Dù lãi suất trái phiếu ngân hàng thấp nhất trên thị trường hiện nay, không hấp dẫn các nhà đầu tư thông thường, nhưng hầu hết các lô phát hành đều được công ty chứng khoán trực thuộc các ngân hàng mua hết.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo đánh giá của CTCP Chứng khoán SSI trong báo cáo thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) tháng 8/2019, sự sôi động của thị trường TPDN tiếp tục được duy trì trong 8 tháng đầu năm 2019. Ước tính, tổng lượng TPDN chào bán là 129.016 tỷ đồng và lượng phát hành là 117.142 tỷ đồng, tỷ lệ phát hành thành công toàn thị trường là 90,8%, quy mô thị trường tăng mạnh lên mức khoảng 10,2% GDP.
Tăng sức nóng cả cung và cầu
Giới phân tích cho rằng chưa bao giờ thị trường TPDN sôi động với sức nóng tăng lên từ cả phía cung và phía cầu như hiện nay. Trong đó, ngân hàng vẫn là tổ chức phát hành lớn nhất và huy động thành công nhất.
Theo thống kê của SSI, 8 tháng đầu năm, các ngân hàng đã phát hành TPDN với tổng giá trị 56.060 tỷ đồng (chiếm 47,9%); Tiếp đó là các doanh nghiệp bất động sản phát hành 36.946 tỷ đồng (chiếm 31,5%); các doanh nghiệp phát triển hạ tầng phát hành 9.207 tỷ đồng (chiếm 7,9%); Các định chế tài chính phi ngân hàng phát hành 4.423 tỷ đồng (chiếm 3,8%)…
Ngân hàng cũng là nhóm có tỷ lệ phát hành thành công cao nhất (99,6%). Ngoại trừ SeABank có 2 lô phát hành ngày 8/5 và 19/6/2019 là 1.000 tỷ đồng và 900 tỷ đồng không bán hết (lượng phát hành tương ứng 950 tỷ đồng và 700 tỷ đồng), tất cả 10 ngân hàng thương mại (NHTM) còn lại đều bán hết 100% lượng trái phiếu chào bán.
Dẫn đầu nhóm phát hành TPDN là VPBank phát hành 13.860 tỷ đồng, bao gồm 300 triệu USD trái phiếu quốc tế. Tiếp đến là HDBank phát hành 11.600 tỷ đồng, ACB: 7.850 tỷ đồng, VIB: 6.450 tỷ đồng và LienVietPostBank là 6.100 tỷ đồng.
Theo tính toán, chỉ 5 nhà băng này đã chiếm tới 83% tổng giá trị phát hành TPDN của nhóm ngân hàng.
Giới chuyên gia nhìn nhận sự sôi động của thị trường là do Nghị định 163 có hiệu lực từ đầu tháng 2/2019 đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho thị trường TPDN.
Ngoài ra, các chính sách từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) như giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, giới hạn cho vay với một khách hàng không quá 15% vốn tự có, điều chỉnh hệ số rủi ro với cho vay bất động sản… đã tạo ra sự dịch chuyển của các DN từ kênh huy động tín dụng ngân hàng sang kênh phát hành trái phiếu.
Ai đang nắm giữ?
Bên cạnh đó, việc thông tin phát hành trái phiếu minh bạch hơn và sự tham gia tích cực của các trung gian phân phối là các ngân hàng, công ty chứng khoán (CTCK) đã khiến TPDN trở lên hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư.
“Sự gia tăng từ cả phía cung và phía cầu đã khiến thị trường TPDN Việt Nam trở lên sôi động hơn bao giờ hết”, SSI nhận định.
Các chuyên gia SSI cho biết hầu hết trái phiếu ngân hàng có lãi suất cố định và trả lãi hàng năm. Lãi suất và kỳ hạn bình quân của nhóm ngân hàng là 6,75%/năm và 3,3 năm. Chỉ có 3.900 tỷ đồng trái phiếu nhóm này có lãi suất thả nổi, trong đó gồm 2.500 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 3 năm của ABBank có mức lãi suất năm đầu là 6,5%/năm và các năm sau bằng bình quân lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau của 4 ngân hàng thương mại nhà nước, 1.400 tỷ đồng trái phiếu lãi suất thả nổi, còn lại là trái phiếu kỳ hạn dài 5-10 năm của BIDV, VietinBank, SeABank và VIB.
Đáng chú ý, so với mức lãi suất bình quân các nhóm còn lại, lãi suất nhóm ngân hàng thấp nhất thị trường hiện nay. Chẳng hạn, lãi suất trái phiếu của các DN bất động sản là 10,01%/ năm, nhóm phát triển hạ tầng: 9,79%/năm, nhóm định chế tài chính: 8,64%/năm… và chủ yếu thả nổi.
Tuy nhiên, theo SSI, dù lãi suất trái phiếu ngân hàng trung bình 6,72%/năm, thấp nhất thị trường hiện nay và không hấp dẫn các nhà đầu tư thông thường, nhưng các CTCK chủ yếu mua trái phiếu ngân hàng.
Cụ thể, CTCK là bên mua lớn nhất với tổng lượng mua 29.447 tỷ đồng, chiếm 25,4% tổng lượng phát hành, trong đó mua 22.900 tỷ đồng trái phiếu do các NHTM phát hành.
Theo đánh giá của SSI, lượng mua này quá lớn so với quy mô vốn của các CTCK. Ngược lại, bản thân các CTCK này cũng phải huy động trái phiếu để tăng vốn nên khả năng cao là các CTCK chỉ là trung gian, tham gia mua trên sơ cấp để bán lại trên thứ cấp chứ không phải là người mua cuối cùng.
Theo báo cáo tài chính bán niên 2019 của 18 NHTM niêm yết, trong 6 tháng đầu năm, lượng trái phiếu của các tổ chức tín dụng mà các NHTM nắm giữ tăng thêm tới 56,4 nghìn tỷ đồng – con số khá tương đồng với lượng trái phiếu các ngân hàng đã phát hành.
Từ những phân tích trên, SSI nhận định rất có thể các NHTM đã sở hữu chéo các trái phiếu của nhau, mục đích là để gia tăng nguồn huy động và nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn, đối phó với yêu cầu của NHNN giảm tỷ trọng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8/2019, diễn ra vào chiều 4/9, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành tiếp tục trả lời báo chí liên quan đến nhiều vụ việc được dư luận quan tâm trong thời gian qua.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Lấy ý kiến về quy định về thế nào là hàng hóa "Made in Vietnam"
Tại họp báo, phóng viên đã đặt một loạt câu hỏi liên quan đến vụ Asanzo.
Trả lời các câu hỏi này, ông Phạm Đình Thi, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính, cho biết ngay sau khi báo chí nêu về vụ việc của Asanzo gán nhãn xuất xứ hàng hóa, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn yêu cầu Bộ Tài chính xác minh thông tin báo chí nêu.
Ngay hôm sau, Bộ Tài chính đã có ý kiến chỉ đạo các cơ quan chức năng của Bộ, phối hợp với Ban chỉ đạo 389 quốc gia tiến hành xác minh thông tin báo chí nêu.
Đến nay, các đơn vị này đã thực hiện đầy đủ các nội dung cần xác minh theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.
