việt Nam, ngân hàng điện tử đang phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm được các tung ra thị trường, trong đó có sản phẩm tiết kiệm trực tuyến (online). Thay vì phải đến quầy giao dịch, khách hàng có thể thực hiện các thao tác từ mở sổ tiết kiệm, kiểm tra thông tin lãi suất, gửi tiền, tất toán,… trên các thiết bị điện tử có kết nối internet mọi lúc, mọi nơi.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Gửi tiết kiệm online có an toàn?

Phổ biến, tiện lợi…

Dịch vụ tiết kiệm online đã được các ngân hàng triển khai từ năm 2009 nhằm phục vụ những cá nhân bận rộn. Với hình thức tiết kiệm trực tuyến này, người dùng chỉ cần thực hiện các thao tác đơn giản qua Internet banking, mobile banking của các ngân hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày để chuyển những khoản tiền nhàn rỗi, tích lũy từ tài khoản tiền gửi thanh toán sang tài khoản tiết kiệm. Khách hàng có thể tất toán sổ tiết kiệm bất cứ thời gian nào khi cần tiền mặt, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ.

Đồng thời khách hàng cũng có thể truy cập Internet banking, mobile banking để kiểm tra xem tài khoản tiết kiệm đã được ghi nhận vào hệ thống chưa, và kiểm tra số dư, tiền lãi bất cứ khi nào.

Gửi online sẽ giúp không chỉ khách hàng có nhiều tiện lợi mà còn giúp ngân hàng tiết giảm được thời gian, nhân sự trong ở phòng giao dịch. Vì vậy hầu hết các ngân hàng đều khuyến khích khách hàng gửi tiết kiệm online để mang lại lợi ích nhiều hơn cho cả hai bên.

…nhưng có an toàn?

Tuy nhiên, cũng còn khá nhiều người lo ngại về tính an toàn của hình thức gửi tiết kiệm này. Chẳng hạn như gửi tiết kiệm online thì không có sổ vật lý hay chứng từ làm "bằng chứng", làm sao biết được tiền gửi đang an toàn trong sổ tiết kiệm của mình...?

Về vấn đề này, lãnh đạo các ngân hàng cho biết, gửi tiết kiệm trực tuyến thậm chí còn an toàn hơn cả gửi tiền tại quầy. Bởi lẽ lệnh giao dịch được thực hiện bởi chính khách hàng và nhân viên ngân hàng không thể can thiệp được. Hơn nữa, khi thực hiện giao dịch gửi tiền online, hệ thống của ngân hàng đã xác thực người dùng nhiều lớp và gửi thông tin xác thực cho khách hàng qua tin nhắn điện thoại, qua email, token hoặc nhận diện bằng vân tay, khuôn mặt... Thông tin xác thực này không thể giả mạo được và không hề có sự can thiệp của con người, mà tự sinh từ hệ thống và được lưu vết trên hệ thống.

Các chuyên gia cũng cho rằng, người dùng dịch vụ tiền gửi oline không cần lo lắng về tính pháp lý. Bởi những thông tin xác thực cho khách hàng qua tin nhắn điện thoại, qua email... được xem là những chứng từ điện tử hợp lệ và có giá trị pháp lý đối với hình thức gửi tiền trực tuyến.

Để người dùng thực sự tin tưởng, các ngân hàng đều có những giải pháp trong vấn đề bảo mật và an toàn đối với dịch vụ gửi tiết kiệm online. Khi có bất kì một biến động nào liên quan đến tài khoản gửi tiết kiệm, ngay lập tức hệ thống của các ngân hàng sẽ gửi tin nhắn thông báo về số điện thoại khách hàng đăng kí.

Chẳng hạn như giao dịch gửi tiền online tại Vietcombank, VIB, VPBank, Techcombank hiện nay, khách hàng sẽ được chứng thực bằng biên lai xác nhận giao dịch gửi tiền có kỳ hạn gửi vào hòm thư điện tử của khách hàng. Trên tài khoản, ngân hàng cũng có danh mục riêng cho các giao dịch online để khách hàng theo dõi xem tiền đã vào hệ thống hay chưa. Khi tất toán sổ tiết kiệm khách hàng cũng phải nhập mã OTP bằng tin nhắn hoặc mã sinh ra từ Smart OTP – là phương thức bảo mật an toàn cao hơn so với tin nhắn do được sinh ra duy nhất cho từng giao dịch.

