Đất nền tại các tỉnh sốt thời gian qua đã và đang là một cái “hố” chôn tiền của nhiều nhà đầu tư và trái đắng này sẽ chưa biết bao giờ ngọt trở lại khi hàng ngày vẫn còn nhiều người ôm mộng giàu sang từ đất.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo báo cáo của Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước đều ghi nhận sự phát triển của thị trường bất động sản và thu hút các nhà đầu tư bởi các thành phố lớn không còn nhiều cơ hội đầu tư. Chủ đạo vẫn là dòng sản phẩm đất nền. Trong 6 tháng đầu năm 2019, xuất hiện một số thị trường bất động sản mới như: Hòa Bình, Yên Bái, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận…
Một số tỉnh thành như Đà Nẵng, Bình Thuận, Thái Nguyên, Bắc Ninh và mới đây là Thanh Hoá lại xuất hiện hiện tượng “cơn lốc giá” đất nền chạy qua.
Bẫy đất nền
Một điểm chung ở các cơn sốt này là nhanh chóng, người nọ mua trao tay người kia, cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng giao thông đều phát triển chậm, mật độ dân cư không cao… nhưng bán giá “trên trời”.
Anh Hoàng Linh (đường Trường Chinh, quận Thanh Xuân, Hà Nội), là một nhà đầu tư đất nền chuyên nghiệp tại các tỉnh tiết lộ, hồi tháng 5 anh đã kịp thoát hàng ở Mũi Né, Bình Thuận và lời tới gần 1 tỷ đồng chỉ sau 3 tháng. Mới đây, anh lại thoát hàng tại Móng Cái, Quảng Ninh được 2 lô đất nền, lời 400 triệu đồng cũng trong vòng 3 tháng. Số tiền này anh tiếp tục đổ vào đất nền TP. Thanh Hoá.
Không may mắn như anh Linh, nhiều nhà đầu tư đang mắc kẹt vào đất nền do công ty địa ốc Alibaba đứng ra phân phối dự án “ma”, hay đất nền Đà Nẵng đang bị nhiều nhà đầu tư cắt lỗ. Theo một số chuyên gia bất động sản, đất Đà Nẵng bị cắt lỗ là do các nhà đầu tư “lướt sóng” ở phía Bắc đã rút lui sau khi họ “ôm” một khoản lời lớn, cuối cùng hậu quả để lại cho các nhà đầu tư địa phương.
Còn liên quan đến công ty Alibaba, theo nguồn tin từ Bộ Công an, đến nay công ty này và các công ty liên quan có 39 dự án. Hầu hết các dự án này đều là các dự án “ma” bởi đây là đất cá nhân. Khi các cá nhân mới đặt cọc thì ngay lập tức ủy quyền cho các công ty liên quan đến công ty Alibaba vẽ lên các dự án “ma” để huy động vốn nhằm lấy tiền của khách hàng mua sau trả cho khách hàng mua trước.
Theo một số chuyên gia bất động sản, giới cò đất thành phố rất nhanh nhạy, họ nhanh chóng mua đất nền với giá rẻ, sau đó sử dụng các chiêu bài kích giá, đẩy giá bằng các quyết định quy hoạch, thậm chí là quy hoạch giả để tạo niềm tin cho khách hàng đến sau.
Nhiều chiêu trò đẩy giá
Sau khi đẩy được hàng, những nhà đầu tư này rút lui, chuyển sang địa bàn khác đầu tư, nên có một thời gian đất nền các tỉnh đua nhau sốt như một căn bệnh lây lan.
Còn đối với hiện tượng bán đất nền “ma”, chiêu thức của một số công ty địa ốc là cam kết trong thời hạn 12 tháng sẽ có sổ đỏ cho người mua, nếu không có sổ đỏ thì nhà đầu tư sẽ trả cả gốc và lãi theo lãi suất gửi tiết kiệm của ngân hàng. Trong trường hợp, nếu không làm được sổ đỏ thì doanh nghiệp đó cũng đã lợi dụng vốn của nhà đầu tư với lãi suất thấp. Còn tiền có trả lại hay không là một chuyện khác.
Có những dự án hiện nay quảng cáo bán đất canh tác làm homestay, với cam kết 3 năm sẽ làm được sổ đỏ. Mỗi lô đất 150 m2 có giá 400 triệu đồng. Sau 3 năm, chủ đầu tư nói nếu không làm được sổ đỏ thì sẽ mua lại của nhà đầu tư. Tính theo thời giá hiện tại, 150 m2 đất canh tác có giá 400 triệu đồng là quá cao, hơn nữa, 3 năm sau, chủ đầu tư nếu không làm được sổ đỏ sẽ mua lại theo giá tại thời điểm đó, lúc này ai sẽ đảm bảo được rằng đất canh tác sẽ có giá hơn.
Ông Dương Đức Hiển, Giám đốc Bộ phận kinh doanh nhà ở Savills Hà Nội phân tích, việc một số khu vực xảy ra sốt đất nền do nhà đầu tư, cò mồi tác động rất nhiều. Họ tìm cách đẩy thị trường và trục lợi trong thời gian ngắn.
“Hạ tầng du lịch, giao thông chưa hoàn thiện, dân còn nghèo… thì không thể sốt đất được, chắc chắn là ảo”, ông Hiển khẳng định.
Theo ông Hiển, khi đầu tư nhà đầu tư cần phải hiểu về bất động sản, hiểu về địa phương. Chính tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư dẫn đến sai lầm, chứ không phải nhà quản lý, bởi người có đất họ sẽ bán, thông tin quy hoạch đã được công khai tại các địa phương…
Ông Hiển cho rằng có những người chỉ bám theo để đầu tư, điều này xuất phát từ lòng tham, muốn tranh thủ lướt sóng, kiếm lời.
Với những dự án quảng cáo bán bất động sản du lịch, theo ông Hiển, đây là loại hình khá đặc thù, nên nhà đầu tư cần tìm hiểu chủ đầu tư là ai, đã có uy tín trên thị trường chưa, có kinh nghiệm phát triển thị trường chưa, đã có những thành công nào? Thêm nữa, các nhà đầu tư bắt buộc phải quan tâm đến tính pháp lý của dự án và pháp lý của hợp đồng.
Bài học nhãn tiền về các cơn sốt đất và các dự án ma đã nhiều, nhưng nhiều nhà đầu tư vì lòng tham, không tìm hiểu kỹ, theo tâm lý bầy đàn mà hiện nay đang mắc kẹt vì đất. Đất nền có thể cho nhà đầu tư sự giàu sang, những cũng là nơi chôn tiền của nhà đầu tư mà không biết khi nào có thể vực được lên.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Bất chấp sự leo thang đáng kể trong căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ từ đầu tuần 5/8 đến nay, các nhà đàm phán vẫn dự kiến sẽ gặp nhau tại Washington vào tháng 9 cho một vòng đàm phán thương mại khác.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Cuộc đàm phán đối mặt trực tiếp vẫn có khả năng xảy ra theo kế hoạch, mặc dù triển vọng của một thỏa thuận là mờ mịt, tuy nhiên, cuộc họp này được kỳ vọng có thể giảm bớt căng thẳng về một số khía cạnh. Tuy nhiên, nguồn tin về đàm phán thương mại của chính phủ Mỹ cho biết, các cuộc thảo luận qua video đang được lên kế hoạch trong tháng 8, để đặt nền tảng cho việc xem xét lại các vấn đề quan trọng cho cuộc họp tháng 9.
Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Vương Thụ Văn là một thành viên chính của nhóm đàm phán thương mại Trung Quốc, đã xuất hiện tại một loạt các sự kiện công khai trong những ngày gần đây nhưng từ chối bình luận về việc liệu các cuộc đàm phán sẽ diễn ra.
Tại một cuộc họp báo về việc mở rộng Khu thương mại tự do Thượng Hải ngày 6/8, ông Vương từ chối trả lời câu hỏi về các biện pháp đối phó tiềm năng mà Bắc Kinh có thể đưa ra để trả đũa mức thuế mới của Tổng thống Trump.
Các nhà đàm phán do Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc dẫn đầu đã lên kế hoạch bay tới Washington sau khi các cuộc đàm phán ở Thượng Hải không đạt được thỏa thuận, nhưng thông báo của Trump về một mức thuế mới đặt ra câu hỏi về việc chuyến đi tiếp có thực sự diễn ra hay không.
Nếu ông Lưu Hạc tham gia các cuộc đàm phán tiếp theo, một số người sẽ coi đó là dấu hiệu cho thấy cả hai bên đều muốn tránh một cuộc chiến thương mại toàn diện, bất chấp căng thẳng thương mại leo thang trong những ngày gần đây. Kể từ vòng đàm phán Thượng Hải cuối tháng 7, căng thẳng đã gia tăng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới sau khi Trump đe dọa sẽ áp thuế 10% đối với các sản phẩm Trung Quốc trị giá 300 tỷ USD từ ngày 1/9, một mối đe dọa xảy ra chỉ một ngày sau khi cuộc đàm phán kết thúc.
Trung Quốc đã phản ứng bằng cách ngừng mua các sản phẩm nông nghiệp của Mỹ và cho phép đồng nhân dân tệ suy yếu vượt quá mức so với đô la Mỹ vào ngày 05/8. Để trả đũa, Bộ Tài chính Mỹ cũng chính thức gọi Trung Quốc là thao túng tiền tệ, một động thái mà các luật sư thương mại cho rằng có thể mở đường cho các mức thuế và trừng phạt bổ sung.
Tuy nhiên, bất chấp sự leo thang, không bên nào chính thức rút khỏi các cuộc đàm phán tháng 9, mặc dù các chi tiết như ngày hoặc địa điểm vẫn chưa được tiết lộ. Một cuộc họp khác giữa các nhà đàm phán hàng đầu, bao gồm Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin và đại diện thương mại Robert Lighthizer, cũng như Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Chung Sơn, có thể đưa ra một số tín hiệu cho các thị trường toàn cầu, nhất là bởi tranh chấp tiền tệ trong tuần này, hàm ý cả hai bên vẫn cam kết đối thoại. Sau khi Trump tuyên bố tăng thuế đối với 200 tỷ USD sản phẩm Trung Quốc lên 25% vào tháng 5, một phái đoàn thương mại Trung Quốc vẫn bay tới Washington theo kế hoạch.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Trong hoạt động thương mại toàn cầu, tình trạng lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thường xuyên xảy ra. Đây là hành vi nhằm trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi biện pháp phòng vệ thương mại đang có hiệu lực đối với hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp này khi nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Bài viết trao đổi về một số vấn đề liên quan đến lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị đề xuất nhằm ứng phó với vấn đề lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại trong bối cảnh hiện nay.
Quy định về lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại hiện nay
Tại Việt Nam, các quy định liên quan đến phòng vệ thương mại (PVTM) nói chung và chống lẩn tránh biện pháp PVTM nói riêng được quy định tại Luật Quản lý Ngoại thương năm 2017 và Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp PVTM; Quyết định số 824/QĐ-TTg ngày 4/7/2019 của Chính phủ phê duyệt Đề án "Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp PVTM và gian lận xuất xứ"; Quyết định số 755/QĐ-BCT ngày 28/3/2019 của Bộ Công Thương ban hành “Chương trình tổng thể về sử dụng và ứng phó với các biện pháp PVTM nhằm hỗ trợ phát triển một số ngày công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2018-2020, xét đến 2025”; Thông tư số 06/2018/TT-BCT ngày 20/4/2018 của Bộ Công Thương quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp PVTM và một số văn bản khác của Bộ Công Thương.
Về mở rộng đối với hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại
Các biện pháp PVTM đang được áp dụng có thể được mở rộng trong trường hợp cơ quan điều tra xác định có hành vi lẩn tránh biện pháp PVTM. Cơ quan điều tra có thể tiến hành điều tra hành vi lẩn tránh biện pháp PVTM căn cứ vào yêu cầu của đại diện ngành sản xuất trong nước hoặc các thông tin mà cơ quan điều tra. Theo Nghị định số 10/2018/NĐ-CP, phạm vi áp dụng biện pháp PVTM có thể được mở rộng đối với hàng hóa lẩn tránh biện pháp PVTM như sau:
Thứ nhất, nguyên vật liệu, linh kiện hoặc vật tư có xuất xứ từ nước bị áp dụng biện pháp PVTM nhập khẩu vào Việt Nam để sản xuất hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM.
Thứ hai, hàng hóa tương tự với hàng hóa đang bị áp dụng biện pháp PVTM có xuất xứ từ nước thứ ba mà hàng hóa đó sử dụng nguyên vật liệu, linh kiện hoặc vật tư có xuất xứ từ nước đang bị áp dụng biện pháp PVTM.
Thứ ba, hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước đang bị áp dụng biện pháp PVTM có sự khác biệt không đáng kể so với hàng hóa đang bị áp dụng biện pháp PVTM.
Thứ tư, hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM được chuyển tải thông qua nước thứ ba.
Thứ năm, hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM được thay đổi hình thức kinh doanh và kênh phân phối để hưởng lợi từ mức áp dụng biện pháp PVTM thấp hơn mức đang áp dụng.
Về hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam
Theo Nghị định số 10/2018/NĐ-CP của Chính phủ, đối với nguyên vật liệu, linh kiện hoặc vật tư có xuất xứ từ nước bị áp dụng biện pháp PVTM nhập khẩu vào Việt Nam để sản xuất hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM sẽ bị coi là lẩn tránh biện pháp PVTM thông qua sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Hàng hóa tương tự với hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM được sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam từ nguyên vật liệu, linh kiện hoặc vật tư nhập khẩu từ nước bị áp dụng biện pháp PVTM được bán với giá thấp hơn giá thông thường của hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM.
- Nguyên vật liệu, linh kiện hoặc vật tư có xuất xứ từ nước bị áp dụng biện pháp PVTM được nhập khẩu vào Việt Nam với mục đích chủ yếu để sản xuất hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM.
- Hoạt động sản xuất, lắp ráp gia tăng đáng kể tại Việt Nam ngay trước hoặc kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định điều tra.
- Nguyên vật liệu, linh kiện hoặc vật tư có xuất xứ từ nước bị áp dụng biện pháp PVTM chiếm ít nhất 60% tổng giá trị nguyên vật liệu, linh kiện hoặc vật tư để sản xuất, lắp ráp hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM tại Việt Nam.
Về hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua sản xuất, lắp ráp tại nước thứ ba
Theo Nghị định số 10/2018/NĐ-CP, hàng hóa tương tự với hàng hóa đang bị áp dụng biện pháp PVTM có xuất xứ từ nước thứ ba mà hàng hóa đó sử dụng nguyên vật liệu, linh kiện hoặc vật tư có xuất xứ từ nước đang bị áp dụng biện pháp PVTM sẽ bị coi là lẩn tránh biện pháp PVTM khi có đủ các điều kiện sau đây: Giá xuất khẩu của hàng hóa từ nước thứ ba vào Việt Nam thấp hơn giá thông thường của hàng hóa bị điều tra áp dụng biện pháp PVTM ban đầu; Khối lượng, số lượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng bán hàng của nhà sản xuất, xuất khẩu; Khối lượng, số lượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bắt đầu và gia tăng đáng kể ngay trước hoặc kể từ ngày Bộ Công Thương quyết định điều tra…
Về hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua thay đổi không đáng kể hàng hóa bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
Nghị định số 10/2018/NĐ-CP quy định rõ hành vi lẩn tránh biện pháp PVTM thông qua thay đổi không đáng kể hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM. Theo đó, hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước đang bị áp dụng biện pháp PVTM có sự khác biệt không đáng kể so với hàng hóa đang bị áp dụng biện pháp PVTM được xem là lẩn tránh biện pháp PVTM khi có đủ các điều kiện sau đây: Khối lượng, số lượng nhập khẩu hàng hóa được mô tả tại khoản 3 Điều 73 của Nghị định số 10/2018/NĐ-CP gia tăng đáng kể so với khối lượng, số lượng nhập khẩu hàng hóa bị áp dụng biện pháp PVTM vào Việt Nam của nhà sản xuất, xuất khẩu; Khối lượng, số lượng nhập khẩu hàng hóa được mô tả tại khoản 3 Điều 73 của Nghị định gia tăng đáng kể ngay trước hoặc kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định điều tra.