Về câu hỏi: "Thời hạn công bố kết quả xác minh Asanzo là ngày 30/8 nhưng đến nay Bộ Tài chính, Bộ Công Thương vẫn chưa công bố, vậy liệu thời hạn công bố kết quả xác minh có tiếp tục được gia hạn hay không?" Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết Bộ Công Thương đã phối hợp với Ban chỉ đạo 389 để thực hiện đúng chức trách được giao trong việc xác minh việc gán nhãn xuất xứ hàng hóa của Asanzo.
Về thời hạn ban hành thông tư quy định về thế nào là hàng hóa "Made in Vietnam," Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết Chính phủ đã ban hành Nghị định 43 quy định về ghi nhãn xuất xứ hàng hóa sản xuất tại Việt Nam.
Tuy nhiên, Nghị định vẫn còn thiếu một số quy định đối với hàng sản xuất tại Việt Nam tiêu thụ trong thị trường nội địa. Do đó, Bộ Công Thương đã có văn bản báo cáo Chính phủ về việc xây dựng một Thông tư quy định một sản phẩm như thế nào thì được dán nhãn xuất xứ tại Việt Nam. Dự thảo này được đăng rộng rãi để lấy ý kiến, Bộ Công Thương đã họp để lấy ý kiến.
"Do đối tượng áp dụng của Thông tư rất rộng, ảnh hưởng tới nhiều doanh nghiệp, Bộ Công Thương đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của người dân, doanh nghiệp... Bộ Công Thương sẽ lắng nghe các ý kiến đóng góp, để ban hành thông tư trong thời gian sớm nhất. Thông tư ra đời sẽ đảm bảo có quy định rõ ràng cho hàng sản xuất tại Việt Nam, đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp, quyền lợi của người tiêu dùng," Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết.
Xem xét trách nhiệm trong vụ nhiều xe biển xanh đi ăn cưới ở Sóc Trăng
Trả lời vụ việc Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Sóc Trăng Hồ Thị Cẩm Đào tổ chức đám cưới hoành tráng cho con trai, có nhiều xe biển xanh đến dự, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng cho biết tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 7/2019, Bộ Nội vụ đã trao đổi với báo chí về việc này.
Tinh thần là thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, đặc biệt là Chỉ thị 13 của Thủ tướng về việc tăng cường, quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, trong đó có xe công.
Ngay sau cuộc họp báo Chính phủ đó, ngày 2/8, Bộ Nội vụ có văn bản gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng yêu cầu báo cáo về vụ việc. “Nhưng đến thời điểm này, Bộ Nội vụ chưa nhận được báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng”, ông Thăng khẳng định, dù trước đó lãnh đạo Sóc Trăng cho biết đã gửi báo cáo về vụ việc cho Bộ Nội vụ.
Thứ trưởng Bộ Nội vụ cho biết thêm, vừa rồi báo chí dẫn ý kiến Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Sóc Trăng nói Thường vụ Tỉnh ủy Sóc Trăng đã xem xét kỷ luật và chỉ rút kinh nghiệm với những cán bộ dùng xe biển xanh đi dự đám cưới.
Nhưng theo quan điểm của Bộ Nội vụ, ông Thăng nhấn mạnh khi nhận được báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng, theo thẩm quyền quản lý cán bộ thì bà Hồ Thị Cẩm Đào là Trưởng ban Dân vận của tỉnh, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, nên Bộ Nội vụ sẽ có trách nhiệm phối hợp trao đổi với Ban Dân vận Trung ương và các cơ quan Đảng, Ban Công tác đại biểu của Quốc hội để xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét theo đúng quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương cũng như việc sử dụng tài sản công./.
Theo định hướng và lộ trình Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Tài chính, giai đoạn từ 2026 – 2030 sẽ là lúc ngành Tài chính thiết lập hệ thống Tài chính số hóa hoàn toàn và nền tài chính thông minh. Ngành Tài chính đóng vai trò dẫn dắt sự phát triển của kinh tế số dựa trên việc đẩy nhanh các giá trị gia tăng của dịch vụ Tài chính, chuyển đổi mô hình kinh tế bao hàm kinh tế số.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<
Với việc chú trọng ứng dụng các công nghệ tiên tiến của cách mạng 4.0, Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Tài chính được Bộ Tài chính ban hành cuối năm 2018 đã đặt ra định hướng và lộ trình cụ thể trên cơ sở phân tích chiến lược phát triển ngành Tài chính, hướng tới phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Giai đoạn tới năm 2020
Đây là giai đoạn để ngành Tài chính tiếp tục hoàn thiện xây dựng Chính phủ điện tử ngành Tài chính hướng tới Chính phủ phục vụ, lấy người dùng làm trung tâm và nâng cao hiệu quả hoạt động toàn ngành thông qua Chính phủ điện tử và các công cụ số hóa.
Đối với các ứng dụng dùng chung, ngành Tài chính sẽ bước đầu hoàn thiện các hệ thống thông tin phục vụ xây dựng văn phòng không giấy tờ, môi trường cộng tác số và truyền thông hợp nhất, các hệ thống thông tin quản lý nguồn lực tổng thể nội ngành, hệ thống báo cáo điện tử tích hợp toàn ngành, cơ sở dữ liệu danh mục dùng chung, cung cấp thông tin báo cáo ra bên ngoài...
Với ứng dụng chuyên ngành, ứng dụng dịch vụ công trực tuyến: ngành Tài chính tiếp tục hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý ngân quỹ; tổng Kế toán nhà nước; quản lý tài sản công; quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước; quản lý bảo hiểm; quản lý chứng khoán; quản lý thuế cá nhân; quản lý thuế doanh nghiệp; quản lý xuất nhập khẩu; quản lý Giá (giai đoạn 2); dự trữ nhà nước. Hệ thống quản lý tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng và hệ thống quản lý quan hệ người dùng tiếp nhận ý kiến, phản hồi của người dùng cũng được xây dựng để nâng cao cải cách hành chính. Hệ thống thông tin dịch vụ công một cửa liên thông cấp 3,4 được hoàn thiện, nhằm mục tiêu 100% các thủ tục hành chính cần thiết được xây dựng thành các dịch vụ công trực tuyến cấp 3/cấp 4 và được cung cấp trên một hệ thống cổng thông tin điện tử tích hợp ngành Tài chính và các ứng dụng trên thiết bị thông minh. Cổng dịch vụ công trực tuyến và Hệ thống thông tin một cửa điện tử của Bộ Tài chính sẽ đảm bảo sẵn sàng để chia sẻ thông tin về tình hình giải quyết thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ đã được xác thực và kết quả giải quyết thủ tục hành chính đã được số hóa với Cổng dịch vụ công Quốc gia...
Chuyển đổi về nền tảng tích hợp, chia sẻ, liên thông dữ liệu: nền tảng tích hợp hướng dịch vụ (SOA Platform) được xây dựng; hoàn thiện Cổng dịch vụ công tích hợp ngành Tài chính dựa trên công nghệ đám mây nội bộ và giao diện lập trình ứng dụng (APIs); hoàn thiện Hệ thống quản lý định danh tập trung (SSO); tiếp tục hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, thí điểm công nghệ dữ liệu lớn (Big Data).