Hay mới đây, SCB là ngân hàng tiên phong trong việc cho phép khách hàng gửi tiết kiệm online qua email khách hàng và tra cứu thông tin bằng cách quét mã QR trên sổ online. Ngân hàng cũng điều chỉnh giao diện màn hình eBanking, giúp khách hàng chủ động lựa chọn tính năng nhận sổ tiết kiệm online qua email bất kỳ lúc nào.

Tuy nhiên, theo khuyến cáo của các ngân hàng, để tuyệt đối an toàn khi giao dịch trực tuyến thì khách hàng cần bảo quản điện thoại di động, email và các mật khẩu đăng nhập một cách chặt chẽ. Trường hợp thất lạc điện thoại hay bị rò rỉ thông tin..., cần thực hiện thay đổi hoặc báo ngân hàng khẩn cấp.

Mẹo gửi tiết kiệm để hưởng lãi cao nhất

Với những người thu nhập thấp, không sẵn khoản tiền lớn thì gửi góp trực tuyến là cách để tích cóp tiền khá phù hợp cho kế hoạch chi tiêu.

Đồng thời tiết kiệm online cũng đang là lựa chọn của nhiều bạn trẻ bởi rất phù hợp với những người không có sẵn khoản tiền tiết kiệm lớn nhưng lại có thu nhập ổn định hàng tháng. Đây là cách giúp người dùng dễ dàng tích cóp tiền hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm cho những kế hoạch chi tiêu như tiền học, tiền mua xe hay xây sửa nhà cửa...

Nắm bắt nhu cầu này, hiện nay, rất nhiều ngân hàng đã cung cấp khá đa dạng các hình thức gửi tiết kiệm trực tuyến với mức lãi suất hấp dẫn, cao hơn hẳn so với gửi tiết kiệm tại quầy, phổ biến từ 0,1 – 0,3%, thậm chí có nơi lên 0,4 – 0,5%. Theo lý giải của các ngân hàng, việc điều chỉnh lãi suất online cao hơn do ngân hàng không phải mất chi phí vận hành ở quầy giao dịch.

Và với sự chênh lệch này, nhiều ngân hàng đã niêm yết lãi suất tiền gửi online lên tới 8%-8,7%/năm. Chẳng hạn như Eximbank niêm yết mức lãi suất là 8,5%/năm cho kỳ hạn 24-36 tháng; Nam Á Bank niêm yết mức lãi suất 8%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 8,7% cho kỳ hạn 36 tháng; VIB có mức lãi suất dao động từ 7,5% đến 8%/năm cho kỳ hạn 18-36 tháng tùy theo số tiền gửi hay SCB có lãi suất bậc thang theo kỳ hạn và số tiền gửi với lãi suất là 8,76%/năm.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Kỳ vọng gì cho tăng trưởng xuất khẩu năm 2019?

Kỳ vọng gì cho tăng trưởng xuất khẩu năm 2019?

Trong những tháng cuối năm 2019, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với động lực chính là các nhóm ngành truyền thống như dệt may, giày dép và đồ gỗ... Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tăng trưởng xuất khẩu 2019

Xuất khẩu hưởng nhiều yếu tố tích cực

Theo Bộ Công Thương, hoạt động xuất khẩu sẽ được tiếp sức với nhiều yếu tố thuận lợi. Cụ thể, những tháng cuối năm sẽ là giai đoạn cao điểm cho các doanh nghiệp tập trung sản xuất, đặc biệt là nhóm hàng điện tử tiêu dùng (điện thoại, tivi,..) khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Các dòng sản phẩm điện thoại của Samsung dự kiến ra mắt vào quý III/2019 sẽ hỗ trợ cho ngành sản xuất điện thoại và linh kiện trong khi giai đoạn Lễ Tạ ơn và Giáng sinh (quý IV) là cao điểm cho mua sắm tiêu dùng.