Về nội dung điều tra và thời hạn điều tra
Việc điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM bao gồm các nội dung sau: Xác định hành vi lẩn tránh biện pháp PVTM; Sự thay đổi dòng chảy thương mại từ các nước xuất xứ hoặc nước xuất khẩu hàng hóa sau khi quyết định áp dụng biện pháp PVTM có hiệu lực và sự thay đổi này là nguyên nhân của việc lẩn tránh biện pháp PVTM đang có hiệu lực; Thiệt hại của ngành sản xuất trong nước hoặc sự giảm hiệu quả của biện pháp PVTM đang có hiệu lực.
Thời hạn điều tra áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp PVTM không quá 06 tháng kể từ ngày có quyết định điều tra. Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Công Thương có thể quyết định gia hạn điều tra nhưng không quá 06 tháng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra gửi kết luận cuối cùng, Bộ Công Thương ban hành quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp PVTM.
Trong trường hợp quyết định áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp PVTM, biện pháp PVTM đang có hiệu lực sẽ được mở rộng áp dụng đối với từng nhà sản xuất, xuất khẩu hàng hóa được mô tả tại Điều 73 của Nghị định số 10/2018/NĐ-CP và xác định có hành vi lẩn tránh biện pháp PVTM…
Thực trạng lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại ở Việt Nam
Những năm gần đây, các vụ việc điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đang có xu hướng gia tăng. Tính đến tháng 5/2019, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối phó với 83 vụ chống bán phá giá, 30 vụ tự vệ, 19 vụ chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá và 14 vụ chống trợ cấp.
Theo Bộ Công Thương, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị điều tra chống lẩn tránh biện pháp như ván ép xuất khẩu sang Hoa Kỳ, vỏ xe tải và xe khách xuất khẩu sang EU... Đáng chú ý, mặt hàng thép xuất khẩu của Việt Nam chiếm đến 31% số vụ điều tra PVTM, bỏ xa mặt hàng thứ hai là sợi (9%) và giày dép (6%). Hầu hết các vụ điều tra này đều đi đến kết luận có tồn tại hành vi lẩn tránh và sau đó bị áp dụng biện pháp PVTM.
Thời gian qua, Bộ Công Thương cũng đã tăng cường điều tra và áp dụng các biện pháp PVTM, trong đó có cả việc chống lẩn tránh PVTM để bảo vệ sản xuất trong nước một cách hợp lý, phù hợp với quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết quốc tế. Theo đánh giá của Bộ Công Thương, các biện pháp PVTM này đã bảo vệ công ăn việc làm của gần 100.000 người lao động, khuyến khích sản xuất trong nước phát triển và hỗ trợ cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Với việc tăng thuế nhập khẩu, các biện pháp PVTM được áp dụng cũng đã góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước qua số thuế thu được ước tính có thể lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Việc áp dụng công cụ PVTM là để bảo vệ các ngành sản xuất liên quan đến nông nghiệp, xây dựng... đồng thời, bảo vệ sản xuất và việc làm trong nước đồng thời giảm mức độ phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu.
Kiến nghị đề xuất
Ngày 4/7/2019, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 824/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp PVTM và gian lận xuất xứ" nhằm ngăn chặn các hành vi lẩn tránh biện pháp PVTM, đặc biệt là gian lận xuất xứ hàng hóa, theo hướng toàn diện, đồng bộ và kịp thời, giúp khai thác hiệu quả các cam kết quốc tế, phát triển bền vững xuất nhập khẩu; bảo vệ quyền và lợi ích của Việt Nam trong thương mại quốc tế; bảo vệ lợi ích của các DN sản xuất, kinh doanh chân chính.
Nhằm đẩy mạnh công tác chống lẩn tránh các biện pháp PVTM, cần đẩy mạnh việc theo dõi tình hình xuất nhập khẩu với các đối tác thương mại lớn; cảnh báo nguy cơ xảy ra các vụ kiện PVTM, lẩn tránh biện pháp PVTM; giúp DN chủ động phòng ngừa và ứng phó với các vụ kiện PVTM, hướng tới xuất khẩu bền vững. Đẩy mạnh chống gian lận xuất xứ hàng hóa thông qua việc tăng cường hiệu quả công tác cấp và kiểm tra giấy chứng nhận xuất xứ (C/O); tăng cường công tác kiểm tra, đấu tranh với các hành vi gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa trên phạm vi toàn quốc; hoàn thiện các quy định về quy tắc xuất xứ nhằm thực hiện hiệu quả các cam kết trong các FTA thế hệ mới…
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước thông qua hoàn thiện quy định xem xét, giải quyết việc đăng ký đầu tư nước ngoài và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh các mặt hàng có nguy cơ gian lận xuất xứ hoặc bị điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM. Tiếp tục rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp PVTM, gian lận xuất xứ.
Nâng cao nhận thức, hiệu quả thực thi quy định pháp luật về PVTM, xuất xứ, hải quan, chống lẩn tránh biện pháp PVTM. Nâng cao khả năng phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng DN trong việc cập nhật thông tin; theo dõi, ngăn chặn và xử lý các hành vi lẩn tránh biện pháp PVTM, gian lận xuất xứ hàng hóa để báo vệ sản xuất trong nước, các DN sản xuất, kinh doanh chân chính...
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung sẽ dẫn tới việc hàng hóa của hai nước khó tiêu thụ tại thị trường của nhau, khiến họ tăng cường xuất khẩu sang các nước khác; trong đó có Việt Nam.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

“Xung đột thương mại Mỹ - Trung leo thang sẽ dẫn tới việc hàng hóa của hai nước khó tiêu thụ tại thị trường của nhau, khiến họ tăng cường xuất khẩu sang các nước khác; trong đó có Việt Nam. Điều này cũng tạo thêm sức ép cạnh tranh đối với các ngành sản xuất trong nước”.
Thông tin này được ông Lê Triệu Dũng, Cục trưởng Cục Phòng vệ Thương mại (Bộ Công Thương) đưa ra tại buổi làm việc sáng 9/8 giữa Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh với Cục Phòng vệ Thương mại tại Hà Nội.
Theo ông Lê Triệu Dũng, xung đột thương mại Mỹ - Trung căng thẳng nhiều hơn sau khi Mỹ tuyên bố sẽ áp thuế 10% đối với khoảng 300 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu còn lại từ Trung Quốc và coi Trung Quốc là nước "thao túng tiền tệ". Đây cũng là nguyên nhân gia tăng sức ép cạnh tranh đối với các ngành sản xuất trong nước và nguy cơ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải đối đầu nhiều hơn với các biện pháp phòng vệ thương mại từ các nước.
Hơn nữa, đây cũng là thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam; trong đó, có liên quan trực tiếp tới các nội dung về phòng vệ thương mại trong thời gian tới. Bởi, hai nước Mỹ, Trung Quốc sẽ tăng cường các biện pháp chống lẩn tránh thuế, gian lận xuất xứ cũng như các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa.
Ông Lê Triệu Dũng cũng phân tích thêm, thời gian qua chính sách thương mại của các nước đã và đang chứng kiến các xu thế có phần trái ngược nhau.
Bên cạnh việc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đẩy mạnh việc tự do hóa thương mại thông qua việc ký kết gia nhập các hiệp định thương mại tự do thì các xu thế bảo hộ trên thế giới cũng đang gia tăng đó là việc sử dụng các biện pháp bảo hộ như một công cụ để ngăn cản hàng nhập khẩu. Chính sách bảo hộ gia tăng sẽ dẫn tới các yêu cầu khắt khe hơn với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Cụ thể như: quy tắc xuất xứ với việc một số nước mở rộng biến thể của yêu cầu “từ sợi trở đi” hoặc “từ vải trở đi” đối với dệt may sang các sản phẩm khác như sắt thép, nhôm…Vì vậy, nếu không đáp ứng được các yêu cầu này thì hàng hóa của Việt Nam rất dễ rơi vào trạng tái “lẩn tránh” thuế, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Đơn cử như việc Mỹ đang điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá với thép chống ăn mòn, thép cán nguội của Việt Nam (nhập khẩu nguyên liệu từ Hàn Quốc, Đài Loan - Trung Quốc) hay xem xét đơn kiện Công ty Minh Phú gian lận thuế với sản phẩm tôm mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá từ năm 2005 và kiện trợ cấp năm 2013.
Ngoài ra, nhận thức của doanh nghiệp cũng là một trong những điểm yếu khá lớn trong quá trình phòng vệ thương mại. Bởi, không ít các doanh nghiệp thiếu hợp tác và lo ngại về nguồn lực tham gia phối hợp, trả lời bản câu hỏi của nước ngoài nên đã bị áp thuế cao. Ngược lại, khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thường có chiến lược ứng phó bài bản và sự hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra nước ngoài hơn.
Do vậy, để có những báo cáo kịp thời, tránh bị động tối đa từ các diễn biến chính sách của Mỹ và Trung Quốc, Cục Phòng vệ Thương mại sẽ tiếp tục theo dõi sát tình hình diễn biến chiến tranh thương mại của hai nước này.
Tại buổi làm việc, đại diện Tổng cục Quản lý thị trường cũng chia sẻ, nhằm ngăn chặn hàng hóa Trung Quốc ồ ạt vào Việt Nam khi cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung diễn ra, mới đây Tổng cục Quản lý thị trường đã tập trung rà soát danh sách hàng hóa Trung Quốc bị Mỹ áp thuế.
Tuy nhiên, Tổng cục Quản lý thị trường đề nghị cần thành lập tổ kiểm tra có sự phối hợp từ hải quan nhằm rà soát những doanh nghiệp lợi dụng cơ hội để nhập khẩu hàng hoá tăng đột biến từ hai thị trường này.
hiến tranh thương mại Mỹ - Trung với quy mô lớn vừa qua không chỉ dừng lại những tác động mang tính song phương mà còn động chạm đến rất nhiều nền kinh tế khác; trong đó, có Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam càng cần chủ động các biện pháp cần thiết.
Để hạn chế những tác động từ cuộc chiến, Bộ Công Thương và các đơn vị có liên quan của các bộ, ngành, địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, đặc biệt là lực lượng hải quan phải rà soát lại các mặt hàng có lượng xuất, nhập khẩu tăng đột biến..."
Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Theo Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) Đặng Quyết Tiến, cần “cắt dòng sữa mẹ” hoàn toàn để khối doanh nghiệp chưa cổ phần hóa phải vươn lên, hoạt động theo đúng nguyên tắc thị trường, cạnh tranh sòng phẳng với doanh nghiệp tư nhân.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Mới hoàn thành cổ phần hóa 35/127 doanh nghiệp
Thời gian qua, cơ chế, chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được hoàn thiện nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn và hạn chế thất thoát vốn, tài sản nhà nước, tạo thuận lợi cho việc bán cổ phần và thu hút được các nhà đầu tư có tiềm năng.
Tuy nhiên, tiến độ triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và bán vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn chậm so với kế hoạch. Đến nay, mới hoàn thành cổ phần hóa 35/127 doanh nghiệp, đạt 27,5% danh mục doanh nghiệp cổ phần hóa giai đoạn 2017-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; hoàn thành bán vốn nhà nước tại 88/403 doanh nghiệp, đạt 21,8% danh mục doanh nghiệp hoàn thành thoái vốn giai đoạn 2017-2020.
Lý giải nguyên nhân của tình trạng trên, tại Diễn đàn “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước” do Cục Tài chính doanh nghiệp tổ chức ngày 8/8, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) Đặng Quyết Tiến cho rằng, hiện nay, một số bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước còn chưa thực sự nghiêm túc triển khai kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo chỉ đạo và chưa chấp hành chế độ báo cáo.
Bên cạnh đó, vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp, đơn vị còn chưa cao trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.
Nhiều doanh nghiệp chậm đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán làm ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch của thị trường, chậm đổi mới công tác quản trị doanh nghiệp sau cổ phần theo thông lệ và chuẩn mực của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, cũng như hạn chế công tác giám sát của toàn xã hội đối với hoạt động của các doanh nghiệp này...
“Cắt dòng sữa mẹ” hoàn toàn
Trao đổi với báo chí về tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thời gian qua, ông Đặng Quyết Tiến cho rằng, doanh nghiệp nhà nước đang trong diện cổ phần hóa, IPO, thoái vốn hiện rất thờ ơ với việc tiếp cận nhà đầu tư.
Theo đó, cần “cắt dòng sữa mẹ” hoàn toàn để khối doanh nghiệp chưa cổ phần hóa hay còn vốn nhà nước phải vươn lên, hoạt động theo đúng nguyên tắc thị trường, cạnh tranh sòng phẳng với doanh nghiệp tư nhân.
Ông Tiến dẫn chứng, nếu các doanh nghiệp có quyền tiếp cận các dự án đầu tư công như nhau, thì doanh nghiệp có vốn nhà nước buộc phải tìm cách để mạnh hơn, bằng quản trị theo chuẩn mực, kêu gọi các nhà đầu tư để tăng quy mô doanh nghiệp…
Đồng thời, cần bàn giao các doanh nghiệp trong danh mục cổ phần hóa, thoái vốn về cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) và các sở giao dịch chứng khoán, thay vì để các bộ, ngành, địa phương thực hiện, tránh kéo dài và tâm lý chờ đợi, thậm chí là đẩy trách nhiệm lên các bộ, ngành của doanh nghiệp…
Cùng quan điểm trên, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long nhận định, mục tiêu quan trọng của cổ phần hóa là giúp nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, giữ gìn thương hiệu, ngành nghề kinh doanh chính để từ đó tạo điều kiện cho phát triển bền vững của cả nền kinh tế trong dài hạn.
Theo đó, trong quá trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, việc lựa chọn nhà đầu tư nội hay ngoại sẽ không thực sự quan trọng bằng việc đánh giá, lựa chọn được nhà đầu tư với công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm với thị trường Việt Nam, có cam kết gắn bó với thị trường Việt Nam trong dài hạn, có chiến lược phát triển dựa trên những sản phẩm thuần Việt...
Cơ chế, chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm tạo cơ sở pháp lý để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn và hạn chế thất thoát vốn, tài sản nhà nước trong quá trình cổ phần hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán cổ phần và thu hút được các nhà đầu tư có tiềm năng, đồng thời quan tâm, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Các chuyên gia, trong đó có nhiều cựu chủ tịch Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã cảnh báo nguy cơ kéo dài chiến tranh tiền tệ Mỹ - Trung Quốc và những hậu quả đi kèm trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới tiếp tục leo thang.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Bước đi của Bắc Kinh
Theo các nhà phân tích quốc tế, biện pháp thả nổi đồng nhân dân tệ của Trung Quốc có ít nhiều cơ may giới hạn thiệt hại trước đòn tấn công áp thuế của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Tuy nhiên, chiến thuật này là con dao hai lưỡi. Cho dù Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC, tức Ngân hàng Trung ương Trung Quốc) Dịch Cương phủ nhận cáo buộc phá giá đồng tiền để trả đũa Mỹ, nhưng trong một bản thông cáo, ngân hàng này xác nhận đang phải “đối phó với những tác động đơn phương, những biện pháp bảo hộ mậu dịch”.
Giới phân tích tin rằng Bắc Kinh đã sẵn sàng sử dụng vũ khí tiền tệ để trả đũa Mỹ trong bối cảnh chiến tranh thương mại không lối thoát. Bo Zhuang, chuyên gia người Trung Quốc của Trung tâm nghiên cứu TS Lombard, cho rằng sự kiện đồng nhân dân tệ mất giá đột ngột là hậu quả của một cuộc “can thiệp chủ động” của ngân hàng nhà nước để hỗ trợ cho hàng xuất khẩu, cũng như để làm giảm bớt phần nào tác động của biện pháp áp thuế của Mỹ.
Theo giáo sư Nathalie Janson, Đại học thương mại NEOMA, Paris, không có gì bảo đảm là Trung Quốc sẽ thành công, nhưng Bắc Kinh chỉ có phương tiện tiền tệ để trả đũa Mỹ trong cuộc chiến thương mại nhằm hỗ trợ xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Nhưng điều này cũng đi ngược lại chính sách của Trung Quốc, bởi từ năm 2015 Bắc Kinh cố gắng ổn định đồng tiền để ngăn chặn xu hướng vốn đầu tư chạy ra nước ngoài.