Về hạ tầng kỹ thuật và bảo mật, “đám mây” nội bộ ngành Tài chính (MOF-Cloud) được xây dựng ở mức Hạ tầng như một dịch vụ (IaaS). Hệ thống quản lý định danh và truy cập ngành Tài chính được hoàn thiện phù hợp với nền tảng đám mây. Ngành Tài chính cũng thí điểm tích hợp ứng dụng nội bộ ngành với hệ thống quản lý định danh và truy cập; xây dựng hệ thống giám sát an toàn thông tin mạng (SOC).
Giai đoạn 2021 - 2025
Trong giai đoạn này, ngành Tài chính tiếp tục hoàn thiện các hệ thống thông tin phục vụ xây dựng văn phòng không giấy tờ; xây dựng nền tảng Tài chính số dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở; thiết lập hệ sinh thái ngành Tài chính số trong đó Chính phủ đóng vai trò kiến tạo và kết nối với các bên thông qua việc mở, chia sẻ dữ liệu và các nền tảng số hóa để cho phép nhiều bên tạo ra các dịch vụ Tài chính thông minh.
Các hệ thống thông tin đã hoàn thành xây dựng ở giai đoạn trước sẽ được duy trì, vận hành, cập nhật. Ngành Tài chính thiết lập hệ thống quản lý theo dõi quy trình công việc, quản lý Mua sắm – Đấu thầu – Dự án đầu tư; tích hợp các hệ thống nội bộ về quản lý nguồn lực tổ chức; ứng dụng khoa học dữ liệu hỗ trợ điều hành để xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu lớn và dữ liệu tích hợp ngành Tài chính, ....
Các ứng dụng chuyên ngành tiếp tục được xây dựng: Xây dựng hệ thống thông tin quản lý rủi ro lãi suất, tỷ giá, thị trường; lập ngân sách trung hạn; thanh tra, giám sát, xử lý nợ thuế; thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm hải quan; khai thác, sử dụng các dịch vụ tài chính công mới được xây dựng bởi bên thứ 3 (các công ty fintech) trên dữ liệu tài chính mở của ngành Tài chính; thí điểm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong một số hoạt động nghiệp vụ chủ chốt và hoạt động chỉ đạo điều hành của ngành Tài chính...
100% các lĩnh vực tài chính có cơ sở dữ liệu mở trong phạm vi ngành Tài chính (các lĩnh vực thuộc cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính) phù hợp với quy định tại Luật tiếp cận thông tin và được công khai trên môi trường mạng. Xây dựng hệ thống “đám mây” có khả năng mở tích hợp với các ứng dụng bên ngoài đồng thời đảm bảo an toàn thông tin nội bộ (“đám mây” cần hỗ trợ cung cấp giao diện lập trình ứng dụng cho các ứng dụng tài chính).
Giai đoạn này, kho ứng dụng dịch vụ tài chính thông minh sẽ được hình thành. Nền tảng dữ liệu lớn phục vụ thu thập, phân tích, dự báo (dữ liệu lớn, Internet kết nối vạn vật) được hoàn thiện. Ngành Tài chính cũng sẽ hoàn thiện nền tảng xác thực phân tán (Blockchain): Hoàn thành việc tích hợp 100% ứng dụng với hệ thống quản lý định danh và truy cập ngành Tài chính và tích hợp với các hệ thống công nghệ thông tin quốc gia hướng tới một hệ thống quản lý tài chính xuyên suốt trong ngành Tài chính và Chính phủ.
“Đám mây” ngành Tài chính (MOF-Cloud) sẽ được hoàn thành xây dựng ở mức Nền tảng như một dịch vụ (PaaS), cung cấp các giao diện lập trình ứng dụng cho các bên thứ ba để tạo các dịch vụ tài chính thông minh. Hoàn thành kết nối giữa các hệ thống giám sát an toàn thông tin mạng (SOC) toàn ngành.
Giai đoạn 2026 - 2030
Ngành Tài chính đặt ra tầm nhìn trong giai đoạn này là thiết lập hệ thống Tài chính số hóa hoàn toàn và nền tài chính thông minh. Ngành Tài chính đóng vai trò dẫn dắt sự phát triển của kinh tế số dựa trên việc đẩy nhanh các giá trị gia tăng của dịch vụ Tài chính, chuyển đổi mô hình kinh tế bao hàm kinh tế số.
Kho ứng dụng Tài chính số phục vụ hoạt động nội ngành được thiết lập, phát triển hệ thống hỗ trợ ra quyết định của ngành Tài chính trở thành công cụ quan trọng trong điều hành Chính phủ…
Các ứng dụng thông minh hỗ trợ nghiệp vụ được thiết lập: Trí tuệ nhân tạo, trợ lý ảo trở thành phổ biến trong hoạt động điều hành, xây dựng, hoạch định, đánh giá chính sách của Bộ Tài chính. 100% các thiết bị hỗ trợ nghiệp vụ, điều hành như: camera giám sát, thiết bị cảm ứng (các kho dự trữ nhà nước, kho bãi hải quan), thiết bị di động, robot, dữ liệu mạng xã hội… được kết nối, dữ liệu được thu thập, phân tích và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ người quản lý, sử dụng. 100% các dịch vụ cung cấp cho người dân, doanh nghiệp được “cung cấp chủ động” do nhiều bên theo mô hình cá nhân hóa. Các dịch vụ tài chính công mới được cung cấp theo nhu cầu riêng của người dân, doanh nghiệp. Các dịch vụ tài chính công được đơn vị thứ ba khai thác, xây dựng thành các dịch vụ mới cung cấp cho khách hàng trên nhiều kênh/phương tiện giao tiếp…
Nền tảng dữ liệu mở được hoàn thiện và tích hợp trong mọi ứng dụng. Nền tảng điện toán đám mây lai hoạt động thông suốt. Nn tảng dữ liệu lớn phục vụ thu thập, phân tích, dự báo (Big Data, IoT) được ứng dụng để thu thập dữ liệu thời gian thực phục vụ cho các ứng dụng quản lý. Nền tảng xác thực phân tán (Blockchain): tích hợp trong hầu hết các giao dịch điện tử trong ngành Tài chính.
Trong giai đoạn này, đám mây Tài chính sẽ được tích hợp với đám mây của Chính phủ và tích hợp giám sát an toàn thông tin với hệ thống của Chính phủ.
Mỹ đã kích hoạt đợt tăng thuế mới nhất đối với một số hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc theo đúng kế hoạch, giữa bối cảnh cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang leo thang.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Động thái này là giai đoạn đầu tiên trong kế hoạch áp thuế 15% lên 300 tỷ USD hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đến cuối năm nay do Tổng thống Mỹ Donald Trump phát động.
Theo Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR), kể từ 11h01 ngày 1/9 (theo giờ Việt Nam), Cơ quan Hải quan và bảo vệ biên giới Mỹ đã bắt đầu thu thuế ở mức 15% đối với một số hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc trong tổng lượng hàng hóa trị giá 300 tỷ USD bị áp thuế.
Mức thuế mới nhắm đến một loạt sản phẩm, từ thực phẩm (sốt cà chua, thịt, xúc xích thịt lợn, hoa quả, rau củ, sữa, phô mai) đến các thiết bị thể thao (gậy đánh golf, ván lướt sóng, xe đạp), từ nhạc cụ đến đồ thể thao và đồ nội thất...