Kim ngạch xuất khẩu trong quý III/2019 dự báo có xu hướng cao hơn so với quý II/2019 do nhiều mặt hàng bước vào thời kỳ cao điểm xuất khẩu. Theo chu kỳ, xuất khẩu hàng hóa thường tăng cao trong những tháng cuối năm do đây là thời kỳ cao điểm cho mua sắm tiêu dùng trong các dịp Lễ tết.

Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ dự báo tiếp tục tăng trưởng tích cực khi các nhà nhập khẩu Mỹ đẩy mạnh tìm kiếm hàng hóa thay thế hàng Trung Quốc và các cơ sở sản xuất mới sau khi dịch chuyển đầu tư.

Nếu doanh nghiệp Việt Nam trong các ngành hàng như máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, thủy sản, đồ gỗ, nội thất… nhanh nhạy, chủ động thông tin, tìm ra những lợi thế để khai thác, tranh thủ cơ hội để vươn lên, chiếm lĩnh thị phần, tăng khả năng cạnh tranh, đáp ứng được tiêu chuẩn, nhu cầu và tăng khả năng xuất khẩu, thì sẽ nắm bắt cơ hội tốt hơn.

Ngược lại, với thị trường trong nước, các ngành hàng như thép, da giầy, dệt may, nông sản, hàng điện tử,… sẽ chịu thêm áp lực cạnh tranh khi các mặt hàng này có thể dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam để tránh thuế.

Yếu tố thuận lợi cũng đến khi Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa công bố kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ 13 (POR 13) về thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam vào Mỹ. Theo đó, 31 doanh nghiệp của Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế 0%. Trong danh sách có rất nhiều doanh nghiệp lớn như Minh Phú, CP Việt Nam, Camimex...

Bộ Công Thương nhận định, mức thuế 0% này không chỉ có tác động ngắn hạn mà còn mở ra khả năng bứt phá xuất khẩu sang thị trường Mỹ, kỳ vọng các đơn hàng sẽ nhiều hơn trong thời gian tới. Bởi Mỹ là một thị trường nhập khẩu tôm lớn của Việt Nam và cũng là thị trường khó tính với những quy tắc khắt khe. Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu tôm của Mỹ từ Việt Nam đang tăng dần do tồn kho giảm trong khi Mỹ cũng đang giảm nhập khẩu từ Ấn Độ, Thái Lan và giảm mạnh nhập khẩu từ Trung Quốc.

Nhiều yếu tố cản đà tăng trưởng

Tuy nhiên, cùng với những yếu tố tích cực kể trên, trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro gia tăng, cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang leo thang kết hợp với sự xung đột thương mại giữa Nhật Bản và Hàn Quốc cũng làm gia tăng những lo ngại về sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu, xuất khẩu hàng hóa trong ngắn hạn khó có thể tăng mạnh như năm 2017 và 2018.

Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc diễn biến khó lường với mức độ ngày càng gia tăng. Ngày 23/8/2019, căng thẳng thương mại giữa hai nước được đẩy lên nấc cao mới khi Trung Quốc tuyên bố sẽ áp mức thuế 5 hoặc 10% đối với 75 tỷ USD hàng hóa Mỹ (hiệu lực từ ngày 1/9 và 15/12/2019). Ngoài ra, đối với hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Mỹ là ô tô và phụ tùng ô tô, Trung Quốc sẽ áp thêm thuế lần lượt là 25% và 5%, từ 15/12/2019.

Ngay lập tức, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố đáp trả bằng cách sẽ nâng mức thuế lên 30% (thay vì mức đang áp dụng 25%) đối với 250 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc (hiệu lực từ ngày 1/10/2019) và sẽ áp mức thuế 15% đối với 300 tỷ USD hàng hóa còn lại từ Trung Quốc từ 1/9/2019 (thay cho mức 10% như kế hoạch trước đó; trong đó có một số mặt hàng sẽ bị áp thuế từ 15/12/2019). Đồng thời, Mỹ cũng tuyên bố có kế hoạch có thể rút các doanh nghiệp Mỹ ra khỏi Trung Quốc.