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế trong quý 2-2019 ở mức 6,2%, mức thấp nhất từ 27 năm qua, lạm phát tăng cao sẽ gây thêm khó khăn cho nền kinh tế nước này. Do vậy, theo nhận định của Mark Sobel, một cựu viên chức của Bộ Tài chính Mỹ, Bắc Kinh có thể sẽ kiểm soát chặt chẽ vốn đầu tư và tránh không để đồng nhân dân tệ lao dốc không phanh.
Chuẩn bị đường dài
Trong lúc này, các nhà kinh tế Trung Quốc đang kêu gọi chuẩn bị cho cuộc chiến tranh tiền tệ kéo dài với Mỹ khi mà cuộc chiến thương mại ngày càng leo thang. Chen Yuan, cựu Phó Thống đốc phụ trách chính sách của PBOC, cho rằng việc Mỹ gắn mác Trung Quốc là “nước thao túng tiền tệ” là lời tuyên chiến về chiến tranh tiền tệ và tài chính, do đó các nhà hoạch định chính sách phải chuẩn bị cho khả năng cuộc chiến này kéo dài.
Thậm chí, cựu Thống đốc PBOC Zhou Xiaochuan hôm 10-8 cho rằng, xung đột Trung Quốc với Mỹ có thể mở rộng từ mặt trận thương mại sang các lĩnh vực khác, bao gồm chính trị, quân sự và công nghệ.
Ông Zhou kêu gọi nỗ lực cải thiện vai trò toàn cầu của nhân dân tệ để đối phó với những thách thức của hệ thống tài chính bằng USD. Sau việc PBOC cho phép đồng nhân dân tệ suy yếu trên 7 tệ/USD vào đầu tháng 8, Tổng thống Donald Trump tố cáo nước này thao túng tiền tệ, đồng thời cho biết các cuộc đàm phán với Trung Quốc được lên kế hoạch cho tháng 9 có thể bị hoãn lại. Các nhà hoạch định chính sách kinh tế Trung Quốc giờ đây đang giải bài toán: làm thế nào để hỗ trợ nền kinh tế trong khi tỷ lệ lạm phát có thể tăng cao.
Các nhà kinh tế Trung Quốc thừa nhận việc Bắc Kinh bị Mỹ tuyên bố là nước thao túng tiền tệ là một phần trong chiến lược chiến tranh thương mại tác động lớn đến Trung Quốc. Theo họ, trong khi Trung Quốc nên cố gắng tránh mở rộng thêm các tranh chấp với Mỹ, các nhà hoạch định chính sách phải chuẩn bị cho cuộc xung đột lâu dài với Mỹ về tiền tệ.
Tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc thì cho rằng việc Mỹ buộc tội Trung Quốc thao túng tiền tệ là một hành động “nhằm đưa Mỹ đạt được lợi thế trong các cuộc đàm phán thương mại với Trung Quốc nhưng chắc chắn sẽ thất bại”.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Thanh toán phi tiền mặt và các công nghệ 4.0 mở ra nhiều cơ hội kinh doanh nhưng cũng giúp tin tặc đánh cắp tiền người khác tốt hơn.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) được kỳ vọng mang đến những lợi ích lớn đối với nền kinh tế nước ta, tuy nhiên, bên cạnh đó cũng đặt ra nhiều thách thức phải vượt qua. Bài viết phân tích một số đặc điểm nổi bật của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và kiến nghị giải pháp nhằm tận dụng cơ hội mà các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói chung và EVFTA nói riêng mang lại.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Vai trò của các FTA thế hệ mới
Thuật ngữ “Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới” được sử dụng để chỉ các FTA có những cam kết sâu rộng và toàn diện, bao hàm cam kết về tự do thương mại hàng hóa và dịch vụ như: Các “FTA truyền thống”; mức độ cam kết sâu nhất (cắt giảm thuế gần như về 0% theo lộ trình); có cơ chế thực thi chặt chẽ, bao hàm cả những lĩnh vực được coi là “phi truyền thống” như: Lao động, môi trường, doanh nghiệp (DN) nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa, cơ chế giải quyết tranh chấp về đầu tư… Hiện nay, Việt Nam đã tham gia một số FTA thế hệ mới, nổi bật là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và EVFTA.
Với yêu cầu cao và tính toàn diện, các FTA thế hệ mới có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tự do thương mại cả về mặt lượng và chất, thể hiện trên một số khía cạnh sau:
Một là, các FTA thế hệ mới đang là giải pháp có tính khả thi để thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư, cạnh tranh, nâng cao tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, môi trường và tiêu chuẩn lao động, vốn chưa được quy định trong các hiệp định hiện tại của Tổ chức Thương mại thế giới. Khi một FTA được ký kết, sẽ có những tác động đến lợi ích các quốc gia, làm thay đổi chính sách của các quốc gia là thành viên cũng như những quốc gia không là thành viên của một FTA nào đó.
Hai là, bên cạnh vai trò thúc đẩy mạnh mẽ hội nhập và liên kết kinh tế, các FTA thế hệ mới có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chuẩn mực tự do hóa thương mại. Vai trò chung của các FTA là thúc đẩy thương mại, trong bối cảnh tự do hóa thương mại toàn cầu qua kênh đa phương đang gặp khó khăn.
Ngày nay, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng được coi trọng trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm trong thương mại quốc tế, nên trước hết họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản. Đây là cách tiếp cận của các FTA thế hệ mới và đang trở thành xu thế trong những năm gần đây trên thế giới. Việc đưa nội dung về lao động vào các FTA còn nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng giữa các quan hệ thương mại.
Ba là, tham gia các FTA thế hệ mới mở ra không gian phát triển mới với các quốc gia thành viên. Với các FTA thế hệ mới, không gian phát triển của các quốc gia có sự thay đổi về chất, các cơ hội phát triển được mởra cả về chiều rộng và chiều sâu. Do vậy, các quốc gia thành viên có nhiều lựa chọn trong không gian phát triển mới. Đây chính là cơ hội cho khởi nghiệp, cho phát triển sáng tạo ở các lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh mới. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các thành viên đi sau trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.

Tầm nhìn và không gian sản xuất của các DN, cũng như chiến lược phát triển của các quốc gia trong điều kiện thực thi các FTA, nhất là FTA thế hệ mới không chỉ bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia. Chính không gian phát triển mới cũng đặt ra yêu cầu mới trong tư duy, định hình chiến lược phát triển quốc gia mới phù hợp, hiệu quả trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới.
Bốn là, việc triển khai ký kết, thực hiện các FTA thế hệ mới một cách hiệu quả sẽ góp phần củng cố và bảo đảm an ninh kinh tế, nâng cao vị thế đối với các quốc gia thành viên. Tăng cường liên kết giữa các nước thành viên với nhau là giải pháp hữu hiệu nhằm phòng, chống những cuộc khủng hoảng chu kỳ hoặc khủng hoảng cơ cấu, bảo đảm an ninh kinh tế, bền vững trong tăng trưởng.
Tham gia các FTA thế hệ mới, thông qua liên kết khu vực, vị thế các nước nhỏ cũng được cải thiện thông qua vị thế chung của khối. Mặt khác, việc hình thành các FTA có chuẩn mực cao, được dẫn dắt bởi những nền kinh tế lớn, cũng là cơ hội để các nước thành viên khẳng định vai trò trong xây dựng và thiết lập trật tự khu vực, ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển, cạnh tranh vị thế nước lớn trên trường quốc tế.
Với vai trò như trên, việc ký kết, triển khai các FTA thế hệ mới mang lại nhiều cơ hội song cũng đặt ra không ít thách thức với các quốc gia thành viên. Đó là những cơ hội và thách thức xung quanh việc mở rộng thị trường thương mại, đầu tư, lao động... đi liền với cạnh tranh gia tăng; đó là cơ hội và thách thức trong việc nâng cao chất lượng và hoàn thiện hệ thống quản trị quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh thể chế, môi trường kinh doanh... Các cơ hội và thách thức đan xen và chuyển hóa nhau, chúng phụ thuộc vào trình độ phát triển, sự năng động và chủ động hội nhập trong tham gia các FTA của các quốc gia thành viên.
Việt Nam phải cải cách những gì?
Ngày 30/6/2019, Việt Nam và EU đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA và EVIPA). Hiệp định EVFTA là một trong những FTA lớn nhất Việt Nam từng tham gia, được kỳ vọng sẽ làm thay đổi thể chế chính sách và phát triển nền kinh tế Việt Nam lên một tầm cao mới khi chính thức được thực thi. Hiệp định sẽ tạo cho nền kinh tế Việt Nam không gian về mặt thị trường rộng lớn hơn, chất lượng cao hơn, đó là thị trường EU. EU là một trong những nền kinh tế “mở” nhất trên thế giới. Đây cũng là thị trường lớn nhất thế giới với dân số khoảng 513 triệu người, theo ước tính của Eurostat. Với EVFTA, hơn 99% các loại thuế quan sẽ được gỡ bỏ, trong đó EU loại bỏ thuế đối với hàng nghìn mặt hàng có nguồn gốc từ Việt Nam. Việc gỡ bỏ phần lớn hàng rào thuế quan sẽ thúc đẩy thương mại giữa hai bên hơn nữa. Sự gia tăng thương mại này được dự báo là sẽ có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm tới.
EVFTA không chỉ tạo điều kiện để nâng cao kim ngạch hai chiều mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, giúp chúng ta tham gia chuỗi giá trị mới. Trong đó, tăng về xuất khẩu của Việt Nam sẽ nhanh hơn tăng về nhập khẩu. Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ tranh thủ được nguồn vốn, khoa học kỹ thuật cao của thị trường EU. Đối với thế giới đang ngày càng hội nhập và thúc đẩy tự do hóa thương mại, chúng ta tham gia được vào các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng cao hơn sẽ tạo được chất lượng cao hơn cho nền kinh tế. Đồng thời, với việc ký kết EVFTA, nếu tính cộng hưởng lại, chúng ta vừa tăng cường hội nhập, vừa tranh thủ được thị trường phát triển kinh tế cũng tạo đà cho cải cách và đổi mới ở Việt Nam tăng lên. Cộng hưởng tất cả những điều đó sẽ tạo cho vị thế và sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam được nhân lên nhiều lần.
Theo Bộ Công Thương, cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ trong Hiệp định EVFTA chắc chắn sẽ thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - EU, giúp mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Với cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu lên tới gần 100% biểu thuế và giá trị thương mại mà hai bên đã thống nhất, cơ hội gia tăng xuất khẩu cho những mặt hàng Việt Nam có lợi thế như dệt may, da giày, nông thủy sản (kể cả gạo, đường, mật ong, rau củ quả), đồ gỗ, v.v. là rất đáng kể. Mức cam kết trong EVFTA có thể coi là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các FTA đã được ký kết cho tới nay. Điều này càng có ý nghĩa khi hiện nay, mới chỉ hơn 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU được hưởng mức thuế 0% theo Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập.
Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020; 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định. Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu từ EU cũng tăng nhưng với tốc độ thấp hơn xuất khẩu, cụ thể là khoảng 15,28% vào năm 2020; 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030. Về mặt vĩ mô, EVFTA góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2019-2023); 4,57-5,30% (năm 2024-2028) và 7,07-7,72% (năm 2029-2033).
Tuy nhiên, cơ hội luôn song hành cùng thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất đối với Việt Nam khi gia nhập Hiệp định EVFTA chính là phải nhanh chóng cải thiện quy trình sản xuất và kiểm định chất lượng trong một loạt ngành nghề để đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng hàng hóa nhập khẩu vào thị trường EU, cũng như các điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế quan của EVFTA. Trường hợp xảy ra gần đây trong ngành Thủy sản của Việt Nam là một ví dụ điển hình.
Theo thông tin từ Tổng cục Thuỷ sản, Việt Nam hiện đứng thứ 4 trên thế giới về xuất khẩu thuỷ sản (sau Na Uy, Trung Quốc và Nga), đứng số 1 tại Đông Nam Á và số 2 ở châu Á. Tuy nhiên, vào tháng 10/2017, Việt Nam đã phải nhận “thẻ vàng” cảnh báo từ Ủy ban châu Âu về hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không theo báo cáo và không theo quy định (khai thác IUU). Sự việc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến danh tiếng của hải sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Mặc dù, Chính phủ, cộng đồng ngư dân, DN thủy sản đã có những nỗ lực hành động để giải quyết việc đánh bắt cá bất hợp pháp, tuy nhiên, do Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km (không kể các đảo) với khoảng 111.000 tàu cá, hầu hết là tàu nhỏ, để giải quyết triệt để vấn đề khai thác hải sản trái phép cần một quá trình tốn nhiều thời gian và công sức.
Ngành thứ hai cần quan tâm là ngành Dệt may. EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của ngành Dệt may Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 4 tỷ USD vào năm 2018. Việc gia nhập EVFTA được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực cho xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam vào EU.
Mặc dù vậy, trong một vài năm đầu, ngành Dệt may có thể gặp một số bất lợi nhất định do trong thời gian chờ thuế giảm về 0% theo lộ trình của EVFTA, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ không còn được hưởng mức thuế 9% của Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập. Đây là mức ưu đãi mà EU đơn phương dành cho các sản phẩm chưa có năng lực cạnh tranh tốt từ một số nước thuộc nhóm đang/kém phát triển theo các tiêu chí mà EU quyết định. Thay vào đó, ngành này sẽ phải chịu mức thuế cao hơn từ thuế nhập khẩu ưu đãi mà EU đang áp dụng - hiện đang ở mức khoảng 12%, theo số liệu từ báo cáo gần đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về ngành Dệt may ở Việt Nam.
Hiệp định EVFTA quy định các yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, nhưng phần lớn các DN ở Việt Nam hiện vẫn đang thực hiện công đoạn may cắt, chưa sản xuất nguyên liệu (vải và sợi). Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, giá trị nguyên liệu đầu vào trong ngành Dệt may chiếm khoảng 67,1%, và đa phần nguồn nguyên liệu này được nhập khẩu từ Trung Quốc và Đài Loan – là những nước chưa ký hiệp định FTA với EU – nên sẽ không được hưởng ưu đãi thuế theo quy định của EVFTA.
Hơn nữa, sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu cũng sẽ là thách thức lớn đối với các DN trong ngành Dệt may khi phải đối mặt với những biến động giá cả của nguồn hàng nhập khẩu này. Do đó, các DN sản xuất hàng dệt may và công nghiệp phụ trợ ngành Dệt may cần nỗ lực phối hợp tốt hơn để tăng tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu cho các DN may – cắt, tập trung vào nhuộm và sản xuất vải, cũng như đẩy mạnh năng lực sản xuất của các công ty dệt trong nước, đặc biệt là các công ty sản xuất quần áo.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Bài viết nghiên cứu tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên 2 Sở Giao dịch Chứng khoán của Việt Nam vào những ngày đầu tháng âm lịch.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Dữ liệu nghiên cứu là giá đóng cửa theo tần suất ngày đối với chỉ số VN-Index và HNX-Index từ ngày 28/9/2007 đến 04/01/2019 dương lịch (tương ứng từ ngày 18/8/2007 đến 29/11/2018 âm lịch). Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ suất sinh lợi VN-Index và HNX-Index đều giảm khi giao dịch vào ba ngày đầu tiên trong tháng 7 âm lịch, những ngày giao dịch vào đầu các tháng còn lại có hệ số dương nhưng không có ý nghĩa thống kê đối với tỷ suất sinh lợi của hai chỉ số này.
Văn hóa và quan niệm sử dụng lịch của người Việt Nam
Người Việt Nam sử dụng song song 2 loại lịch trong cuộc sống là lịch Dương và lịch Âm. Lịch Dương thường được dùng để tính toán và sắp xếp các công việc thường nhật hàng ngày; lịch Âm được sử dụng trong các công việc quan trọng của mỗi gia đình từ những việc liên quan đến những người còn sống như cưới hỏi, thôi nôi, làm nhà, mua sắm tài sản lớn… đến những việc liên quan đến những người đã khuất như tổ chức ma chay, tảo mộ, làm giỗ… Trong đó, phong tục thờ cúng tổ tiên đã trở thành nét văn hóa truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc của người Việt Nam.