Các nhà kinh tế tại Viện Kinh tế quốc tế Peterson có trụ sở tại Washington ước tính, 112 tỷ USD giá trị hàng hóa sẽ bị ảnh hưởng bởi đợt tăng thuế này.
Một cuộc đấu tranh quyền lực địa chính trị
Ban đầu là một tranh chấp về các hoạt động thương mại không công bằng của Trung Quốc, giờ cuộc chiến này ngày càng được xem là một cuộc đấu tranh quyền lực địa chính trị.
Bắc Kinh khẳng định họ có "dư cách" để trả đũa, đồng thời kêu gọi cả hai bên tiếp tục đàm phán thương mại. Kế hoạch của ông Trump dự kiến sẽ áp đặt thuế lên gần như tất cả hàng nhập khẩu của Trung Quốc, trị giá khoảng 550 tỷ USD.
Cho đến nay, Washington đã áp thuế đối với khoảng 250 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh đã trả đũa bằng biện pháp tương tự đối với 110 tỷ USD hàng hóa của Mỹ.
Các doanh nghiệp đang ngày càng khó khăn trong việc tìm hướng phát triển giữa tình thế không chắc chắn vì tranh chấp thương mại kéo dài. Các nhà phân tích cho rằng với sự leo thang mới nhất, triển vọng cho một giải pháp có vẻ khá ảm đạm.
"Thật khó khăn trong giai đoạn này để có thể có một thỏa thuận hoặc ít nhất là một thỏa thuận tốt", Julian Evans-Pritchard, một nhà kinh tế cấp cao của Trung Quốc tại hãng nghiên cứu Capital Economics, nói với đài BBC.
"Kể từ khi các cuộc đàm phán bị phá vỡ hồi tháng Năm, vị thế của cả hai bên đã trở nên cứng rắn hơn và đã có những sự phức tạp khác, cụ thể là lệnh cấm tập đoàn viễn thông Huawei và các cuộc biểu tình ở Hong Kong, khiến cho việc thu hẹp khoảng cách thậm chí còn khó khăn hơn".
Chính phủ Mỹ đã đưa Huawei vào "danh sách đen" thương mại vào tháng Năm, trong khi Tổng thống Trump đã đưa vấn đề biểu tình ở Hong Kong vào việc đàm phán thỏa thuận thương mại với Trung Quốc.
Người tiêu dùng Mỹ chịu ảnh hưởng nặng nhất
Người tiêu dùng Mỹ sẽ là những người sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất với các mức thuế mới này, không giống như các đợt trước đó, vốn tác động mạnh đến lĩnh vực sản xuất. Tã lót, máy rửa chén, giày dép, quần áo, thực phẩm, nhìn qua danh sách 122 trang sản phẩm, thật khó để tìm thấy thứ gì đó không có trên đó.
Nhiều nhà bán lẻ nói rằng họ có ít sự lựa chọn ngoài việc đổ chi phí lên người tiêu dùng. Đó là chưa kể đến việc đợt đánh thuế tiếp theo sẽ là quần áo và các mặt hàng lớn như máy tính xách tay và iPhone, dự kiến sẽ đi vào hiệu lực vào tháng 12 tới.
Đến cuối năm nay, Washington dự kiến sẽ đánh thuế trên hầu hết tất cả 550 tỷ USD hàng hóa mà Mỹ mua hàng năm từ Trung Quốc. Điều này có nghĩa là chi tiêu trung bình hàng năm của hộ gia đình sẽ tăng thêm 800 USD, theo Giáo sư Katheryn Russ từ Đại học California.
Ông Trump đã nhiều lần lập luận rằng Trung Quốc sẽ phải trả số tiền thuế này, nhưng nhiều công ty Mỹ đã bác bỏ tuyên bố đó. Thuế quan đối với giày dép "cũng có nghĩa là những khoản tăng thuế khổng lồ này sẽ tác động đến hàng chục triệu người Mỹ khi họ mua giày trong mùa lễ".
Hơn 200 hãng sản xuất giày dép, bao gồm Nike và Converse, cho biết mức thuế trên sẽ khiến thuế hiện hành đối với những sản phẩm này tăng lên tới 67% đối với một số loại giày, khiến chi phí tiêu dùng tăng thêm 4 tỷ USD mỗi năm.
Trong khi đó, Phòng Thương mại Mỹ tại Trung Quốc cũng bày tỏ quan ngại sau khi Mỹ cho biết họ sẽ đi trước với các mức thuế mới. Tuyên bố của Phòng Thương mại Mỹ viết: "Các thành viên của chúng tôi từ lâu đã bày tỏ quan ngại rằng thuế quan sẽ do chính người tiêu dùng chịu và sẽ gây tổn hại cho doanh nghiệp.
Chúng tôi kêu gọi cả hai bên hướng tới một thỏa thuận bền vững càng sớm càng tốt để giải quyết những vấn đề cơ bản, cũng như cơ cấu mà các doanh nghiệp nước ngoài phải đối mặt từ lâu ở Trung Quốc".
Điều gì tiếp theo?
Kể từ ngày 15/12 tới, giai đoạn thứ hai của mức thuế quan 15% sẽ đi vào hiệu lực đối với phần hàng hóa còn lại của Trung Quốc.
Trong số đó có cả các sản phẩm công nghệ như điện thoại và máy tính mà Tổng thống Trump đã tìm cách bảo vệ cho đến bây giờ. Ngoài ra, chính quyền Tổng thống Trump có kế hoạch tăng các mức thuế hiện tại từ 25% lên 30% vào ngày 1/10.
Chuyên gia Gary Hufbauer thuộc Viện Kinh tế Quốc tế Peterson có trụ sở tại Washington nói: "Đây là một cuộc chiến thương mại toàn diện, cùng với sự trả đũa của Trung Quốc, có thể làm giảm mức tăng trưởng GDP tiềm năng của Mỹ xuống gần 1%. Trong khi đó, tác động đối với Trung Quốc thì sẽ lớn hơn, tới 5%".
Đó là đánh giá của Bộ Tài chính tại báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) và vốn trái phiếu Chính phủ 8 tháng năm 2019.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Kết quả giải ngân vốn đầu tư công 8 tháng năm 2019 thấp
Bộ Tài chính cho biết, ước thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN 8 tháng là hơn 161.286 tỷ đồng, đạt 37,92% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 41.39% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Theo đó, kết quả giải ngân vốn đầu tư công 8 tháng năm 2019 thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018 (cùng kỳ năm 2018, giải ngân 8 tháng đạt 44,24% kế hoạch Quốc hội giao và 45,57% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).
Trong đó, Bộ Quốc phòng, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tập đoàn Điện lực, Ngân hàng Chính sách Xã hội, Hội Nhà văn, tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Phú Yên là những Bộ, ngành, địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên 70%.
Bên cạnh đó vẫn còn 29 bộ, ngành và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 40% như: Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế, Ngân hàng Nhà nước, tỉnh Cao Bằng, Yên Bái, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh…
Nguyên nhân của việc giải ngân chậm
Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ văn bản số 9633/BTC-BTC ngày 19/8/2019, trong đó chỉ rõ một số nguyên nhân chính dẫn tới việc chậm giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công tại các bộ, ngành, địa phương.