Ngoài ra, các tổ chức quốc tế (như IMF, WB...) đều cảnh báo căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc đang khiến tăng trưởng kinh tế thế giới, Trung Quốc và Mỹ bị chậm lại và có thể suy giảm mạnh. Trong khi đó, các nền kinh tế khác bị chịu nhiều ảnh hưởng vì cả hai đều là đối tác kinh tế quan trọng của nhiều nước.

Ngày 27/8, Ngân hàng trung ương Trung Quốc tiếp tục giảm giá đồng Nhân dân tệ (NDT) xuống mức thấp chưa từng có (7,0810 NDT đổi 1 USD). Sau khi tỷ giá tham chiếu được PBOC công bố, đồng NDT được giao dịch trên thị trường quốc tế ở mức thấp hơn nhiều so với phiên liền trước, xuống mức 7,1576 NDT đổi 1 USD, thấp nhất trong vòng 11 năm qua.

Hoạt động phá giá đồng NDT được chính quyền Bắc Kinh thực hiện sau khi tổng thống Mỹ Donald Trump dồn dập tuyên bố các mức thuế mới cao hơn sẽ áp lên hàng hóa Trung Quốc nhập vào Mỹ. Một đồng NDT yếu hơn sẽ phần nào giúp giảm bớt những thiệt hại do thuế quan Mỹ gây ra. Điều này sẽ ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng như khả năng gia tăng nhập siêu từ thị trường này trong thời gian tới. Trong trường hợp này, giá hàng hóa xuất từ Việt Nam sang Trung Quốc sẽ cao hơn, gây khó khăn cho việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Ngoài ra, xuất khẩu nông sản được dự báo sẽ còn đối mặt với nhiều thách thức, khiến khu vực nông, lâm thủy sản khó có thể đạt mức tăng trưởng cao như cùng kỳ do: Ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 dự báo giảm và các nước trên thế giới có xu hướng quay lại tập trung đầu tư cho phát triển nông nghiệp; Các mặt hàng nông sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu, khiến cho giá giảm sâu; trong khi đó, các nước nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Trong các diễn biến chung gần đây tiếp tục ghi nhận thêm căng thẳng thương mại giữa Nhật Bản và Hàn Quốc xung quanh việc Nhật Bản ra quyết định hạn chế xuất khẩu 3 loại nguyên liệu được sử dụng để chế tạo chất bán dẫn và các loại màn hình sang Hàn Quốc vào ngày 1/7/2019.

Đối với Việt Nam, quyết định hạn chế xuất khẩu các vật liệu công nghệ cao của Nhật Bản đối với Hàn Quốc không chỉ ảnh hưởng đến các công ty sản xuất chất bán dẫn, chip và màn hình tại Hàn Quốc mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến các cơ sở sản xuất, nhà máy thuộc các công ty này tại các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Bộ Công Thương đang tiếp tục bám sát theo dõi tình hình căng thẳng thương mại Nhật Bản - Hàn Quốc trong thời gian tới để có sự phối hợp trong điều hành, xử lý các vấn đề có tác động tới Việt Nam. Từ đó quyết tâm đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở mức 6 - 8% so với cùng kỳ như đã đề ra.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Dệt may Việt Nam tăng cường thâm nhập thị trường Nga

Dệt may Việt Nam tăng cường thâm nhập thị trường Nga

Ngay trong ngày đầu khai mạc, các gian hàng của Việt Nam đã thu hút được đông đảo khách hàng Nga tới tham quan, tìm hiểu thông tin hợp tác.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

ngành dệt may Việt Nam

Ngày 17/9, tại khu Triển lãm những thành tựu nền kinh tế quốc dân (VDNKh) ở thủ đô Moskva, Liên bang Nga, Hội chợ Textillegprom 2019 đã chính thức khai mạc.

Hội chợ hàng đầu về công nghiệp dệt may của Nga năm nay thu hút hơn 2.000 công ty tham gia triển lãm hàng hóa trên một diện tích 25.000m2, trong đó có các công ty của Việt Nam.

Dự kiến sẽ có khoảng 35.000 khách, bao gồm cả các khách hàng và chuyên gia trong ngành công nghiệp tới tham quan.