Với quan niệm “Đầu xuôi thì đuôi lọt” đang tồn tại trong phong tục thờ cúng tổ tiên có thể tác động đến tỷ suất sinh lợi (TSSL) chứng khoán Việt Nam hay không, nghiên cứu lựa chọn những ngày giao dịch chứng khoán vào đầu năm, đầu tháng âm lịch để tìm hiểu mối quan hệ TSSL của VN-Index và HNX-Index khi giao dịch trong những ngày này.
Tuy nhiên, người Việt Nam thường có lễ “xá tội vong nhân” vào tháng 7 âm lịch hàng năm, là một phần nguyên nhân dẫn đến quan niệm về tháng 7 âm lịch của người Việt trong thời gian này khác so với các tháng còn lại trong năm. Chính vì vậy, nghiên cứu đưa ra các biến đại diện liên quan đến những ngày giao dịch trong tháng Bảy âm lịch hàng năm vào mô hình nghiên cứu trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam.
Bằng chứng thực nghiệm về tỷ suất sinh lợi chứng khoán có liên quan đến lịch âm
Trích dẫn một nghiên cứu của Rotton & Rosenberg (1984), nhóm tác giả Rotton & Kelly (1985) đã kiểm tra mối quan hệ giữa các giai đoạn lịch âm và TSSL dựa trên giá đóng cửa trung bình của chỉ số Dow Jones. Kết quả cho thấy, không có liên quan khác biệt về chỉ số Dow Jones và các giai đoạn của lịch âm, kết quả này khác với các nghiên cứu trước của họ.
Các nghiên cứu khác như của Floros & Tan (2013) nghiên cứu trên 59 TTCK ở các quốc gia phát triển và mới nổi; Borowski (2015) nghiên cứu chỉ số WIG trên Sở giao dịch (SGD) chứng khoán Warsaw từ 16/4/1991 đến 31/3/2015 đều cho thấy, TSSL chứng khoán có ảnh hưởng tích cực vào những ngày đầu tháng âm lịch tại một số TTCK. Nghiên cứu của Floros & Tan (2013) cũng cho thấy, những ngày đầu tháng âm lịch có tác động tích cực đến TSSL của năm TTCK gồm: Vương quốc Anh, Thụy Sỹ, Bangladesh, Chile, và Cộng hòa Síp.

Trong khi đó, chỉ cho TTCK Jordan chịu tác động tiêu cực xung quanh những ngày giữa tháng âm lịch. Nghiên cứu của Borowski (2015) cho thấy, với mức ý nghĩa 5%, TSSL của chỉ số WIG chịu tác động tích cực trong giai đoạn đầu tháng âm lịch, thị trường chịu tác động xung quanh những ngày trăng tròn thuộc tháng 2 và tháng 6 âm lịch. Gần đây, nghiên cứu của Almonte (2016) cho thấy, giao dịch chứng khoán vào tháng 7 âm lịch có tác động tiêu cực đến TSSL chứng khoán trên TTCK Phillippines.
Tại TTCK Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung xung quanh những ngày rằm vào các tháng âm lịch tương tự như của Lại Cao Mai Phương (2012), Nguyễn Văn Điệp, Trần Mạnh Hùng, Ngô Văn Toàn (2014), Nguyễn Văn Diệp (2016), hoặc chỉ nghiên cứu về TSSL chứng khoán vào kỳ nghỉ Tết Âm lịch như của Lê Thị Hồng Minh & Trương Ngọc Sơn (2018).
Tuy nhiên, cho đến nay các công trình nghiên cứu chỉ mới tập trung vào những ngày giao dịch đầu tiên của tháng âm lịch nói chung và tách riêng đối những ngày đầu tiên trong tháng 7 âm lịch nói riêng đến TSSL chứng khoán Việt Nam còn rất ít. Do đó, nghiên cứu này sẽ khai thác nội dung này bằng cách nghiên cứu TSSL trên TTCK Việt Nam vào những ngày đầu tháng âm lịch thông qua 2 chỉ số là VN-Index và HNX-Index.
Dữ liệu và mô hình nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu: Giá đóng cửa hàng ngày của VN-Index và HNX-Index được thu thập trong khoảng thời gian từ 28/9/2007 đến 04/01/2019 tại https://www.hsx.vn và https://www.hnx.vn, dữ liệu chứng khoán cũng được quy đổi tương ứng với ngày lịch âm theo website: http://licham.vn. Đây là 2 chỉ số chung đại diện cho giá cổ phiếu được niêm yết tại hai SGD chứng khoán của Việt Nam.
Mô hình nghiên cứu: Mô hình nghiên cứu TSSL của VN-Index và HNX-Index vào những ngày đầu tháng âm lịch có dạng:

Pt và Pt-1 là giá đóng cửa của chỉ số VN-Index hoặc HNX-Index tại ngày t và ngày (t-1). R_Indext: là TSSL ghép lãi liên tục của chỉ số VN-Index hoặc HNX-Index tại ngày t.
Các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu: Để đảm bảo mô hình (1) có thể phản ánh đúng ảnh hưởng của TSSL VN-Index và HNX-Index khi giao dịch vào những ngày đầu tháng âm lịch, mô hình nghiên cứu sử dụng 2 nhóm biến để kiểm soát hiệu ứng ngày trong tuần và hiệu ứng kỳ nghỉ lễ. 3 biến giả gồm thứ Ba, thứ Tư và thứ Sáu được sử dụng để kiểm soát hiện ứng ngày trong tuần trong mô hình nghiên cứu là có kế thừa từ kết quả nghiên cứu trước của Trương Đông Lộc & cộng sự (2017) và Lại Cao Mai Phương (2018).
Để kiểm soát hiệu ứng kỳ nghỉ lễ, bài viết sử dụng bốn kỳ nghỉ lễ hàng năm tại Việt Nam gồm: Tết Dương lịch, Tết Nguyên Đán, Ngày Giải phóng miền Nam (30/4); Ngày Quốc tế lao động (01/5); Ngày Quốc khánh (02/9). Theo đó, 4 biến giả vào 3 ngày trước bốn kỳ nghỉ lễ này và 2 biến giả vào 3 ngày đầu tiên sau 2 kỳ nghỉ Tết được sử dụng để kiểm soát hiện ứng kỳ nghỉ trong mô hình (1).
Việc lựa chọn những kỳ nghỉ lễ tại Việt Nam trong nghiên cứu này là tương tự như nghiên cứu của Trương Đông Lộc & cộng sự (2017) và Lại Cao Mai Phương (2018). Nếu tồn tại hiệu ứng ngày trong tuần, hiệu ứng kỳ nghỉ lễ tại Việt Nam thì hệ số hồi quy của các biến đại diện cho hiệu ứng được kỳ vọng có giá trị khác không và có ý nghĩa thống kê trong mô hình (1).
Các biến tính theo ngày lịch âm: Hạn chế trong nghiên cứu của Almonte (2016) là dữ liệu tháng 7 âm lịch lại được tính là tháng 8 dương lịch chứ không đổi theo lịch âm là chưa phù hợp, vì năm âm lịch khác năm dương lịch là có tháng nhuận, nên không phải tất cả tháng 7 âm lịch luôn luôn rơi vào tháng 8 dương lịch. Do đó, để phản ánh đúng TSSL VN-Index và HNX-Index có thể bị ảnh hưởng khi giao dịch vào những ngày đầu tháng âm lịch, các biến liên quan đến lịch âm trong mô hình đều được đổi theo đúng ngày lịch âm. Các biến tính theo lịch âm gồm những biến giả: 3 ngày giao dịch đầu tiên trong tháng 7 âm lịch và các tháng còn lại là Dauthang7AL và DauthangAL, 3 ngày xung quanh ngày rằm hàng tháng là RamAL, giao dịch trong tháng 7 âm lịch là Thang7AL.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để ước lượng cho mô hình (1) nhằm tìm ra mối liên hệ về TSSL khi cổ phiếu Việt Nam giao dịch vào những ngày đầu tháng âm lịch thông qua giá đóng cửa của chỉ số VN-Index và HNX-Index.
Kết quả nghiên cứu
Bảng 1 trình bày kết quả thống kê các biến trong mô hình nghiên cứu và kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi biến rvnindex và rhnxindex. Theo quy định trên TTCK Việt Nam từ trước đến nay biên độ dao động tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) luôn cao hơn SGD chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSX), vì vậy giá trị tuyệt đối của các biến và độ lệch chuẩn TSSL của HNX-Index luôn cao hơn so VN-Index. Kết quả kiểm định tính dừng của hai chuỗi biến rvn-index và rhnx-index theo Dickey-Fuller (1979) và Phillips-Perron (1988) đều đảm bảo là các chuỗi dừng với mức ý nghĩa 1%, vì vậy dữ liệu chứng khoán sử dụng là phù hợp với phương pháp ước lượng trong mô hình (1).
Trong giai đoạn nghiên cứu từ 28/9/2007 đến 04/1/2019, các biến kiểm soát hiệu ứng kỳ nghỉ lễ đều có 33 quan sát, phù hợp với cửa sổ nghiên cứu đối với từng biến này đều là trước và sau 3 ngày giao dịch. Các biến kiểm soát cho hiệu ứng ngày trong tuần trong mô hình (1) dao động từ 561 đến 565 cho thấy, trong khoảng thời gian nghiên cứu số lượng những ngày trong tuần khá cân bằng và không bị lệch quá vào bất cứ ngày nào trong tuần.
Số lượng ngày giao dịch trong đầu tháng 7 âm lịch trong hơn 11 năm là 33 quan sát, số ngày giao dịch đầu tháng âm lịch còn lại là 335 quan sát lớn hơn so với những giao dịch xung quanh ngày rằm hàng tháng là 293 quan sát nhưng không quá nhiều. Sự chênh lệch giữa số ngày giao dịch trong vào đầu tháng so với những ngày giữa tháng âm lịch là do một số ngày giữa tháng từ 13-16 âm lịch trùng với những ngày nghỉ nên chứng khoán không giao dịch, nhưng sự chênh lệch này không quá lớn khi trung bình khoảng 4 ngày/năm.

Dựa vào kết quả hồi quy trong Bảng 2 cho thấy:
Hiệu ứng ngày trong tuần: TSSL của VN-Index và HNX-Index có xu hướng tích cực khi giao dịch vào ngày thứ 6 và có xu hướng tiêu cực vào ngày thứ 3. Kết quả này ủng hộ cho những nghiên cứu trước đây về TSSL của TTCK Việt Nam có sử dụng hiệu ứng ngày trong tuần như nghiên cứu của Trương Đông Lộc & cộng sự (2017), Lại Cao Mai Phương (2018).
Hiệu ứng kỳ nghỉ lễ: Giao dịch chứng khoán vào 3 ngày trước kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán có ảnh hưởng tích cực đến TSSL của cả VN-Index và HNX-Index với mức ý nghĩa 1%. Với mức ý nghĩa 10%, giao dịch chứng khoán trước ngày Chiến thắng (30 tháng 4) có ảnh hưởng tích cực đến TSSL VN-Index, giao dịch chứng khoán trước ngày Quốc Khánh (02 tháng 9) có ảnh hưởng tích cực đến TSSL HNX-Index.
Như vậy, so với các kỳ nghỉ lễ, trước kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán có tác động rộng nhất - ảnh hưởng đến TSSL trên cả 2 SGD chứng khoán tại Việt Nam là HSX và HNX. Tác động của kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán tính theo lịch âm đến TSSL chứng khoán là ủng hộ cho các nghiên cứu của Chan & cộng sự (1996) đối với TTCK tại Indonesia, Singapore và Thái Lan, Lại Cao Mai Phương (2018) trên TTCK Việt Nam, Lê Thị Hồng Minh & Trương Ngọc Sơn (2018) trên TTCK Việt Nam, Malaysia và Nhật Bản.
TSSL chứng khoán khi giao dịch vào những ngày đầu tháng âm lịch: Mô hình TSSL của VN-Index và HNX-Index đều có hệ số hồi quy âm vào 3 ngày giao dịch đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán và vào đầu tháng 7 âm lịch, đều có hệ số hồi quy dương vào 3 ngày giao dịch đầu tiên đối với các tháng còn lại. Tuy nhiên, trong các hệ số hồi quy này chỉ có hệ số hồi quy vào 3 ngày đầu tiên đầu tháng 7 âm lịch hàng năm là có ý nghĩa thống kê 5% đối với mô hình TSSL của VN-Index và HNX-Index. Nói cách khác, TSSL của VN-Index và HNX-Index có xu hướng tiêu cực hơn so với những ngày còn lại khi giao dịch vào 3 ngày đầu tiên của tháng 7 âm lịch.
Kết quả này tại TTCK Việt Nam ủng hộ một phần cho kết quả của Almonte (2016) khi nghiên cứu liên quan đến tháng 7 âm lịch trên TTCK Phillippine, nhưng không hỗ trợ cho kết quả của Floros & Tan (2013) và Borowski (2015) khi nghiên cứu về những ngày đầu tháng âm lịch tại các quốc gia phát triển và mới nổi. Ngược lại, TSSL của VN-Index và HNX-Index có xu hướng tích cực hơn so với những ngày khác khi giao dịch vào những ngày còn lại trong tháng 7 âm lịch khi cả 2 mô hình TSSL trên HSX và HNX đều có hệ số hồi quy dương có ý nghĩa thống kê. Tóm lại, so với các nghiên cứu trước đây (Floros & Tan, 2013; Borowski, 2015; Almonte, 2016), nghiên cứu này đã phát hiện ra TSSL chứng khoán Việt Nam có xu hướng giảm hơn so với những ngày còn lại khi giao dịch vào ba ngay đầu tiên trong tháng 7 âm lịch.
Thảo luận kết quả
Sau khi kiểm soát hiệu ứng ngày trong tuần, hiệu ứng kỳ nghỉ lễ và những ngày giữa tháng âm lịch mô hình TSSL của TTCK Việt Nam vào những ngày đầu tháng âm lịch cho thấy TSSL của VN-Index và HNX-Index có xu hướng giảm so với những ngày khác khi giao dịch vào 3 ngày đầu tiên trong tháng 7 âm lịch.
Kết quả này hỗ trợ một phần cho kết quả nghiên cứu Almonte (2016) liên quan đến tháng 7 âm lịch trên TTCK Phillippines nhưng không hỗ trợ cho kết quả nghiên cứu của Floros & Tan (2013) và Borowski (2015) liên quan đến những ngày đầu tháng âm lịch tại các quốc gia phát triển và mới nổi có thể được giải thích bởi một số lý do sau:
Thứ nhất, phong tục thờ cúng tổ tiên được thực hiện hàng tháng là một nét đẹp văn hóa của người Việt và chưa tìm thấy mối liên hệ của phong tục này vào những ngày đầu hoặc giữa tháng âm lịch với TSSL của TTCK Việt Nam.
Thứ hai, có mối liên hệ giữa TSSL của TTCK Việt Nam liên quan đến tháng 7 âm lịch có thể được giải thích bởi sự thận trọng của các nhà đầu tư trên TTCK tăng lên khi bắt đầu bước sang tháng 7 âm lịch, nhưng tâm lý thận trọng này chỉ tập trung vào nhiều vào 3 ngày đầu tiên của tháng chứ không phải toàn bộ những ngày trong tháng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 3 ngày giao dịch đầu tiên trong tháng 7 âm lịch có tác động tiêu cực đến TSSL của VN-Index và HNX-Index. Như vậy, kết quả này đã lý giải một phần tâm lý của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam, đó là chỉ thận trọng vào những ngày đầu tiên của tháng 7 âm lịch, chứ không thận trọng trong cả tháng 7 âm lịch như trong kết quả nghiên cứu của Almonte (2016).