Qua kiểm tra thực tế tại một số bộ và địa phương, Bộ Tài chính nhận thấy một số chủ đầu tư chưa lường trước được các yếu tố tác động nên xây dựng kế hoạch vốn chưa sát với khả năng thực hiện của các dự án, dẫn đến nhiều dự án được giao kế hoạch vốn lớn hơn nhiều so với khả năng thực hiện. Vì vậy, kết thúc năm dự án không giải ngân hết kế hoạch được giao, phải cắt giảm hoặc chuyển nguồn sang năm sau; Một số dự án không có khả năng thực hiện vẫn được đăng ký và giao kế hoạch vốn nên không thể giải ngân; Công tác phân bổ kế hoạch vốn còn chậm, giao nhiều lần chưa phù hợp với yêu cầu tiến độ các dự án; Việc điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các dự án còn chưa kịp thời gây khó khăn cho công tác giải ngân…
Bên cạnh đó, giải ngân vốn đầu tư công chậm còn do các vướng mắc liên quan đến giai đoạn triển khai và thực hiện kế hoạch.
Đồng thời, Bộ Tài chính đã chỉ ra một số chủ đầu tư chưa chú trọng đến công tác lựa chọn tư vấn lập hồ sơ cũng như công tác rà soát, kiểm tra hồ sơ, dẫn đến chất lượng hồ sơ có nhiều nội dung phải sửa đổi, hiệu chỉnh… Điều này làm kéo dài thời gian thẩm định, trình phê duyệt và triển khai thủ tục tiếp theo. Nhiều dự án chưa có kế hoạch chuẩn bị trước nên khi triển khai thực hiện còn vướng về quy hoạch, đền bù, giải tỏa dẫn đến kéo dài thời gian lập dự án.
Bên cạnh đó, vướng mắc trong công tác đấu thầu cũng là nguyên nhân gây chậm giải ngân vốn đầu tư công. Hiện nay để có đủ thủ tục có thể giải ngân được vốn cho một dự án khởi công mới phải mất khoảng 04 đến 06 tháng mới có thể ký kết hợp đồng và khởi công xây dựng. Do vậy, các dự án, gói thầu mới thường chưa có khối lượng thực hiện trong nửa đầu năm kế hoạch, gây ảnh hưởng tới tiến độ triển khai kế hoạch vốn trong năm.

Ngoài ra, một “nút thắt” lớn đối với việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư công phải nhắc tới là các vướng mắc, tồn tại trong công tác giải phóng mặt bằng. Ở các tỉnh, thành phố, công tác giải phóng mặt bằng đều gặp nhiều khó khăn và chậm do các vấn đề liên quan tới việc xác định giá đền bù.
Quyết liệt chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công
Để đốc thúc các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, Bộ Tài chính đã đề nghị các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1042/CĐ-TTg ngày 21/8/2019.
Theo Công điện này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương lập danh mục dự án trọng điểm, phân công lãnh đạo theo dõi đôn đốc quyết liệt. Chỉ đạo chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, đấu thầu; hoàn thiện thủ tục thanh toán; xử lý nghiêm các nhà thầu vi phạm tiến độ, chất lượng xây dựng công trình…
Công điện của Thủ tướng cũng nêu rõ, các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và thủ trưởng các đơn vị sử dụng vốn đầu tư công chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm các nhiệm vụ tại Công điện này.
Kiểm điểm rõ trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm, cản trở, gây chậm trễ trong triển khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.
Theo Tổng cục Hải quan, qua công tác kiểm tra, giám sát, cơ quan hải quan đã phát hiện nhiều phương thức, thủ đoạn gian lận về giả mạo xuất xứ và ghi nhãn hàng hóa.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Mỹ và Trung Quốc đã đồng thuận tiến hành vòng đàm phán thương mại và kinh tế cấp cao lần thứ 13 vào đầu tháng 10 tới tại Washington.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Bộ Thương mại Trung Quốc đưa ra thông báo trên sau cuộc điện đàm giữa Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc và Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer cùng Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin. Dự kiến, Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC), Dịch Cương cũng tham gia cuộc điện đàm này.
Trong cuộc điện đàm, hai bên đã nhất trí cùng triển khai những hành động cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các cuộc tham vấn song phương. Trước vòng đàm phán vào tháng 10 tới, phái đoàn thương mại hai nước sẽ tiến hành các cuộc tham vấn vào giữa tháng này.
"Hai bên đồng ý nên làm việc cùng nhau và có những hành động thiết thực để tạo những điều kiện thuận lợi cho các cuộc đàm phán", tuyên bố của Bộ Thương mại Trung Quốc nêu rõ.
Phát ngôn viên Bộ Thương mại Trung Quốc Gao Feng cũng nói với các phóng viên rằng, Bắc Kinh hy vọng Washington có thể hủy bỏ việc tăng thuế theo kế hoạch để tránh sự leo thang trong cuộc chiến thương mại.
"Điều quan trọng nhất vào lúc này là tạo điều kiện cần thiết cho cả hai bên để tiếp tục đàm phán", ông nói trong cuộc họp ngắn hàng tuần. Trung Quốc có các biện pháp đối phó "phong phú" để trả đũa thuế quan, nhưng các cuộc đàm phán trong hoàn cảnh hiện tại nên tập trung vào việc liệu thuế quan có thể bị hủy bỏ hay không.
Mặc dù vậy, trên Twitter cá nhân, Tổng thống Trump khẳng định Mỹ đang làm rất tốt trong các cuộc đàm phán thương mại với Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh các đòn thuế quan của ông đang khiến nền kinh tế Trung Quốc gồng mình chịu trận.
Tổng thống Mỹ cảnh báo Bắc Kinh sẽ phải đối mặt với các điều khoản thương mại cứng rắn hơn trong nhiệm kỳ hai của ông nếu cố tình dây dưa kéo dài các cuộc đàm phán.
"Muốn chốt thỏa thuận với tôi sẽ càng khó hơn (sau tháng 11/2020). Chuỗi cung ứng của Trung Quốc sẽ sụp đổ và các doanh nghiệp, công việc, tiền bạc của họ sẽ biến mất. Do đó, tôi nghĩ rằng họ muốn thực hiện một thỏa thuận. Và chúng tôi sẽ xem điều gì sẽ xảy ra", ông Trump cho biết.
Theo giới quan sát, nhiều khả năng Trung Quốc đang muốn giảm bớt tác động của cuộc chiến thuế quan. Mặc dù chính phủ Trung Quốc có nhiều biện pháp để hạn chế những tác động tiêu cực của thương chiến, nhưng các nhà sản xuất sẽ nhanh chóng chuyển dịch sản xuất ra khỏi Trung Quốc hoặc gây sức ép để Chính phủ phải ngồi lại vào bàn đàm phán với Mỹ.
Hiện nay, chưa có thị trường nào thay thế được Mỹ trong việc tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc. Nếu hàng hóa Trung Quốc tăng giá thì người tiêu dùng Mỹ sẽ giảm bớt tiêu dùng, gây ra hiện tượng tồn đọng, dẫn đến việc hàng loạt nhà sản xuất Trung Quốc bắt buộc phải trì hoãn hoặc đóng băng hoạt động. Nếu điều này xảy ra, nền kinh tế Trung Quốc sẽ chịu tổn thất nặng nề.