Tham gia đoàn doanh nghiệp tới tìm kiếm cơ hội làm ăn tại Nga lần này có đại diện tám doanh nghiệp trong ngành dệt may Việt Nam bao gồm Tổng Công ty May 10, Tổng Công ty May Đồng Nai, Công ty TNHH May mặc Quế Lâm, Công ty TNHH Trí Đức, Công ty CP Châu Sơn Toàn Cầu, Công ty TNHH May Nguồn Lực, Công ty TNHH Lâm Quang và Công ty TNHH May Quảng Bích.

Tại Hội chợ Textillegprom 2019, các công ty Việt Nam đã mang tới trưng bày một số mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh như áo jacket, quần áo bò, quần áo ngủ cũng như đồ trẻ em và nhiều mặt hàng khác để giới thiệu tới thị trường Nga.

Ngay trong ngày đầu khai mạc, các gian hàng của Việt Nam đã thu hút được đông đảo khách hàng Nga tới tham quan, tìm hiểu thông tin hợp tác.

 Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam

Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết, đây là lần thứ ba VITAS tổ chức đưa các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội chợ dệt may ở Nga.

Ông nhấn mạnh: "Sau ba lần tham gia hội chợ ở Nga, tôi cho rằng những chương trình xúc tiến thương mại của ngành dệt may Việt Nam từ trước đến nay đã mang lại những hiệu quả tích cực, các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận khách hàng và đã có rất nhiều doanh nghiệp đã ký được những đơn hàng thông qua những hội chợ như thế này. Chúng tôi cũng hy vọng lần này các doanh nghiệp sẽ thành công trong việc đó."

Theo ông Trương Văn Cẩm, việc tổ chức đoàn doanh nghiệp tham gia các hội chợ ở những thị trường lớn nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp xúc với các thị trường tiềm năng, kết nối với khách hàng và giới thiệu những sản phẩm, thế mạnh của mình để có thể khai thác tốt các thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp đang hướng tới.

Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam tham gia trưng bày giới thiệu sản phẩm tại hội chợ lần này đều có các khách hàng Nga và đang tiếp tục tìm kiếm các khách hàng mới.

Đánh giá về hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại này, chị Võ Hoàng Quyên, công ty TNHH May Nguồn lực chia sẻ: "Công ty TNHH May Nguồn lực chuyên sản xuất các sản phẩm quần áo Jean và kaki. Từ sáu năm qua, chúng tôi đã có những khách hàng Nga và mỗi tháng xuất khẩu sang thị trường này trung bình khoảng 50.000 sản phẩm. Đây là lần thứ ba công ty tôi tham gia hội chợ dệt may tại Nga. Việc tham gia hội chợ mang lại hiệu quả rất tích cực cho công ty chúng tôi. Mỗi lần tham gia hội chợ, chúng tôi lại có thêm ít nhất từ ba tới bốn khách hàng mới."

Trả lời phỏng vấn của phóng viên, ông Dương Hoàng Minh, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Liên bang Nga khẳng định, kể từ khi Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU), trong đó Nga là một thành viên chủ chốt, có hiệu lực năm 2016, kim ngạch xuất khẩu nói chung từ Việt Nam sang Liên bang Nga đã có sự tăng trưởng tích cực.

Trong đó, ngành dệt may năm 2018 đạt kim ngạch xuất khẩu 179,9 triệu USD, tăng gần 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong 7 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may sang Nga đạt mức tăng trưởng ấn tượng, đạt 154,2 triệu USD, tăng hơn 60% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Dương Hoàng Minh cho biết, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp dệt may đã tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm chuyên ngành, tăng cường công tác xúc tiến thương mại, nắm bắt cơ hội, gặp gỡ khách hàng ở đây.

Qua tìm hiểu, làm việc với các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội chợ lần này, phần lớn các doanh nghiệp cũng đã có khách hàng ở Nga rồi.

Tuy nhiên, hiện mỗi năm kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Nga chỉ đạt khoảng 180 triệu USD, chiếm chưa đầy 3% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Nga, ước khoảng 8 tỷ USD/năm.