Theo đó, các nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường Việt Nam có thể chỉ theo quan điểm "có kiêng có lành" vào 3 ngày đầu tháng Bảy âm lịch và thời gian còn lại họ quan tâm nhiều đến yếu tố nội tại của toàn thị trường, ngành và doanh nghiệp hơn so với các nhà đầu tư chứng khoán tại Phillipines. Do đó, để đạt hiệu quả khi giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam, các nhà đầu tư - đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân mới cần tập trung vào phân tích cơ bản (như: yếu tố vĩ mô, ngành, công ty), phân tích kỹ thuật để ra quyết định đầu tư và họ xem tháng Bảy âm lịch như là một nét đẹp truyền thống của người Việt Nam để tưởng nhớ những người đã khuất.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 125/2017/NĐ-CP của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo Nghị định 125/2017/NĐ-CP, Chính phủ quy định, để được áp dụng ưu đãi thuế 0% đối với linh kiện nhập khẩu, doanh nghiệp phải đáp ứng đủ điều kiện về sản lượng chung tối thiểu và sản lượng riêng tối thiểu cho mẫu xe cam kết.
Trên thực tế, hiện nay tại Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào sản xuất các chủng loại xe ô tô chạy điện, xe ô tô sử dụng pin nhiên liệu, xe ô tô hybrid, xe ô tô sử dụng nhiên liệu sinh học hoàn toàn, xe ô tô sử dụng khí thiên nhiên nên giai đoạn đầu đi vào hoạt động cần có giai đoạn phát triển thị trường, chưa thể đáp ứng các tiêu chí sản lượng như các chủng loại xe chạy bằng xăng, dầu.
Đồng thời, theo Bộ Tài chính, Việt Nam đã kí kết Hiệp định thương mại tự do (CPTPP) năm 2018, cam kết giảm dần thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc về 0% sau 7-9 năm.
Trước tình hình trên, Bộ Tài chính thấy cần có chính sách kịp thời cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô để duy trì và phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Theo đó, Bộ Tài chính bổ sung các mặt hàng thuộc đối tượng được tham gia chương trình ưu đãi gồm ô tô chạy điện, ô tô sử dụng pin nhiên liệu, ô tô hybrid, ôtô sử dụng nhiên liệu sinh học và ô tô dụng khí thiên nhiên.
Cụ thể, Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 125/2017/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã bổ sung quy định “Trường hợp sản xuất, lắp ráp xe ô tô thuộc các chủng loại xe ô tô chạy điện, xe ô tô sử dụng pin nhiên liệu, xe ô tô hybrid, xe ô tô sử dụng nhiên liệu sinh học hoàn toàn, xe ô tô sử dụng khí thiên nhiên, doanh nghiệp không phải cam kết về mẫu xe và không phải đáp ứng điều kiện về sản lượng tối thiểu trong 02 kỳ đầu tiên xét ưu đãi kể từ ngày đăng ký tham gia Chương trình ưu đãi thuế nhưng phải đáp ứng đủ sản lượng tối thiểu kể từ kỳ xét ưu đãi tiếp theo”.
Về sản lượng tối thiểu, để khuyến khích các doanh nghiệp đang sản xuất, lắp ráp xe sử dụng nhiên liệu xăng, dầu, mở rộng sản xuất, lắp ráp sang các loại xe sử dụng pin nhiên liệu, xe hybrid, xe sử dụng nhiên liệu sinh học hoàn toàn, xe sử dụng khí thiên nhiên, tại dự thảo Nghị định đã bổ sung như sau:
Trường hợp doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe ô tô sử dụng nhiên liệu xăng, dầu và xe ô tô chạy điện, xe ô tô sử dụng pin nhiên liệu, xe ô tô hybrid, xe ô tô sử dụng nhiên liệu sinh học hoàn toàn, xe ô tô sử dụng khí thiên nhiên đăng ký thêm 01 mẫu xe ô tô chở người từ 09 chỗ ngồi chở xuống/ xe minibuýt hoặc tối đa 02 mẫu xe buýt/xe khách/xe ô tô tải thuộc chủng loại xe ô tô chạy điện, xe ô tô sử dụng pin nhiên liệu, xe ô tô hybrid, xe ô tô sử dụng nhiên liệu sinh học hoàn toàn, xe ô tô sử dụng khí thiên nhiên thì doanh nghiệp được cộng sản lượng của mẫu xe đăng ký thêm vào sản lượng riêng tối thiểu để xét ưu đãi thuế.
Trường hợp doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe ô tô sử dụng nhiên liệu xăng, dầu và xe ô tô chạy điện, xe ô tô sử dụng pin nhiên liệu, xe ô tô hybrid, xe ô tô sử dụng nhiên liệu sinh học hoàn toàn, xe ô tô sử dụng khí thiên nhiên không đáp ứng tiêu chí sản lượng chung tối thiểu, sản lượng riêng tối thiểu của mẫu xe đăng ký nhưng có đáp ứng sản lượng tối thiểu trong kỳ ưu đãi đạt thì doanh nghiệp được áp dụng thuế suất ưu đãi 0% đối với linh kiện nhập khẩu để sản xuất xe ô tô chạy điện, xe ô tô sử dụng pin nhiên liệu, xe ô tô hybrid, xe ô tô sử dụng nhiên liệu sinh học hoàn toàn, xe ô tô sử dụng khí thiên nhiên.
Tại Dự thảo Nghị định, Bộ Tài chính cũng bổ sung đối tượng được áp dụng Chương trình ưu đãi tại dự thảo Nghị định như sau:
Trường hợp Tập đoàn, Tổng Công ty, Công ty có quy mô vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên tham gia góp vốn (hoặc chiếm số cổ phần) trên 35% vào các công ty sản xuất, lắp ráp ô tô thì các công ty nhận vốn góp (hoặc chiếm số cổ phần) trên 35% không phải đáp ứng điều kiện về sản lượng khi xét điều kiện hưởng ưu đãi của Chương trình cho thời gian còn lại nếu một trong số các Công ty trên đạt điều kiện của Chương trình ưu đãi tại kỳ xét ưu đãi và các xe sản xuất lắp ráp của các công ty phải cùng nhóm xe, mẫu xe cam kết với Công ty đang được hưởng ưu đãi.
Việc áp dụng mức thuế suất 0% đối với các linh kiện nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp ô tô của mỗi doanh nghiệp phải tương ứng với sản lượng ô tô nguyên chiếc thực tế mà mỗi doanh nghiệp đã sản xuất, lắp ráp tại kỳ xét ưu đãi.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Khi quỹ đất tại TP. Hồ Chí Minh ngày càng ít dần, nguồn cung căn hộ tại các quận gần trung tâm thành phố cũng giảm theo. Sự khan hiếm khiến cho cơ hội mua nhà ở nội thành đối với người có thu nhập trung bình ngày càng xa tầm tay, dẫn đến việc nhiều người chọn mua nhà, đất ở các quận huyện ngoại thành và vùng lân cận TP. Hồ Chí Minh.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Hồi đầu năm 2019, anh Thuận có số tiền khoảng 1 tỉ đồng và tìm mua nhà ở các quận 7, quận 2, quận 9 nhưng không tìm được nhà có sổ hồng phù hợp số tiền mình có.
Giá còn “mềm”
Anh Thành đành về khu vực huyện Hóc Môn tìm mua đất dự án đã có hạ tầng đầy đủ và xây nhà với chi phí hơn 1 tỉ đồng. Dù phải đi làm với khoảng cách 23km mỗi ngày nhưng anh hài lòng vì có được căn nhà vừa túi tiền. Nhiều người cũng có quyết định như anh Thành trong việc chọn mua nhà.
Thông tin trên các trang web mua bán bất động sản cho thấy giá nhà có diện tích vừa phải ở các huyện ngoại thành như Hóc Môn, Củ Chi hiện nay ở mức từ 800 triệu đồng đến 1,5 tỉ đồng/căn.
Còn giá bán căn hộ chung cư ở những khu vực này hiện từ 900 triệu đồng đến 1,2 tỉ đồng/căn. Riêng đất nền có giá bán từ 600-900 triệu đồng/nền.
Đối với các tỉnh lân cận TP. Hồ Chí Minh, chẳng hạn khu vực Dĩ An của tỉnh Bình Dương, mức giá bất động sản khá cao. Giá một căn nhà diện tích hơn 50m², có sổ hồng được rao bán từ 1,2 tỉ đồng trở lên. Thậm chí có những căn trong hẻm diện tích từ 80-100m² được bán với giá 1,8-2,2 tỉ đồng/căn.
Ông Thành, một người làm nghề môi giới nhà đất ở khu vực Dĩ An, Bình Dương, cho biết sở dĩ giá nhà, đất ở đây cao hơn khu vực Củ Chi, Hóc Môn của TP. Hồ Chí Minh là do khu vực này có nhiều khu công nghiệp, người dân đổ về sinh sống “kín” chỗ.
Hơn nữa, khu vực này có hạ tầng thuận tiện, chẳng hạn có tuyến đường Phạm Văn Đồng, xa lộ Hà Nội… nên việc di chuyển vào trung tâm hay đi sân bay Tân Sơn Nhất đều thuận lợi.
Ở một tỉnh lân cận khác là Đồng Nai, trong đó khu vực giáp TP. Hồ Chí Minh là thành phố Biên Hòa, giá nhà, đất cũng ở mức khá cao so với các huyện Củ Chi, Hóc Môn của TP. Hồ Chí Minh. Hiện tại, giá nhà ở Biên Hòa được rao bán từ 950 triệu đồng đến 2 tỉ đồng/căn tùy theo diện tích và vị trí. Căn hộ chung cư có giá từ 1,2 tỉ đồng trở xuống.
Ở khu vực phía Tây, các huyện của Long An giáp với TP. Hồ Chí Minh như Đức Hòa, Cần Giuộc, giá nhà ở mức từ 800 triệu đồng đến 1,5 tỉ đồng/căn. Đất nền dự án ở các khu vực này đang ở mức từ 500-800 triệu đồng/nền.
Nhiều dự án đầu tư cho hạ tầng
Hiện nay, việc kết nối giao thông khu vực Hóc Môn, Củ Chi với trung tâm TP. Hồ Chí Minh chỉ có duy nhất tuyến quốc lộ 22 nên đang bị quá tải và thường gặp tình trạng kẹt xe.
Tuy nhiên, TP. Hồ Chí Minh đang ưu tiên phát triển về hướng Tây Bắc vì khu vực này còn nhiều quỹ đất để phát triển đô thị, giá đất còn trong mức chấp nhận được. TP. Hồ Chí Minh sẽ đầu tư nhiều tuyến đường như mở rộng quốc lộ 22, đường Phan Văn Hớn, tỉnh lộ 9, tỉnh lộ 15, tỉnh lộ 22…
Khi hoàn thành việc mở rộng và nâng cấp, các tuyến đường này sẽ trở thành trục giao thông huyết mạch khu vực Tây Bắc, cụ thể là quận 12 với huyện Hóc Môn và Củ Chi. Đây cũng sẽ là tuyến đường giúp người dân kết nối nhanh chóng với trung tâm thành phố.
Ngoài ra, TP. Hồ Chí Minh cũng chủ trương nâng cấp tỉnh lộ 7, đoạn từ cầu Kênh N31A đến ngã tư Tân Quy (Củ Chi) với tổng mức đầu tư 368 tỉ đồng.
Việc đầu tư dự án này kết hợp với đầu tư các đoạn còn lại trên trục tỉnh lộ 8 được xác định sẽ góp phần hoàn tất trục đuờng tỉnh lộ 8 kết nối Long An – Củ Chi – Bình Dương, qua đó tạo thành trục động lực phát triển của các địa phương nằm dọc theo tuyến đường này.
Chính phủ cũng đã đồng ý kiến nghị của lãnh đạo tỉnh Tây Ninh về việc sớm triển khai dự án đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Mộc Bài.
Khi hoàn thành, tuyến đường này sẽ kết nối khu đô thị Mộc Bài với các đường Vành đai 4, Vành đai 3 của TP. Hồ Chí Minh, trở thành cửa ngõ ra vào TP. Hồ Chí Minh.
Ở khu vực phía Đông, việc kết nối giữa TP. Hồ Chí Minh với các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương hiện nay khá thuận lợi khi có các tuyến đường xa lộ Hà Nội, đường Phạm Văn Đồng, sắp tới có thêm tuyến metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên).
Do vậy, giá nhà đất ở Bình Dương và Đồng Nai được hưởng lợi nhờ hạ tầng nên giá nhìn chung cao hơn các khu vực khác.
Nhu cầu tăng
Ông Tài, một người làm nghề môi giới nhà đất ở Củ Chi và Hóc Môn, cho biết nhu cầu mua bán nhà, đất ở các huyện ngoại thành tăng vì giá cả phù hợp khả năng tài chính của người mua. Người mua đa số là những người ngoại tỉnh vào thành phố làm ăn, muốn có một căn nhà để ổn định cuộc sống. Ông cho biết, tâm lý chung của họ là muốn mua nhà phố hoặc mua đất nền để xây nhà nên ít người chọn mua chung cư. Ông nói: “Nguồn cung ở ngoại thành khá đa dạng từ nhà phố đã xây sẵn đến đất nền nên người mua có nhiều sự lựa chọn. Tuy nhiên, có vẻ họ đang hướng đến mua đất nền dự án để xây nhà vì các dự án có đường xá hạ tầng tốt hơn. Nhà phố đôi khi có hẻm vào khá nhỏ nên bất tiện cho việc di chuyển, chuyển dời đồ đạc…”.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Với vị trí thuận lợi, cơ sở hạ tầng đảm bảo, Quảng Ninh là một trong những cửa ngõ để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông, thủy sản sang thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng này sang Trung Quốc, bên cạnh sự nỗ lực của doanh nghiệp cần có sự hợp sức của các cấp, các ngành…
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Trong những năm qua, để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều đổi mới, cải cách, tạo động lực khuyến khách các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu. Theo đó, Quảng Ninh đã đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa các thủ tục và công khai, minh bạch các quy trình thủ tục, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, hạn chế tối đa việc phát sinh các chi phí không chính thức cho doanh nghiệp.
Cùng với việc đẩy mạnh cải cách trên, thiết lập môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp, Quảng Ninh đã, đang và sẽ tếp tục triển khai quyết liệt nhiều giải pháp đồng bộ để phát huy hiệu quả các lợi thế của Tỉnh, cụ thể:
Quảng Ninh tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu như: Đẩy nhanh việc nâng cấp xây dựng cầu tại cửa khẩu Hoành Mô, cửa khẩu Bắc Phong Sinh; rà soát mở rộng các kho, bãi tại khu vực cửa khẩu, đưa vào khai thác đường 18C nối cửa khẩu Bắc Phong Sinh đến thành phố Móng Cái. Quy hoạch và xây dựng khu vực lối mở Thán Sản – Pò Hèn và sớm công bố lối mở này để thông quan hàng hóa.
Đồng thời, thành lập Trung tâm giao dịch hàng hóa nông lâm thủy hải sản, hoa quả tại k hu vực cầu phao nổi Km3+4 Móng Cái. Khuyến khích các doanh nghiệp phát triển hạ tầng kỹ thuật cho dịch vụ logistics; từng bước hình thành các trung tâm logistics tại các địa phương biên giới để kết nối hàng hóa xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ninh tăng cường kết nối giữa các tỉnh trong nước để tạo thành một kênh sản xuất – tiêu thụ thống nhất từ khâu kết nối thị trường tiêu thụ đến việc lựa chọn sản phẩm để sản xuất hầng hóa theo hướng tập trung phục vụ xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh các sản phẩm có thế mạnh cửa khẩu, cảng biển của tỉnh.
Mặt khác, xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hóa, đẩy mạnh hoạt động quảng bá và quản lý có hiệu quả việc sử dụng thương hiệu, sản phẩm lợi thế địa phương. Quan tâm hỗ trợ xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó, hỗ trợ cho một số doanh nghiệp có đầu tư sản xuất, chế biến hàng hóa nông sản, thủy sản đáp ứng đầy đủ các điều kiện, yêu cầu của nước nhập khẩu và là lòng cốt để hỗ trợ các cơ sở khác trong tỉnh phần nào chưa đáp ứng các điều kiện của nước nhập khẩu.
Đặc biệt, Tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm hỗ trợ, nâng cao năng lực các doanh nghiệp thông qua xây dựng quy trình chuẩn hóa về nuôi trồng, sản xuất các loại nông sản, thủy sản; hướng dẫn kiểm soát chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến, an toàn thực phẩm, mã vùng nuôi, mã doanh nghiệp, phương thức bảo quản, bao bì nhãn mác… cho các doanh nghiệp; gắn với kiểm soát chất lượng sản phẩm thủy sản. Đẩy mạnh hoạt động quảng bá tiếp thị, xúc tiến thương mại, kết nối, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc qua các cửa khẩu tỉnh Quảng Ninh.