Do đó, một số nhà phân tích nhận định, cuộc gặp sắp tới sẽ không có nhiều thay đổi và có thể không đủ xoa dịu Washington. Trừ phi Bắc Kinh thật sự đồng thuận với những điều khoản của Mỹ, trước mắt là đẩy mạnh mua hàng hóa trở lại.
Nửa cuối năm 2019, phân khúc căn hộ cao cấp được dự báo sẽ vươn lên dẫn dắt thị trường Hà Nội. Câu hỏi đặt ra là trong số không ít dự án mọc lên, đâu là lựa chọn sẽ được cả khách hàng và giới đầu tư quan tâm.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Xu hướng thị trường căn hộ hạng sang
Nhiều chuyên gia có cùng nhận định, thị trường căn hộ cao cấp có nhiều tiềm năng khi lượng người trung lưu và thu nhập cao tại Hà nội đang tăng cao. Đồng thời dòng sản phẩm này cũng có sức hút lớn đối với khách hàng nước ngoài.
Theo phân tích của Tổng giám đốc Savills Việt Nam, ông Neil MacGregor: “Thị trường căn hộ được thúc đẩy bởi nguồn cầu nhà ở mạnh mẽ, trong khi đó phân khúc cao cấp đang thu hút sự quan tâm của tầng lớp nhà giàu trong nước và khu vực”.
Ở thời điểm hiện tại, thị trường truyền thống Hà Nội đang bước vào giai đoạn chuyển mình sánh ngang với các thành phố khác trong khu vực. Trong khi đó, giá căn hộ hạng sang của khu vực Hà Nội vẫn còn thấp hơn so với các thị trường tương đương trong khu vực như Kuala Lumpur (Malaysia) và Bangkok (Thái Lan)…
Có thể thấy, với những tiềm năng phát triển mạnh mẽ này, đây chính là cơ hội tìm kiếm nguồn lợi nhuận lớn cho giới đầu tư thứ cấp.
Sản phẩm căn hộ cao cấp nào sẽ dẫn dắt thị trường?
Dòng căn hộ cao cấp tại vị trí trung tâm thường có giá rất cao và số lượng tại thời điểm hiện tại cũng đang dần trở nên hiếm hoi. Trong khi đó, xu hướng thị trường mới, bên cạnh sản phẩm căn hộ chất lượng, khách hàng còn yêu cầu hệ thống tiện ích phong phú để nâng cao chất lượng cuộc sống.
Trao đổi với bà Lê Thị Hồng Liên – Tổng giám đốc Đại lý Thế Giới Bất Động Sản Miền Bắc, bà cho biết: “Dòng sản phẩm căn hộ cao cấp giữa một quần thể có cảnh quan đẹp đang được rất nhiều người quan tâm. Hiện nay, các chủ đầu tư nhỏ chưa thể đủ tiềm lực triển khai mà chỉ trông chờ vào những tên tuổi lớn”. Vì thế số lượng những dự án đủ điều kiện đáp ứng những yêu cầu trên thị trường hiện nay được đánh giá là không nhiều.
Trong đó, nổi bật là dòng sản phẩm Ruby nằm trong tái cơ cấu sản phẩm mới của chủ đầu tư Vinhomes. Vinhomes Ocean Park với sức hút vốn có của mình nhờ hệ thống tiện ích “có một không hai” và uy tín của Vinhomes, nay chính thức ra mắt phân khu căn hộ cao cấp Ruby, sớm đã thu hút được giới thượng lưu Hà Thành.
Phân khu Ruby gồm 4 tòa căn hộ được thiết kế sang trọng ưu tiên nhiều mảng kính lớn, bàn giao theo tiêu chuẩn liên tường cao cấp. Hệ thống tiện ích cũng được đầu tư xứng tầm với điểm nhấn vườn Nhật nội khu mang đến không gian nghỉ ngơi thư thái và tầm view “đã mắt”.

Bên cạnh những tiện ích đặc quyền vượt trội, những căn hộ hạng sang Ruby còn được thừa hưởng toàn bộ tiện ích chung của đại đô thị với biển hồ nhân tạo 6,1ha, hồ trải cát trắng 24,5ha tạo ra môi trường cân bằng thư giãn tuyệt đối.
Trong bối cảnh bất động sản sở hữu lâu dài không đáp ứng đủ nhu cầu để ở và đầu tư, khách hàng đang dần chuyển sang xu hướng thuê nhà ở. Điều này vừa đáp ứng được nhu cầu di chuyển gần tới cơ quan làm việc và phù hợp với điều kiện sống hiện nay của đa số giới trẻ.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thống kê của công ty TNHH CBRE Việt Nam cho thấy Hà Nội hiện có khoảng 11 triệu dân, Tp.HCM là 12 triệu dân, trong khi số căn hộ cũng chỉ khoảng 260.000 căn hộ, quá ít so với nhu cầu.
Với sự hạn chế về nguồn cung bất động sản (BĐS) sở hữu lâu dài như vậy, tại hai thành phố này, khách hàng trẻ đang có xu hướng chuyển sang thuê nhà để ở, thay vì sở hữu.
Cầu nhiều, cung ít
Bà Dương Thùy Dung, Giám đốc cấp cao CBRE Việt Nam, cho biết trong thời gian qua có nhiều sản phẩm trỗi dậy thay thế cho BĐS sở hữu lâu dài. Đối với BĐS nhà ở bán, hiện có 3 dòng sản phẩm: căn hộ, biệt thự, nhà phố.
Sản phẩm trên thị trường căn hộ để bán cho đến thời điểm hiện tại đều là sở hữu lâu dài (sở hữu vĩnh viễn). Bởi tâm lý người mua BĐS tại Việt Nam rất thích sản phẩm có sở hữu lâu dài, nên sức tiêu thụ trên thị trường cao.
Số liệu cho thấy năm 2008, tại 2 thị trường lớn là TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, nguồn cung chào bán là 15.000 căn hộ, số căn tiêu thụ là 8.000 căn nhưng đến năm 2018 tương ứng lên đến 63.000 căn và 55.000 căn.
Hiện tại, xu hướng tiêu dùng của người mua, nhà đầu tư vẫn là căn hộ sở hữu lâu dài. Khảo sát sơ bộ cho thấy có sự chuyển đổi khá lớn. Từ 2014 – 2016, số lượng người mua để đầu tư chiếm đến khoảng 65% so với 35% chỉ để ở.
Từ 2017 – 2018, khi có thêm nhiều sản phẩm nhà ở phân khúc trung cấp, quan niệm của người mua cởi mở hơn với chung cư, tỷ lệ mua để ở lên đến 45%. Nhu cầu người mua để ở tăng lên nhiều, mối quan tâm với các dự án chung cư cũng tăng lên. Tuy nhiên, con số được cung ra thị trường vẫn rất ít so với nhu cầu thực tế.
Theo thống kê của CBRE, tại TP. Hồ Chí Minh có đến 12 triệu dân, Hà Nội khoảng 11,12 triệu dân, trong khi số căn hộ chỉ khoảng 260.000 căn hộ.
“Con số quá ít so với nhu cầu, nguồn cung như vậy còn quá thấp, nên có dư địa rất lớn để phát triển thị trường. Các dự án có sở hữu lâu dài và vĩnh viễn, người mua cũng cần phải cân nhắc”, bà Dung nhấn mạnh.