Bởi vậy, các doanh nghiệp cần tăng cường việc tìm hiểu thị trường, tiếp xúc khách hàng nhiều hơn nữa. Đồng thời, ngoài việc tham dự triển lãm, các doanh nghiệp có thể tổ chức đoàn riêng trực tiếp sang Nga để gặp gỡ các đối tác, trao đổi tìm kiếm cơ hội làm ăn.

Hội chợ Textillegprom 2019 kéo dài đến ngày 20/9, sau đó đoàn Việt Nam tiếp tục đi khảo sát, tìm kiếm đối tác tại thành phố Moskva và St. Petersburg đến ngày 25/9.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Mở đường đón thị trường kinh tế chia sẻ

Mở đường đón thị trường kinh tế chia sẻ

Việt Nam sẽ chính thức thực hiện mô hình kinh tế chia sẻ và khẳng định không thể “chậm chân” trong việc chiếm lĩnh thị phần “miếng bánh” 335 tỷ USD.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thị trường kinh tế chia sẻ

Theo nghiên cứu của công ty kiểm toán Pricewaterhouse Coopers Việt Nam (PwC), chỉ riêng 5 lĩnh vực là du lịch, vận tải, tài chính, nhân lực và dịch vụ video trực tuyến ca nhạc, khi ứng dụng mô hình này làm tăng doanh thu toàn cầu từ 15 tỷ USD năm 2014 và dự báo lên 335 tỷ USD năm 2025.

Phát triển bùng nổ

Giá trị lớn nhất của mô hìnhkinh tế chia sẻ là tác động lên hầu hết các lĩnh vực kinh doanh truyền thống, buộc thay đổi và cạnh tranh, tiết giảm chi phí và tận dụng tối đa các nguồn lực.

Ở Việt Nam, dù mới phát triển nhưng kinh tế chia sẻ đang phát triển nhanh chóng cùng với sự phổ biến của smartphone tại một số đô thị những năm gần đây. Nổi bật là 3 loại hình dịch vụ là vận tải trực tuyến; dịch vụ chia sẻ phòng nghỉ và cho vay ngang hàng (P2P lending). Một số dịch vụ khác cũng bắt đầu xuất hiện như chia sẻ chỗ làm, gửi xe, chia sẻ nhân lực…

Điều này có thể nhìn thấy khi hàng loạt mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực vận chuyển xuất hiện tại Việt Nam gần đây như: GoViet, Bee hay Grab… đang bành trướng và dần chiếm lĩnh thị trường, khiến các mô hình taxi truyền thống khó cạnh tranh nhờ sức mạnh công nghệ và internet.

Trong lĩnh vực du lịch, mô hình chia sẻ phòng lưu trú cũng đang thu hút được sự tham gia của nhiều startup với dịch vụ cho thuê phòng trực tuyến tại Việt Nam như Luxstay, Homestay…

Theo số liệu của Grant Thomton, năm 2016, dịch vụ này chỉ có 6.500 căn hộ nhưng tới năm 2017 đã tăng lên 16.000 căn, gấp 2,5 lần, chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Khảo sát gần đây của công ty Nielsen cho thấy cứ 4 người Việt Nam được hỏi thì có 3 người cho biết họ thích ý tưởng về mô hình kinh doanh này; 76% cho biết sẵn sàng tận dụng các sản phẩm và dịch vụ chia sẻ…

Kết quả khảo sát của Facebook và Morning Consult cũng ghi nhận 77% doanh nghiệp nhỏ trên Facebook cho biết sử dụng ứng dụng nền tảng này để tăng doanh số bán hàng và khoảng 76% doanh nghiệp nhỏ có thể tuyển dụng nhân viên thông qua ứng dụng Facebook. Hiện có khoảng 78 triệu người dùng Facebook trên thế giới có kết nối với doanh nghiệp Việt Nam.

Chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú, nguyên Phó Giám đốc Sở Thương mại Hà Nội, cho rằng kinh tế chia sẻ sẽ giúp thị trường cạnh tranh hơn và loại hình dịch vụ đa dạng hơn, mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng, đồng thời mở ra cơ hội đầu tư, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động. Kinh tế chia sẻ cũng sẽ giúp tiết kiệm tài nguyên, tận dụng tối đa công suất tài sản dư thừa, cũng như thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở Việt Nam…

Hoàn thiện khung pháp lý

Dù chứng tỏ được sự ưu việt, tính hấp dẫn, nhưng sự nở rộ của các mô hình kinh tế chia sẻ đang cho thấy mối lo ngại về cạnh tranh không bình đẳng.

Ông Vũ Vinh Phú cảnh báo bên cạnh mặt tích cực, mô hình kinh tế chia sẻ cũng tạo ra nhiều thách thức lớn, chứa đựng rủi ro và các hệ lụy xã hội không mong muốn. Đơn cử như trong dịch vụ chia sẻ phương tiện giao thông, thách thức dễ nhận thấy nhất là áp lực cạnh tranh rất lớn giữa taxi công nghệvới các hãng taxi truyền thống.

Phân tích thêm về mặt trái của nền kinh tế chia sẻ, ông Phú cho rằng nhiều người vẫn chưa có tư duy về chia sẻ, vẫn vì lợi ích cá nhân và cục bộ, chưa lo cho lợi ích lâu dài. Các doanh nghiệp cho đến nay đều chưa được trang bị kiến thức cơ bản về nền kinh tế đặc thù để nhận thức một cách tự giác theo tư duy tiên tiến.

Nếu xuất phát từ tính cấu kết cộng đồng yếu và kỷ luật thị trường kém bền vững sẽ làm cho sự phát triển kinh tế chia sẻ ở Việt Nam khó phát triển nhanh và bền vững. Đơn cử như việc kết nối giữa khách hàng và tài xế Grab, khi hệ thống vận hành hiệu quả thì về nguyên tắc, lợi ích của các bên đều tăng lên. Tuy nhiên, nếu chỉ vì lợi ích cá nhân, người lái xe sẽ thoả thuận với khách hàng và tắt ứng dụng gọi xe để “cưa đôi” phần phí đáng lẽ Grab sẽ được hưởng.

Thạc sĩ Nguyễn Phan Anh, Giảng viên Đại học Thương mại, cũng cho rằng sự phát triển của mô hình nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam được đánh giá là khá nhanh, có chuyển biến tích cực và hiệu quả nhất định giúp khách hàng có thêm sự lựa chọn tốt hơn và rẻ hơn, giúp cho thị trường có động lực đổi mới phát triển. Tuy nhiên cũng kèm mối lo ngại về sự cạnh tranh không bình đẳng, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời và đúng đắn, thì lối mòn về những cuộc biểu tình phản đối Uber hay làn sóng tiềm ẩn phản đối kinh tế chia sẻ giống như nhiều quốc gia trên thế giới sẽ tiếp tục diễn ra.

Theo các chuyên gia, câu chuyện quản lý nền kinh tế chia sẻ không chỉ làm đau đầu các nhà quản lý trong nước, mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng bối rối. Do đó, cần xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh để tận dụng lợi ích mà mô hình kinh tế này đem lại, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Song song với đó, cần tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa mô hình kinh tế chia sẻ và kinh tế truyền thống theo hướng rà soát, bãi bỏ các quy định về điều kiện kinh doanh không phù hợp với lĩnh vực kinh doanh truyền thống để thích nghi với sự đa dạng và phát triển nhanh của nền kinh tế số, trong đó có kinh tế chia sẻ.

 thành lập công ty tại đà nẵngdịch vụ thành lập công ty tại đà nẵngthủ tục thành lập công ty

Image

ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: 41 Phan Triêm, Phường Hòa Xuân, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0236.3.707404
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@dng.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: Tầng 7, Tòa nhà HP, 60 Nguyễn Văn Thủ, Đakao, Quận 1, Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 02822446739
Mobile: 0915.888.404
Email: info@hcm.com.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HÀ NỘI

Địa chỉ: Tòa nhà Anh Minh, 36 Hoàng Cầu, p. Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 02422612929
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@hno.vn 
Website: thanhlapcongtydanang.com

 

GỌI NGAY

0915.888.404