Theo các chuyên gia, cùng với những giải pháp trên, để tận dụng hết tiềm năng, lợi thế của địa phương, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường láng giềng lớn mạnh, thì cần có sự vào cuộc của các cấp, các ngành trong tỉnh.
Cụ thể, Ủy ban nhân dân các thành phố, huyện, thị xã và Hiệp hội doanh nghiệp trong tỉnh cần có định hướng, giải pháp tháo gỡ và vận động các doanh nghiệp chủ động chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh áp dụng tiếp bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất hàng hóa có hàm lượng giá trị tăng cao, chất lượng, có thế mạnh XK của địa phương và hỗ trợ, tăng cường xúc tiến hàng hóa xuất khẩu cho các doanh nghiệp.
Ngoài ra, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa theo đúng quy định của pháp luật; không để các đối tượng lợi dụng hoạt động thương mại biên giới để buôn lậu, gian lận thương mại và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Hiện nay, trên tuyến biên giới đất liền của tỉnh Quảng Ninh có 18 cửa khẩu, lối mở, điểm xuất hàng đã được công bố thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, tái xuất hàng hóa và hoạt động mua bán hàng hóa. Tại các cửa khẩu, lối mở, điểm xuất hàng đều được đầu tư cơ bản, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh; có đầy đủ các lực lượng chức năng.
Tuy nhiên, hiện, vẫn thiếu sự kết nối giữa doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp logistics; cơ sở hạ tầng logistics còn yếu và chưa đồng bộ; sự phối hợp, liên kết giữa các doanh nghiệp và các khâu trong chuỗi hoạt động dịch vụ logistics chưa đồng bộ; dịch vụ logistics vẫn chưa có những giải pháp trọn gói, thiếu các dịch vụ gia tăng cho chuỗi cung ứng của chủ hàng.
Bên cạnh đó, hoạt động tái xuất hàng hóa qua các cửa khẩu, lối mở biên giới tỉnh Quảng Ninh đang dần mất lợi thế do phía Trung Quốc thắt chặt kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Trung Quốc, đặc biệt là đối với các loại hàng hóa nhập khẩu từ nước thứ 3.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
“Thương chiến” Mỹ-Trung Quốc leo thang sau tuyên bố phá giá đồng NDT khiến giới phân tích không khỏi lo ngại nguy cơ chiến tranh tiền tệ.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia xung quanh vấn đề này.
Nhiều nước cũng sẵn sàng phá giá tiền tệ
Phóng viên: Quyết định phá giá đồng nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc đẩy “thương chiến” Mỹ - Trung leo thang. Nhiều nền kinh tế khác cũng chuyển động theo diễn biến mới này. Theo ông, chuyện gì sẽ xảy ra tới đây?
Ông Lê Xuân Nghĩa: Thương mại toàn cầu thời gian qua đã suy giảm nghiêm trọng, tốc độ tăng trưởng đã thấp hơn cả tốc độ tăng trưởng GDP. Nguyên nhân là do Trung Quốc phá giá đồng NDT để giảm thiểu tác động xấu từ việc đánh thuế của Mỹ.
Thực chất, phá giá đồng NDT cũng là một biện pháp đánh thuế. Ví dụ Mỹ đánh thuế 10% mà Trung Quốc phá giá 5% thì trên thực tế mức thuế của Mỹ chỉ còn tác động 5%.
Vấn đề là, khi Trung Quốc làm như vậy không chỉ tác động đến quan hệ song phương với Mỹ mà còn tác động đến quan hệ với nhiều đồng tiền, nhiều thị trường khác - là đối tác thương mại của Trung Quốc. Tất nhiên, nhiều nước trong số đó cũng không để yên và cũng sẵn sàng phá giá đồng tiền của họ dẫn đến thương mại toàn cầu tiếp tục khủng hoảng.
Liệu có khả năng các nước đồng loạt phá giá đồng tiền không, thưa ông?
Có thể không phá giá đồng loạt mà sẽ diễn ra trước, sau. Khi đó, không chỉ thương mại, mà dòng vốn đầu tư toàn cầu cũng suy giảm. Các nhà đầu tư sẽ cảm thấy lo ngại rằng có thể có một cuộc chiến tranh tiền tệ xảy ra trong tương lai.
Như vậy, họ buộc phải thận trọng trong đầu tư vào bất cứ khu vực nào, kể cả đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Như vậy sẽ làm cho kinh tế toàn cầu yếu đi. Chúng ta đã nhìn thấy hiện tượng rất rõ ràng đó là đầu tư dài hạn cũng có dấu hiệu suy giảm, lãi suất trái phiếu Chính phủ dài hạn của Mỹ xuống thấp, bằng, thậm chí thấp hơn lãi suất ngắn hạn.
Hậu quả khác, về lâu dài sẽ làm lạm phát tăng lên bởi phá giá tiền tệ đồng nghĩa với việc phát hành tiền. Lạm phát tăng trong bối cảnh thương mại giảm đồng nghĩa kinh tế trì trệ.
Như vậy, căng thẳng thương mại càng gia tăng, chiến tranh tiền tệ càng tới gần?
Những tác động của cuộc chiến tranh thương mại được giải quyết bằng biện pháp tiền tệ rất dễ dẫn đến một cuộc chiến tranh tiền tệ. Trong trường hợp chủ nghĩa bảo hộ trở nên mạnh mẽ hơn sẽ thành đi ngược, đối đầu với xu hướng toàn cầu hoá.
Đến lúc đó, một số đồng tiền chủ chốt có thể mất giá nghiêm trọng và hậu quả của thương mại toàn cầu cũng như nền kinh tế toàn cầu là không thể lường trước được. Không loại trừ có thể đẩy nền kinh tế toàn cầu vào cuộc suy thoái thực sự.
Việt Nam cần dung hòa các thị trường với nhau
Trong bối cảnh này, Việt Nam phải chịu những tác động gì?
Trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, Việt Nam nhập siêu là chính. Việc Trung Quốc phá giá đồng NDT càng làm nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc diễn ra với quy mô lớn hơn. Điều này có thể dẫn đến hậu quả, thặng dư thương mại của Việt Nam giảm sút, thậm chí thâm hụt trong nhiều tháng tới đây.
Trung Quốc phá giá đồng NDT, nhiều đồng tiền khác cũng sẽ phá giá theo mà điển hình là đồng Yên (Nhật) đã phản ứng rồi. Đồng Yên phá giá, nhập siêu từ Nhật tăng lên, tương tự như với Trung Quốc, đồng thời xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật ảnh hưởng. Như vậy sẽ làm trầm trọng thêm thâm hụt cán cân thương mại…
Ngoài ra, thương mại toàn cầu suy giảm mà Việt Nam là nước tăng trưởng kinh tế phụ thuộc rất lớn vào thương mại, vì tổng kim ngạch hai chiều đã gấp đôi GDP. Trong khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ chỉ chiếm khoảng 25% GDP thì của Việt Nam lên tới 200% GDP.
Như vậy, Trung Quốc phá giá đồng NDT ảnh hưởng đối với Mỹ không quá lớn nhưng có tác động bất lợi với nhiều nước khác, đặc biệt là những nước xuất khẩu như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Việt Nam… Và điều này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong trung hạn.
Doanh nghiệp ứng phó cách nào, theo ông?
Doanh nghiệp ở Việt Nam không có thói quen phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng các công cụ phái sinh. Vì vậy, cách tốt nhất để giữ ổn định cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh xuất khẩu là phải đa dạng hoá thị trường, đa dạng hóa thành quả, sử dụng các biện pháp về công nghệ, số hóa để thích ứng cũng như chuẩn bị tài chính, phòng khi khó khăn dài hạn.
Theo ông, Việt Nam có nên phá giá đồng tiền không?
Người ta thường nói phá giá tiền tệ đồng nghĩa đua nhau in tiền là để ăn cướp của nhà hàng xóm. Nhưng người hàng xóm cũng biết phá giá “chơi lại”, từ đó sẽ tạo ra một cuộc chiến tiền tệ thực sự.
Thâm hụt thương mại gia tăng sẽ tác động trực tiếp lên tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong trung hạn.
Trong trường hợp Việt Nam thực hiện các biện pháp nới lỏng tiền tệ, điều chỉnh tỷ giá hối đoái tăng lên sẽ ảnh hưởng xấu đến tâm lý lạm phát. Sợ lạm phát, thay vì đầu tư, doanh nghiệp, người dân sẽ mua đô la, mua vàng dự trữ.
Cho nên, quan trọng nhất bây giờ vẫn là chính sách tiền tệ, đừng cố siết chặt và cũng đừng cố nới lỏng quá. Bởi siết chặt, thị trường bất động sản ảnh hưởng, sẽ tác động trước hết đến ngành ngân hàng vì phần lớn khoản vay được thế chấp bằng bất động sản. Cho nên vào thời điểm này cần một chính sách tương đối dung hoà các thị trường với nhau.
Chính sách tỷ giá hối đoái, theo tôi nên ổn định cơ bản và điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thực tế. Như vậy sẽ duy trì được đầu tư thương mại vào Việt Nam, bảo đảm được tâm lý lạm phát cũng như tạo cho doanh nghiệp lòng tin trong việc đầu tư dài hạn. Trong trường hợp đặc biệt cần thiết có thể can thiệp bằng ngoại tệ để ổn định tỷ giá.
Cảm ơn ông!
"Có một biện pháp có thể thực hiện được ngay, không gây tốn kém là cải thiện thể chế, chính sách, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, giúp giảm thiểu các chi phí về hành chính, rút ngắn thời gian, tiến độ sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, Chính phủ và các bộ, ngành phải đẩy mạnh công nghệ, sáng tạo, chống tham nhũng để tiết kiệm chi phí. Thậm chí, dùng cả văn hóa để tiết kiệm chi phí như kiểm soát chặt chẽ việc tiêu dùng rượu, bia để giảm được TNGT và tiết kiệm hàng mấy chục nghìn tỷ đồng mỗi năm cho xử lý hậu quả tai nạn. Hay giảm "chặt chém" khách du lịch để thu hút họ quay trở lại cũng là dùng văn hóa để tiết kiệm chi phí. Những giá trị đó tạo ra tiền thực sự trong khi chi phí đầu tư rất thấp.
Ông Lê Xuân Nghĩa
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Bắc Kinh có thể tiếp tục trả đũa Washington bằng cách cắt giảm mạnh lượng dầu thô nhập khẩu từ Mỹ trong những tuần tới.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Cuộc thương chiến đang kéo dài với Mỹ được cho là đang giáng đòn mạnh vào kinh tế Trung Quốc giữa lúc có những dấu hiệu cho thấy hai bên còn lâu mới đạt được thỏa thuận chấm dứt nó. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hôm 9-8 đánh giá kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng chậm lại trong bối cảnh xung đột thương mại với Mỹ.
Tuy nhiên, nếu Washington tiếp tục tăng cường áp thuế lên hàng nhập khẩu Trung Quốc, tăng trưởng của nền kinh tế thứ 2 thế giới có thể còn giảm mạnh hơn nữa.
Báo cáo mới của IMF đã hạ dự báo tăng trưởng của Trung Quốc xuống còn 6,2% trong năm nay, với giả định là sẽ không có thêm đòn thuế mới từ Mỹ. Tuy nhiên, ông James Daniel, trưởng đại diện IMF tại Trung Quốc, nhận định mức thuế 10% nhằm vào 300 tỉ USD hàng hóa Trung Quốc mà Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố gần đây có thể khiến tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giảm 0,3 điểm phần trăm trong năm 2020.
Ngoài ra, nếu Mỹ quyết định áp thuế đến 25% đối với những mặt hàng Trung Quốc chưa bị áp, Bắc Kinh sẽ chứng kiến kinh tế tăng trưởng chậm hơn nữa trong năm tới (giảm 0,8 điểm phần trăm). Kinh tế Trung Quốc trong quý II/2019 tăng trưởng 6,2%, mức thấp nhất trong gần 30 năm qua.
Theo IMF, sự leo thang căng thẳng thương mại với Mỹ có thể đe dọa đến sự ổn định về tài chính và kinh tế của Trung Quốc, khiến Bắc Kinh có thể cần thêm các biện pháp kích thích tài chính. Nguy cơ thương chiến Mỹ - Trung kéo dài không phải không có cơ sở khi Tổng thống Donald Trump hôm 9-8 tuyên bố hai bên vẫn đang đàm phán nhưng Washington chưa sẵn sàng ký thỏa thuận với Bắc Kinh.
Nhà lãnh đạo này thậm chí nói đến khả năng hủy vòng đàm phán mới dự kiến diễn ra tại thủ đô Washington trong tháng 9 dù cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro sau đó nói công việc chuẩn bị cho cuộc gặp này vẫn đang diễn ra.
Đáng chú ý, theo báo South China Morning Post, báo cáo mới của IMF không đứng về phía Washington trong cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ. Cụ thể, IMF không thấy có bằng chứng về việc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) cố tình giảm giá trị đồng nội tệ - một động thái có thể giúp nhà xuất khẩu nước này có lợi thế cạnh tranh về giá so với các đối thủ nước ngoài.
Dù vậy, ông Daniel nói thêm với Reuters rằng IMF khuyến khích Trung Quốc theo đuổi một tỉ giá hối đoái linh hoạt hơn và ít có sự can thiệp hơn.
Vấn đề là Mỹ không chấp nhận đánh giá trên của IMF. Ông chủ Nhà Trắng vẫn giữ nguyên cáo buộc Trung Quốc thao túng đồng nội tệ để bù đắp phần nào những thiệt hại từ biện pháp thuế quan của Mỹ.
Đi xa hơn, ông Navarro cảnh báo Mỹ sẽ hành động mạnh mẽ nếu Bắc Kinh có bước đi này nhằm vô hiệu hóa đòn thuế của Washington. "Trung Quốc sẽ phải chịu gần như toàn bộ thiệt hại vì thao túng tiền tệ và giảm giá đồng tiền" - ông Navarro nhận định với đài CNBC hôm 9/8.
Ở chiều ngược lại, một số cựu lãnh đạo PBOC hôm 10/8 cảnh báo về nguy cơ nổ ra chiến tranh tiền tệ sau khi căng thẳng thương mại với Mỹ leo thang đột ngột trong tuần này. Ông Chen Yuan, cựu Phó Thống đốc PBOC, cho rằng việc Mỹ gán mác thao túng tiền tệ cho Trung Quốc báo hiệu thương chiến đang trên đường trở thành chiến tranh tài chính và tiền tệ, đồng thời thúc giục các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh phải chuẩn bị cho các cuộc xung đột dài hơi.
Trong khi đó, ông Zhou Xiaochuan, cựu Thống đốc PBOC, cho rằng xung đột Trung - Mỹ có thể lan từ thương mại sang những mặt trận khác, như chính trị, quân sự, công nghệ…
Bộ Thương mại Trung Quốc trong tuần này thông báo ngưng mua nông sản Mỹ để đáp trả động thái thuế quan mới nhất của ông Trump. Theo một số nhà phân tích năng lượng, Bắc Kinh thậm chí có thể tiếp tục trả đũa bằng cách cắt giảm mạnh lượng dầu thô nhập khẩu từ Mỹ.
Theo thống kê, số lượng dầu thô Mỹ xuất sang Trung Quốc tăng lên đến 247.000 thùng/ngày hồi tháng 5 nhưng chuyên gia Stephen Brennock của Công ty PVM Oil Associates (Anh) dự báo con số này có thể giảm xuống con số 0 do căng thẳng thương mại đe dọa đảo ngược xu hướng nói trên.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Quân đội Nga sẽ điều tiêm kích MiG-31 mang tên lửa Kh-47 Kinzhal biệt danh "dao găm" để tham gia các bài tập tấn công trong hội thao quân sự Army Games 2019.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Quá trình M&A trong lĩnh vực bất động sản đang diễn ra ngày một nhiều. Một năm gần đây, đã có nhiều thương vụ trị giá hàng trăm triệu USD diễn ra.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tập đoàn BRG mua lại 75% cổ phần khách sạn InterContinental Hanoi Westlake là một trong những thương vụ M&A ở Việt Nam tiêu biểu nhất năm 2018
Khoảng một năm trở lại đây, quá trình mua bán và sáp nhập (M&A) trong ngành bất động sản - xây dựng đang diễn ra mạnh với 19,89% giá trị các thương vụ diễn ra.