Bà Dung cho biết 6 tháng đầu năm 2019, số lượng dự án chào bán ra sụt giảm nhất định so với cùng kỳ năm 2018, nếu mua để đầu tư thì bắt đầu có ít lựa chọn hơn. Sản phẩm thay thế là sản phẩm sở hữu có thời hạn bắt đầu nhận được sự quan tâm của người mua. Bên cạnh đó, khách hàng đang có xu hướng thuê căn hộ để ở, nhất là tại TP. Hồ Chí Minh, tỷ lệ thuê đang gia tăng.
Lãnh đạo một doanh nghiệp địa ốc tại TP. Hồ Chí Minh lý giải về hiện tượng này là do tình trạng làm việc ở trung tâm, nhà ở tại các quận ven, giao thông ùn tắc thường xuyên, nên nhiều gia đình trẻ đã lựa chọn thuê nhà tại khu vực các quận trung tâm thay vì mua.

Cần thay đổi nhận thức
Hơn nữa, nhiều chuyên gia người nước ngoài cùng gia đình đến TP. Hồ Chí Minh làm việc nên cũng thuê nhà, bởi sở hữu nhà đối với người nước ngoài vẫn còn những rào cản nhất định, nên thuê là một giải pháp tốt.
Cùng góc nhìn trên, theo ông Phạm Thanh Hưng, Phó Chủ tịch HĐQT CEN Group, đầu tư BĐS là các sản phẩm chung cư hiện nay là kênh đầu tư không tốt.
Quan điểm của ông Hưng luôn cho rằng chung cư chỉ nên có quyền sở hữu có thời hạn, bởi bản thân nó là một sản phẩm tiêu dùng, như xe ô tô. Cho nên chung cư chủ yếu vẫn nên là sản phẩm phục vụ nhu cầu mua để ở, hoặc mua để khai thác cho thuê, còn nếu mua để đầu tư, chờ lên giá thì rất khó.
Bên cạnh đó, chung cư lại có yếu tố nữa là khấu hao, tỷ trọng tiền sử dụng đất đóng góp trong giá trị căn chung cư không lớn, vì thế với sự khấu hao của công trình xây dựng, giá chung cư về mặt lâu dài sẽ không phải là một sản phẩm đầu tư tốt, không có lời, thậm chí giá còn giảm. Tuy nhiên, đầu tư khai thác cho thuê lại là một kênh đầu tư khá tốt.
Nếu tính theo lãi suất ngân hàng, mua một căn chung cư 2 – 2,5 tỷ đồng, cho thuê được 8 – 10%/ năm, còn gửi ngân hàng 7%/năm, thì người dân vẫn lựa chọn mua nhà cho thuê.
“Nguyên nhân khiến việc cho thuê nhà lợi nhuận cao tại TP. Hồ Chí Minh là do việc đi lại quá vất vả, nên người dân có xu hướng thuê nhà thuận lợi hơn, nhu cầu thuê cao hơn nhu cầu mua, mua xong phải hoàn thiện, mất nhiều công sức”, ông Hưng lý giải.
Trước đó, trao đổi với Thời báo Kinh Doanh, ông Nguyễn Trần Nam, Chủ tịch Hiệp hội BĐS Việt Nam, cũng cho biết việc sở hữu BĐS trên thế giới rất hạn chế, sản phẩm chủ yếu là thuê. Việt Nam cũng nên đi theo xu hướng này, bởi quỹ đất không còn nhiều, dân số ngày càng gia tăng, thuê là một giải pháp tốt nhất.
Tuy nhiên, theo ông Nam, để người dân thay đổi quan điểm từ sở hữu nhà sang thuê nhà là cả một quá trình, đòi hỏi ngay chính bản thân người dân phải tự nhìn nhận, đồng thời các cơ quan chức năng, truyền thông cần tuyên truyền nhiều hơn nữa về thuê nhà chứ không phải sở hữu nhà lâu dài.
Chi phí rẻ, môi trường đầu tư dễ hòa nhập cùng tác động của thương chiến Mỹ - Trung đang mở ra cơ hội mới cho bất động sản công nghiệp Việt Nam.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Savills Việt Nam vừa công bố báo cáo chuyên đề Bất động sản công nghiệp những tháng đầu năm 2019 và đưa ra đánh giá tích cực cho chu kỳ phát triển mới đầy tiềm năng của thị trường này. Báo cáo cũng nêu 7 lý do giải mã vì sao bất động sản công nghiệp Việt Nam đang bước vào thời hoàng kim và trở thành thỏi nam châm thu hút sự quan tâm của giới đầu tư trong vòng 6-12 tháng qua.
Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung
Với 25% thuế quan xuất khẩu áp trên tổng giá trị xuất khẩu 250 tỷ USD của Trung Quốc và vẫn có khả năng tăng thêm 10% trên tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá 300 tỷ USD, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đang có tác động tích cực đến cơ hội của bất động sản công nghiệp Việt Nam. Bởi lẽ cuộc thương chiến này hướng các công ty đa dạng hoá quy trình sản xuất và chuyển dời nhà máy sang một bến đỗ mới ít rủi ro và nhiều cơ hội hơn và Việt Nam đang nằm trong tầm ngắm này.
Chi phí thấp
Lương của lao động ngành sản xuất năm 2018 tại Việt Nam ghi nhận 237 USD một tháng, còn ở mức cực kỳ khiêm tốn so với Thái Lan (412 USD một tháng), Trung Quốc (866 một tháng) và Malaysia (924 một tháng). Chi phí nhà xưởng tại Việt Nam cũng được xếp hạng "vừa túi tiền" khi kinh phí xây dựng nhà xưởng trung bình năm 2018 tại Việt Nam đang thấp hơn Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia. Chi phí thấp trở thành một yếu tố đáng để cân nhắc cho các nhà sản xuất có ý định dịch chuyển sang một thị trường mới.
Cú hích từ các hiệp định thương mại
Các hiệp định thương mại tự do mới đã mang lại ảnh hưởng tích cực đến thị trường công nghiệp Việt Nam. Hiệp định cải cách toàn diện cho hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức thiết lập vào tháng 1/2019, trong khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã được ký kết vào tháng 6/2019. Hiệp định mang tính lịch sử này sẽ xoá bỏ 99% thuế hải quan và tăng thu hút vào lĩnh vực bất động sản công nghiệp.
Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (RCEP) được kỳ vọng sẽ hoàn tất cuối năm nay. Hiệp định thiết lập nhằm mục đích thắt chặt hợp tác kinh tế giữa các nước thành viên khối ASEAN và 6 quốc gia trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đang ký kết hiệp định thương mại tự do.
Bằng việc áp dụng sản xuất bằng công nghệ và tăng đội ngũ lao động được huấn luyện, chính phủ Việt Nam đang nỗ lực giảm thiểu việc thiếu hụt nguồn nhân lực và chi phí tăng để chuyển đổi sang môi trường kinh doanh minh bạch hơn.
Tăng trưởng GDP nhanh nhất ASEAN
Tăng trưởng GDP, 2019 Việt Nam duy trì nền kinh tế phát triển nhanh nhất Đông Nam Á trong 2019 đạt 6,8% cao hơn Philippines (6,2%), Indonesia (5,8%), Malaysia (4,5%), Thái Lan (3,5%), Singapore (2,4%).