Sôi động thị trường M&A 2018
Theo đó, thương vụ An Quý Hưng mua cổ phần của Vinaconex là một trong những thương vụ ngành bất động sản - xây dựng đáng chú ý nhất năm 2018 với tổng giá trị lên đến 320 triệu USD, tương đương 7.367 tỷ đồng. Về mặt giá trị, đây là thương vụ thoái vốn nhà nước có giá trị lớn nhất của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) năm 2018.
Năm 2018, thông qua đấu giá cạnh tranh, SCIC đã chính thức bán 225 triệu cổ phần (57,71% vốn) Vinaconex cho nhà đầu tư trả giá cao nhất là Công ty TNHH An Quý Hưng. Trong giao dịch này, An Quý Hưng đã trả giá cao hơn 2.000 tỷ đồng so với mức giá khởi điểm của SCIC.
Cùng với đó là thương vụ Sơn Kim Land nhận khoản đầu tư trị giá 121 triệu USD (10% cổ phần) của EXS Capital, ACA Investment thong qua Quỹ đầu tư Lemongrass Master Fund.
Năm 2018 không thể không kể đến sự kiện 75% cổ phần của khách sạn InterContinental Hanoi Westlake được Công ty TNHH Phát triển Du lịch khách sạn Hà Nội của Tập đoàn BRG mua lại với giá trị 53,3 triệu USD. Hiện 25% cổ phần của khách sạn InterContinental Hanoi Westlake thuộc sở hữu của Công ty Thăng Long GTC, một doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa năm 2015.
Tháng 7/2018, Công ty Bất động sản Frasers Property cũng đã mua 75% cổ phần tại Công ty cổ phần Địa ốc Phú An Điền (PAD) với giá trị 799 tỷ đồng (34,3 triệu USD) thông qua thỏa thuận mua cổ phần có điều kiện.
Frasers Property đầu tư vào Việt Nam từ năm 1999 thông qua công ty con là Frasers Property Việt Nam, với dự án tòa nhà văn phòng - bán lẻ 22 tầng Mê Linh Point Tower ở quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
FDI vào bất động sản 2019 giảm 76% so với cùng kỳ 2018
Theo đánh giá của bà Nguyễn Thị Vân Khanh, Giám đốc cấp cao thị trường vốn JLL Việt Nam, FDI vào lĩnh vực bất động sản trong đầu năm 2019 đạt 1,32 tỷ USD, giảm 76% so với con số 5,54 tỷ USD của cùng kỳ năm 2018. Tuy nhiên kết quả này vẫn tăng khả quan so với cùng kỳ 2017 và 2016.
Thị trường bất động sản 2019 bắt đầu với thương vụ thoái vốn của Tập đoàn Keppel Land tại dự án Đồng Nai Waterfront City. Tháng 1/2019, Keppel Land thông báo thoái 70% cổ phần tại dự án này cho tập đoàn Nam Long với tổng số tiền 2.323 tỷ đồng (100 triệu USD).
Ngoài ra, ông lớn đến từ Singapore mới đây cũng đã mua lại 60% cổ phần một khu đất 6,2 ha tại huyện Nhà Bè (TP. Hồ Chí Minh) thông qua một hợp đồng mua bán có điều kiện với Tập đoàn Bất động sản Phú Long. Tổng số tiền đầu tư của thương vụ này là 1.304 tỷ đồng, tương đương 56 triệu USD.

Tập đoàn Lotte là một trong những nhà đầu tư Hàn Quốc mạnh tay rót vốn vào nhiều lĩnh vực ở Việt Nam
Đồng thời, theo báo cáo của Cục Quản lý đăng ký Kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Công ty cổ phần Lotte FLC, một liên doanh giữa tập đoàn FLC và công ty Lotte Land (công ty con của Tập đoàn Lotte) đã được thành lập với số vốn điều lệ 556,5 tỷ đồng (tương đương 24,1 triệu USD) để hoạt động trong lĩnh vực bất động sản.
Công ty Lotte Land sở hữu 60% cổ phần của Công ty Lotte FLC, phần còn lại do Tập đoàn FLC và các công ty con nắm giữ.
Bà Vân Khanh đánh giá trong thời gian gần đây, các dự án bất động sản chưa được phát triển một cách hiệu quả. Nhiều dự án được giao dịch với giá trị thấp hơn giá thị trường hoặc không thông qua đấu thầu chính thức. Những dự án trên đang phải trải qua những đợt kiểm soát chặt chẽ từ cơ quan chức trách Việt Nam.
Bà cũng đánh giá hoạt động thanh tra kiểm tra của chính quyền để ngăn chặn tham nhũng có thể tạo ra một số tác động đến lợi nhuận kinh doanh trong ngắn hạn.
"Một số dự án bất động sản đang phải giảm tốc nhằm phục vụ quá trình điều tra có thể dẫn đến sự trì hoãn tạm thời của những nhà đầu tư đang sẵn sàng chờ rót vốn vào thị trường", bà Vân Khanh nhận định.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Chính phủ đang thể hiện những nỗ lực và quyết tâm cao trong việc xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số minh bạch, hiệu quả, đem lại lợi ích cho người dân. Trong đó, ngành Tài chính nói riêng đang tiếp cận với giai đoạn phát triển đầu tiên của Chính phủ số, đó là giai đoạn xây dựng Chính phủ điện tử và Tài chính điện tử. Đến nay, công nghệ thông tin (CNTT) đã được ứng dụng sâu rộng vào hầu hết các hoạt động nghiệp vụ tài chính, trở thành huyết mạch trong các hoạt động nghiệp vụ chủ chốt của ngành. Đây là chia sẻ của ông Nguyễn Việt Hùng – Phó Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính, Bộ Tài chính tại Diễn đàn Diễn đàn Cấp cao CNTT-TT Việt Nam (Vietnam ICT Summit) 2019 vừa diễn ra tại Hà Nội cuối tuần qua.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ông Nguyễn Việt Hùng – Phó Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính, Bộ Tài chính trình bày tham luận về tiến trình chuyển đổi số của ngành Tài chính.
Từ dẫn đầu mức độ sẵn sàng phát triển và ứng dụng CNTT
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, trong việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông minh và các phương thức sản xuất, kinh doanh mới để thúc đẩy phát triển kinh tế. Để thực hiện được cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thành công, các quốc gia, tổ chức cần phải thực hiện “Chuyển đổi số”. Chính phủ Việt Nam nói chung và ngành Tài chính nói riêng đang tiếp cận với giai đoạn phát triển đầu tiên của Chính phủ số, đó là giai đoạn xây dựng Chính phủ điện tử và Tài chính điện tử.
Ông Nguyễn Việt Hùng cho biết, trong giai đoạn vừa qua, ngành Tài chính đã có những bước phát triển nhanh và vững chắc, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đến nay, CNTT đã được ứng dụng sâu, rộng vào hầu hết các hoạt động nghiệp vụ tài chính, trở thành huyết mạch trong các hoạt động nghiệp vụ chủ chốt, cùng các nhiệm vụ quản lý nội ngành.
Trong 6 năm liên tiếp (2013-2018), Bộ Tài chính là Bộ đứng đầu khối các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT Việt Nam (Vietnam ICT Index).
Công cuộc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được đẩy mạnh, đồng thời tăng cường quản lý thị trường, giá cả, kiểm soát lạm phát. Trong 6 tháng đầu năm 2019, Bộ Tài chính đã ban hành 6 Quyết định công bố bãi bỏ 22 thủ tục hành chính, sửa đổi, bổ sung 15 thủ tục hành chính và ban hành mới 15 thủ tục hành chính trong các lĩnh vực: thuế, hải quan, chứng khoán, ngân hàng và bảo hiểm. Đồng thời, rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa 117/190 điều kiện kinh doanh thuộc 13 ngành nghề thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử đã đạt 99,98% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong cả nước. 99% doanh nghiệp đăng ký sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử, 94,73% số hồ sơ thực hiện theo phương thức hoàn thuế điện tử. Thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại tất cả các đơn vị hải quan, đã có 13/14 bộ ngành tham gia kết nối cơ chế một cửa quốc gia, với 173 thủ tục hành chính được thực hiện qua cơ chế này.
Bộ Tài chính cũng đã phát triển, quản lý và vận hành nhiều hệ thống thông tin lớn, cốt lõi trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách được Đảng và Nhà nước giao quản lý, đặc biệt là trong các lĩnh vực chuyên ngành tài chính, thuế, hải quan, ngân sách, kho bạc, chứng khoán, dự trữ. Các hệ thống thông tin này đã góp phần quan trọng trong nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý tài chính - ngân sách của Bộ Tài chính.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính gồm 12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành được xây dựng và triển khai. Một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành bước đầu đã mang lại sự cải thiện đáng kể trong công tác quản lý tài chính công theo hướng hiện đại. Điều này từng bước tăng cường hiệu lực, hiệu quả giám sát tài chính, góp phần quan trọng trong thúc đẩy cải cách các thể chế, thay đổi quy trình, thủ tục trong lĩnh vực thuế, hải quan, ngân sách, kho bạc... tăng độ chính xác, tính kịp thời và minh bạch trong báo cáo tài khoá, kế toán và thống kê NSNN.
Bên cạnh đó, ứng dụng CNTT trong nội bộ Bộ Tài chính đạt được một số kết quả nhất định như 100% các thông tin chỉ đạo điều hành của lãnh đạo được đưa lên Cổng thông tin điện tử, liên thông văn bản điện tử trong toàn ngành Tài chính qua việc triển khai chương trình eDocTC. Một số hệ thống thông tin quản lý tập trung nội ngành được triển khai và hoàn thiện như: phần mềm quản lý tài sản nội ngành, kế toán nội ngành, phần mềm thi đua khen thưởng… Hệ thống hạ tầng truyền thông thống nhất của riêng ngành Tài chính được duy trì hoạt động ổn định, sử dụng công nghệ MPLS là công nghệ thích hợp, là nền tảng cho hạ tầng mạng đa dịch vụ và ảo hóa phục vụ triển khai các ứng dụng CNTT toàn ngành Tài chính.
Việc bảo đảm an toàn thông tin được tổ chức triển khai một cách bài bản và toàn diện, các hoạt động đảm bảo an toàn thông tin đã được thực hiện và tích hợp trong tất cả các công đoạn liên quan đến thông tin và hệ thống thông tin, không làm ảnh hưởng hay ngừng trệ hoạt động của hệ thống.
Đặc biệt, Bộ Tài chính cũng đã bước đầu triển khai ứng dụng một số công nghệ của cuộc cách mạng 4.0 như: áp dụng công nghệ ảo hóa máy chủ nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư phần cứng; triển khai xây dựng môi trường điện toán đám mây ngành Tài chính (MOF Cloud); triển khai công nghệ phân tích dữ liệu lớn; bước đầu ứng dụng công nghệ mạng xã hội, công nghệ di động trong việc cung cấp các DVCTT, hệ thống thuế điện tử, hải quan điện tử, hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển, hệ thống một cửa quốc gia hải quan ASEAN.

“Chuyển đổi số cho các cơ quan nhà nước” là một trong những chủ đề được quan tâm nhất tại Diễn đàn Cấp cao CNTT-TT Việt Nam 2019.
Đến tiên phong xây dựng Tài chính số
Để tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, các cơ quan Chính phủ đang khẩn trương nghiên cứu và tiến hành thực hiện quá trình chuyển đổi số để tiến tới Chính phủ số. Bộ Tài chính với vai trò là đơn vị nhiều năm dẫn đầu về ứng dụng CNTT trong khối các cơ quan Chính phủ cần là một trong các đơn vị tiên phong tiến hành xây dựng Tài chính số.
Tài chính số được hiểu là việc sử dụng các công nghệ số trong việc quản lý và điều hành hoạt động tài chính như một phần thiết yếu trong các chiến lược hiện đại hóa tài chính chính phủ để tạo ra các giá trị công. Quá trình này dựa trên một hệ sinh thái tài chính Chính phủ số bao gồm các tác nhân liên quan đến chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân, thúc đẩy sự tạo ra và truy cập dữ liệu, dịch vụ và nội dung liên quan đến việc quản lý và điều hành tài chính công thông qua sự tương tác với chính phủ trên các nền tảng kỹ thuật số, giúp việc quản lý và điều hành tài chính công của chính phủ minh bạch, hiệu lực và hiệu quả hơn.
Mục tiêu chuyển đổi số ngành Tài chính là chủ động áp dụng các thành quả công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, xây dựng nền tảng quản trị thông minh, cung cấp các dịch vụ tài chính thông minh, tham gia tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế số. Đến năm 2025, hoàn thành xây dựng Tài chính điện tử và cơ bản thiết lập nền tảng Tài chính số hiện đại, bền vững, công khai, minh bạch dựa trên dữ liệu lớn, dữ liệu tài chính mở và hệ sinh thái Tài chính số. Ngành Tài chính đóng vai trò kiến tạo, kết nối, chia sẻ dữ liệu và các nền tảng số hóa, đáp ứng toàn diện nhu cầu giao dịch tài chính công, nhu cầu khai thác sử dụng thông tin số của Chính phủ, người dân, doanh nghiệp và các tổ chức.
Theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về ban hành kiến trúc chính phủ điện tử Bộ Tài chính (Quyết định 2445/QĐ-BTC ngày 28/12/2018), định hướng chuyển đổi số ngành Tài chính được thực hiện trong 3 giai đoạn. Trong đó, giai đoạn tới năm 2020, ngành Tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện xây dựng Chính phủ điện tử ngành Tài chính hướng tới Chính phủ phục vụ, lấy người dùng làm trung tâm và nâng cao hiệu quả hoạt động toàn ngành thông qua Chính phủ điện tử và các công cụ số hóa.
Giai đoạn 2021 tới 2025 sẽ tiếp tục hoàn thiện các hệ thống thông tin phục vụ xây dựng văn phòng không giấy tờ; xây dựng nền tảng Tài chính số dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở; thiết lập hệ sinh thái ngành Tài chính số trong đó Chính phủ đóng vai trò kiến tạo và kết nối với các bên thông qua việc mở, chia sẻ dữ liệu và các nền tảng số hóa để cho phép nhiều bên tạo ra các dịch vụ Tài chính thông minh.
Trong giai đoạn 2026 – 2030, ngành Tài chính sẽ thiết lập hệ thống Tài chính số hóa hoàn toàn và nền tài chính thông minh. Ngành Tài chính đóng vai trò dẫn dắt sự phát triển của kinh tế số dựa trên việc đẩy nhanh các giá trị gia tăng của dịch vụ Tài chính, chuyển đổi mô hình kinh tế bao hàm kinh tế số.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Ngân hàng Standard Chartered dự báo Việt Nam sẽ tiếp tục là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ASEAN trong ngắn hạn, với mức tăng trưởng dự kiến đạt 6,9% trong năm 2019. Lĩnh vực sản xuất có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được kì vọng sẽ tăng trưởng ở mức 2 con số trong năm thứ tư liên tiếp và đóng vai trò là động lực tăng trưởng chính.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Dự báo trên được đưa ra trong Báo cáo kinh tế toàn cầu quý III/2019 do Ngân hàng Standard Chartered phát hành gần đây với tựa đề “The dovish wave grows” (Tạm dịch “Làn sóng ôn hòa lan tỏa”).
“Triển vọng tăng trưởng của Việt Nam vẫn rất mạnh mẽ, các yếu tố kinh tế vĩ mô được giữ ổn định trong nửa đầu năm và có khả năng sẽ tiếp tục duy trì đến cuối năm. Chúng tôi kỳ vọng tốc độ tăng trưởng sẽ tăng nhẹ trong nửa cuối năm so với mức 6,7% trong nửa đầu năm”, ông Chidu Narayanan, Chuyên gia kinh tế khu vực châu Á, Ngân hàng Standard Chartered cho biết.
Theo báo cáo nghiên cứu kinh tế vĩ mô, dòng vốn FDI sẽ tiếp tục chảy mạnh vào Việt Nam trong năm nay, đặc biệt là vào lĩnh vực sản xuất, với tổng lượng vốn thu hút được dự kiến đạt 18 tỷ USD.
Tăng trưởng xuất khẩu sẽ duy trì ổn định và vượt trội hơn so với các nước trong khu vực. Xuất khẩu hàng điện tử, vốn chiếm khoảng một phần ba trong tổng lượng xuất khẩu, có khả năng sẽ giảm tốc so với những năm gần đây do nhu cầu bên ngoài và giá cả các thiết bị bán dẫn suy giảm. Tuy nhiên, sự sụt giảm này sẽ được bù đắp nhờ xuất khẩu các mặt hàng truyền thống như dệt may và nông nghiệp ngày càng được cải thiện.
Trong bối cảnh nhập khẩu nguyên liệu sản xuất giảm tốc, tăng trưởng nhập khẩu dự kiến sẽ vẫn ở mức gần 10%, nhờ đó, cán cân thương mại sẽ tiếp tục thặng dư trong năm 2019.
Nghiên cứu cũng dự đoán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì chính sách linh hoạt trong ngắn hạn để hỗ trợ tăng trưởng, khi lạm phát vẫn còn ở mức thấp.
Ngân hàng Standard Chartered dự báo, lạm phát sẽ tăng khiêm tốn ở nửa cuối năm, đạt trung bình 2,8% so với mức 2,6% trong nửa đầu năm và lạm phát cơ bản, không bao gồm giá thực phẩm, năng lượng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục, sẽ tăng lên 2% trong năm nay.
Các chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Standard Chartered kỳ vọng, lãi suất chính sách sẽ không thay đổi trong năm 2019 và đồng Việt Nam (VND) sẽ tăng giá nhẹ. Dòng vốn FDI mạnh mẽ và thặng dư tài khoản vãng lai sẽ hỗ trợ VND trong ngắn hạn và tỷ giá USD-VND được dự đoán sẽ đạt 23.100 vào cuối năm 2019 và 23.000 vào giữa năm 2020.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành quy định cho phép cơ quan kiểm toán và kiểm toán viên nhà nước có quyền truy cập dữ liệu điện tử, phần mềm ứng dụng của cơ quan bị kiểm toán. Điều này là cần thiết, song phải quy định rõ phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan kiểm toán và kiểm toán viên nhà nước.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tổng kiểm toán Hồ Đức Phớc phát biểu giải trình thêm một số vấn đề
Sáng 12/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã khai mạc Phiên họp thứ 36. Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến hành thảo luận về Luật Kiểm toán nhà nước (KTNN) sửa đổi, bổ sung dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển.
Theo đó, Luật KTNN sửa đổi lần này đã được các đại biểu Quốc hội thảo luận tại Kỳ họp 7 vừa qua.
Tranh luận về nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung Luật KTNN sửa đổi
Tại phiên họp thứ 36 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhiều vấn đề còn ý kiến khác nhau được cơ quan thẩm tra – Ủy ban Tài chính và Ngân sách đưa ra xin ý Ủy ban Thường vụ Quốc hội để hoàn thiện dự thảo trước khi đưa ra Quốc hội tiếp tục thảo luận lần 2 tại Kỳ họp thứ 8 tới đây.
Theo báo cáo của Ủy ban Tài chính và Ngân sách, còn một số ý kiến khác nhau về một số quy định trong dự thảo là: Phạm vi sửa đổi, bổ sung; quyền khiếu nại Báo cáo kiểm toán; về đề nghị sửa nhiệm vụ KTNN thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ thành “xem xét, quyết định việc kiểm toán khi có đề nghị của Thủ tướng Chính phủ”; bổ sung quyền của TKNN về văn bản quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính, giám định tư pháp; quy định về việc tránh chồng chéo giữa kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; bổ sung quy định để thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng; bổ sung quy định về quyền truy cập dữ liệu, phần mềm ứng dụng của cơ quan bị kiểm toán; quy định về giám sát hoạt động kiểm toán và công khai kết quả kiểm toán.
Phát biểu thảo luận, Tổng KTNN Hồ Đức Phớc lý giải: “Về quy định Kiểm toán viên nhà nước có quyền truy cập vào hệ thống dữ liệu điện tử của đơn vị được kiểm toán, dữ liệu điện tử quốc gia và dữ liệu phần mềm ứng dụng của đơn vị được kiểm toán, nếu để lộ bí mật, cơ quan kiểm toán và kiểm toán viên nhà nước phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật”.
Cơ quan nào điều hòa sự chồng chéo của KTNN và TTCP?
Tổng KTNN Hồ Đức Phớc cũng cho rằng, cơ quan KTNN cần phối hợp với Thanh tra Chính phủ (TTCP) để tránh chồng chéo.
Để tránh sự chồng chéo giữa KTNN và TTCP, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga cho rằng, Luật này phải minh định cái gì KTNN làm, cái gì của TTCP làm. Muốn vậy, Tổng KTNN và Tổng Thanh tra phải ngồi lại với nhau để bàn bạc, nếu không làm rõ được thì báo cáo Thường vụ Quốc hội và Chính phủ phân định.
Phát biểu về nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng nêu vấn đề: Cơ quan nào sẽ điều hòa hai cơ quan này (KTNN và Thanh tra Chính phủ) hay để cho hai cơ quan tự thống nhất? Theo đó, cần quy định rõ phạm vi nào KTNN thực hiện, phạm vi nào không được làm;...
Đồng thời, cần quy định rõ, cái gì kiểm toán viên nhà nước được truy cập vào dữ liệu của cơ quan bị kiểm toán bởi ở đây còn bí mật kinh doanh… Bởi có những quy định riêng biệt thuộc sự điều chỉnh của luật khác như Luật An ninh mạng…
Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Nguyễn Văn Giàu cũng bày tỏ băn khoăn việc cơ quan kiểm toán và kiểm toán viên có quyền truy cập hệ thống phần mềm ứng dụng của cơ quan bị kiểm toán.
Theo Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định, hồ sơ của dự án Luật Kiểm toán nhà nước sửa đổi lần này có điểm chưa chuẩn, cần hoàn thiện, bởi hơi ngược theo với quy trình bình thường. Vì Ủyban Tài chính – ngân sách khi thẩm tra phải có báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của các ĐBQH đã thảo luận.
Đồng tình với ý kiến này, Phó Chủ tịch Phùng Quốc Hiển đề nghị Ủy ban Tài chính & ngân sách lưu ý cần có Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến ĐBQH theo quy định.
“Lâu nay, quy trình và hồ sơ của các dự án luật đều có báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến ĐBQH, nhưng lần này không có. Cần làm theo đúng quy định”, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga bày tỏ.
Cụ thể hóa các quy định về phòng chống tham nhũng trong cơ quan KTNN
Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của KTNN, bà Nga tán thành quy định KTNN được ban hành văn bản quy phạm nhưng được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật chứ không phải luật này.
Đối với quy định KTNN được trưng cầu giám định tư pháp, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu và Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga bày tỏ tán thành quy định này đối với một số trường hợp cần thiết, nhất là trưng cầu giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng.
Đồng thời Chủ tịch Ủy ban Tư pháp cũng đề nghị: “Cần cụ thể hóa các nội dung của Luật Phòng, chống tham nhũng trong Luật KTNN lần này để thực hiện công cuộc phòng chống tham nhũng trong chính cơ quan KTNN”.
Về khiếu nại kết luận của Kiểm toán nhà nước, bà Nga đề nghị nên cân nhắc cách nào đó để quy định về việc cơ quan được kiểm toán có quyền khiếu nại đối với kết luận kiểm toán, bởi nếu ra kết luận kiểm toán xong mà không cho khiếu nại là không hợp lý.
Kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nêu rõ: Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành với việc bổ sung quy định KTNN được ban hành văn bản quy phạm pháp luật và xử lý vi phạm hành chính nhưng phải tuân theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, cân nhắc việc giao thẩm quyền trưng cầu giám định tư pháp cho KTNN với khối lượng công việc của KTNN đang rất nặng nề.
Trước ý kiến về việc cơ quan nào giám sát hoạt động của KTNN, Phó Chủ tịch Phùng Quốc Hiển cho rằng, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ là cơ quan giám sát hoạt động của KTNN.
Đối với quy định bổ sung quy định về chống tham nhũng, Phó Chủ tịch Phùng Quốc Hiển đề nghị trong Luật này phải dẫn chiếu nguyên văn các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành quy định cho phép cơ quan kiểm toán và kiểm toán viên nhà nước có quyền truy cập dữ liệu điện tử, phần mềm ứng dụng của cơ quan bị kiểm toán. Điều này là cần thiết, song phải quy định rõ phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan kiểm toán và kiểm toán viên nhà nước.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Sau khi tiến hành khảo sát thực tế, Hiệp hội các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam (Hiệp hội) vừa có văn bản gửi Văn phòng Chính phủ, cùng các cơ quan chức năng cảnh báo những nguy cơ xuống cấp nghiêm trọng trong việc thả nổi tuyến đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh (TPHCM) - Trung Lương thời gian qua.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Xuống cấp thành quốc lộ
Đường cao tốc TPHCM - Trung Lương có chiều dài toàn tuyến là 39,8km, giai đoạn 1 xây dựng ở giữa 4 làn xe và 2 làn dừng xe khẩn cấp, tổng mức đầu tư hơn 9.884 tỷ đồng. Đây là công trình đường bộ đạt chuẩn cao tốc đầu tiên tại Việt Nam, được khởi công năm 2004 và đưa vào sử dụng năm 2010.
Gần 2 năm sau, vào năm 2012, đường cao tốc TPHCM - Trung Lương bắt đầu thu phí để hoàn vốn cho ngân sách nhà nước. Trên cơ sở Thủ tướng Chính phủ đồng ý chấp thuận mở thầu đấu giá quyền thu phí đường cao tốc này, Công ty cổ phần Tập đoàn Yên Khánh (Yên Khánh) đã trúng đấu giá 2.004 tỷ đồng và được quyền thu phí từ 1/1/2014 đến 31/12/2018.
Từ ngày 1/1/2019, khi hết hợp đồng chuyển nhượng quyền thu phí với Yên Khánh, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã tiếp nhận và giao lại Cục Quản lý đường bộ 4 quản lý đường cao tốc này và chưa có kế hoạch thu phí trở lại. Với thực trạng khai thác hiện nay, lượng phương tiện tham gia giao thông tăng đột biến và không được kiểm soát đã gây ra nhiều vụ tai nạn giao thông, ách tắc trên toàn tuyến, đã xuất hiện một số đoạn hư hỏng, xuống cấp.
Từ đường cao tốc đạt chuẩn đang dần trở thành quốc lộ do không kiểm soát được các thành phần, tải trọng của phương tiện tham gia lưu thông... giảm tốc độ khai thác, làm tăng thời gian lưu thông, tăng chi phí logistics, ảnh hưởng đến kết cấu công trình, hạ tầng xuống cấp. Đặc biệt, trên tuyến cao tốc có 13 cầu vượt sông, cầu cạn với tải trọng thiết kế < 30 tấn, do đó việc không kiểm soát tải trọng của các phương tiện tham gia giao thông tiềm ẩn nhiều rủi ro gây hư hỏng các công trình cầu, cũng như gây mất an toàn giao thông trên toàn tuyến.
“Để đảm bảo an toàn giao thông trên đường cao tốc TPHCM - Trung Lương và ngăn chặn sự xuống cấp các công trình, Hiệp hội kiến nghị Bộ GTVT với vai trò bộ chủ quản chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam khẩn trương hoàn thành Đề án thu phí cao tốc TPHCM - Trung Lương để kiểm soát chủng loại và tải trọng của các phương tiện tham gia giao thông, tạo nguồn thu cho ngân sách và đảm bảo chi phí thực hiện quản lý vận hành, bảo dưỡng thường xuyên, phát huy hiệu quả khai thác đường cao tốc TPHCM - Trung Lương”, PGS - TS Trần Chủng, Chủ tịch Hiệp hội, kiến nghị.
Vướng vụ án?
Được biết, năm 2013, Tổng công ty Cửu Long bán quyền thu phí đường cao tốc TPHCM - Trung Lương cho Yên Khánh với giá 2.004 tỷ đồng, thời gian thu phí 5 năm (từ năm 2014 đến hết năm 2018). Yên Khánh được thực hiện thu phí tại 4 trạm trên tuyến đường gồm: Chợ Đệm, Tân An, Bến Lức và Thân Cửu Nghĩa. Tuy nhiên, do Yên Khánh chậm nộp tiền mua quyền thu phí nên bị phạt, số tiền phạt và lãi chậm nộp thực hiện hợp đồng theo tính toán của Tổng công ty Cửu Long là 264,7 tỷ đồng.
Tổng công ty Cửu Long đã có nhiều văn bản yêu cầu Yên Khánh thanh toán số tiền trên, Bộ GTVT cũng đã chỉ đạo quyết liệt nhưng đến nay vẫn chưa thu được số tiền trên. Nguyên nhân, tháng 8-2018, Yên Khánh kiện Tổng công ty Cửu Long ra TAND quận Bình Thạnh về tranh chấp hợp đồng. Sau đó, tòa án đã ban hành quyết định phong tỏa số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng của Yên Khánh.
Tháng 9/2018, Bộ GTVT đã có văn bản báo cáo Thủ tướng xin chỉ đạo xử lý. Theo đó, số tiền trên quá lớn nhưng Yên Khánh không có tài sản để đảm bảo thanh toán, ngoài số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng (100 tỷ đồng). Khả năng rủi ro không thu hồi đủ số tiền phạt trên là rất lớn và có nguy cơ dẫn đến thất thoát ngân sách nhà nước.
Vì vậy, Bộ GTVT kiến nghị Thủ tướng có ý kiến với TAND Tối cao yêu cầu TAND quận Bình Thạnh xem xét rút lại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đồng thời, Bộ GTVT kiến nghị Thủ tướng cho phép và Tổng công ty Cửu Long tiếp tục áp dụng các biện pháp để thu hồi số tiền bảo lãnh hợp đồng của Yên Khánh. Tới nay, Yên Khánh đã bàn giao quyền thu phí cao tốc TPHCM - Trung Lương, nhưng số tiền trên vẫn chưa được giải quyết.
Trước đó, Thủ tướng đã đồng ý về mặt nguyên tắc Nhà nước dùng quyền thu phí cao tốc TPHCM - Trung Lương để hỗ trợ nhà đầu tư BOT tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận. Dự án BOT Trung Lương - Mỹ Thuận dự kiến tới năm 2021 mới hoàn thành, trong khi hợp đồng thu phí cao tốc TPHCM - Trung Lương đã hết nên Tổng công ty Cửu Long từng kiến nghị cho tiếp tục bán quyền thu phí tuyến đường này trong giai đoạn 2019-2020. Tuy nhiên, tới nay phương án thu phí cao tốc TPHCM - Trung Lương ra sao vẫn chưa được Bộ GTVT quyết định.
Theo Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông, hiện dự án cao tốc TPHCM - Trung Lương vẫn đang triển khai thu phí và chưa trả xong vốn tạm ứng. Do đó, nếu không hỗ trợ nối tiếp tuyến Trung Lương - Mỹ Thuận, Mỹ Thuận - Cần Thơ thì tuyến cao tốc TPHCM - Trung Lương vẫn tiếp tục được Nhà nước thu phí để hoàn trả vốn tạm ứng của Nhà nước và đầu tư mạng lưới cao tốc.
Từ 1/1/2019, khi hết hợp đồng chuyển nhượng quyền thu phí với Yên Khánh, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã tiếp nhận và giao lại Cục Quản lý đường bộ 4 quản lý tuyến cao tốc này. Thực tế trong hai năm đầu tuyến cao tốc này đã thu phí và nộp ngân sách nhà nước khoảng 600 tỷ đồng, cộng với số tiền thu từ đấu giá thu phí là 2.004 tỷ đồng, vẫn chưa đủ để hoàn trả vốn cho ngân sách đã ứng trước đầu tư hơn 9.884 tỷ đồng.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Page 10 of 17