Là nền kinh tế dễ hòa nhập
Theo khảo sát và thống kê của Ngân hàng Thế giới, chỉ số hoạt động kinh doanh tại Việt Nam năm 2018 đứng thứ 69 trong 190 nền kinh tế dễ hoạt động kinh doanh. Điều đó cho thấy thị trường này dễ hòa nhập và không quá kén chọn, khó tính đối với khối ngoại.
Chỉ số thu mua lý tưởng
Chỉ số PMI (chỉ số quản lý thu mua) của Việt Nam trong tháng 6/2019 tăng lên 52,5, cao nhất trong quý I/2019 và đạt trên mức 50 điểm. Theo Focus-Economics, chỉ số của quý 2/2019 cao hơn quý I/2019, cho thấy phân khúc sản xuất tăng trưởng mạnh mẽ mặc dù căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gia tăng. Đà tăng trưởng này dựa trên lượng đặt hàng mới, khôi phục tỷ lệ lao động, sản phẩm mới và gia tăng lượng khách hàng.
Nhập khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ cũng tích cực. Trong ba tháng đầu năm (quý I/2019) nhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ lên đến 40,2%. Mỹ tiếp tục trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam: hàng may mặc đạt 4,42 tỷ USD, tăng 9,1% theo năm; giày dép đạt 2 tỷ USD, tăng 13,5%; máy móc thiết bị và phụ tùng đạt 1,3 tỷ USD, tăng 54%; gỗ và cao su đạt 1,42 tỷ USD, tăng 34,7%.
Tăng trưởng sản xuất công nghiệp ấn tượng
Tăng trưởng sản xuất công nghiệp (IIP) của Việt Nam trong quý I/2019 tăng 9,1% theo năm. Ngành sản xuất và chế biến tăng 11,2% đang thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả nước. Theo Tổng cục thống kê (GSO), các sản phẩm công nghiệp chính bao gồm khai thác sắt và thép thô (60%), dầu mỏ (58%), sơn (15%), thức ăn thuỷ sản (14%) và điện tử viễn thông (14%).
Trong khi đó, tăng trưởng sản xuất công nghiệp tại Việt Nam tính đến tháng 7/2019 đạt 9,6%, cao hơn Indonesia (2,6%), Malaysia (3,9%), Trung Quốc (6,3%) và Thái Lan (đang giảm 5,5%).
Trong vài tuần qua, nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự bất ổn đáng lo ngại. Dù suy thoái có sắp xảy ra hay không, thì chắc chắn rằng tâm lý trên toàn cầu cũng đang dần đổ vỡ.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Điều gì đã khiến các nhà đầu tư hoang mang? Có thể kể đến những yếu tố về dài hạn, như xu hướng nhân khẩu học và sự thay đổi của công nghệ đang chậm lại. Tuy nhiên, điều cuối cùng xuất hiện trên thị trường đó là xu thế toàn cầu hoá không còn được thúc đẩy bởi sự kết hợp giữa chính sách kinh tế có lợi cho nhà đầu tư và sự hoà hợp trong vấn đề chính trị vốn đã được duy trì bấy lâu nay.
Trong chính quyền ông Trump, chính sách kinh tế mang xu hướng chủ nghĩa dân tộc đã đạt đến một tầm cao mới. Nhà Trắng đã đưa ra phản ứng với "làn sóng" suy thoái bằng các "cướp sân" Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và đe doạ áp thêm thuế quan với Trung Quốc. Chính sách kinh tế của chính quyền ông Trump không phù hợp với quan điểm của Bill Dudley, cựu chủ tịch Fed New York.
Ông Trump nói rằng ngân hàng trung ương Mỹ là mối đe doạ với Mỹ và nền kinh tế thế giới. Còn ông Dudley lập luận rằng Chủ tịch Fed Jerome Powell nên phủ nhận những tác động của chủ nghĩa bảo hộ mà ông Trump thúc đẩy thông qua việc hạ lãi suất. Nếu ngài Tổng thống là nguyên cớ gây nên sự suy thoái, thì hẳn sẽ là như vậy. Ít nhất thì Fed sẽ không giúp "mở cửa" cho nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump.
Công bằng mà nói, Fed đã phớt lờ lời đề xuất của ông Dudley. Tuy nhiên, ông cũng chỉ đơn thuần nói về những tác động tiêu cực đã hiện rõ. Chính quyền ông Trump và đảng Cộng hoà đe doạ các thể chế hoạch định chính sách kinh tế ở Mỹ. Trong lịch sử, điều đó đã được thực hiện bởi những chính phủ cấp tiến ở châu Âu và Mỹ Latinh - những người đã đưa ra một đường lối cứng rắn từ các ngân hàng trung ương bảo thủ. Thật đáng kinh ngạc khi khả năng này hiện đang được đưa vào trung tâm của chủ nghĩa tư bản toàn cầu.
Nền kinh tế thế giới cần sự lãnh đạo từ châu Âu: không có nhân tố nào hứng chịu tổn thất từ sự sụp đổ của chủ nghĩa đa phương như nền kinh tế thế giới. Khu vực đồng euro đang đứng bên bờ suy thoái - một chính sách Brexit cứng rắn sẽ làm cho mọi chuyện tồi tệ hơn - nhưng sự suy giảm mạnh ở Đức cũng đồng nghĩa rằng lần đầu tiên lợi ích của 2 vùng Bắc và Nam có sự tương xứng với nhau. Khu vực đồng euro cần được đầu tư nhiều hơn nhưng nội tại trong nó vẫn còn sự rối loạn chức năng chính trị sâu sắc cần phải được giải quyết.
Ngay cả ngày nay, khi thị trường trái phiếu sẽ tạo điều kiện cho chính phủ Đức đi vay, thì vẫn không rõ rằng liệu chính phủ liên minh của Thủ tướng Angela Merkel có thể đồng ý thực hiện một chương trình tài khoá mở rộng hay không. Họ sẽ cần đến Quốc hội để tuyên bố về một cuộc khủng hoảng kinh tế nhằm thoát khỏi sự khắt khe của chính sách tài khoá.
Thực tế là thế giới vẫn chưa rơi vào suy thoái, phần lớn là nhờ Trung Quốc. Thực ra, đây không phải quan điểm thừa nhận sức mạnh siêu phàm hoặc sự thống nhất trong bộ máy điều hành của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng không mấy thoải mái giữa bối cảnh tăng trưởng kinh tế chậm chạp và bùng nổ tín dụng đầy rủi ro. Khu vực ngân hàng ngầm của Trung Quốc là một mối lo ngại, khi chính phủ nước này bị "ám ảnh" bởi sự tăng trưởng. Các doanh nghiệp của Trung Quốc gồng gánh những khoản nợ USD rẻ, hiện đang chịu sự ảnh hưởng nặng nề từ việc đồng USD mạnh lên.
Dẫu vậy, trong việc xử lý những vấn đề trong và ngoài nước, không như Mỹ, Trung Quốc ít nhất cũng có một sách lược. Họ không chỉ đồng bộ hoá chính sách tài khoá và tiền tệ mà còn sử dụng những quy định của ngân hàng và kiểm soát dòng ngoại hối để ngăn chặn rủi ro dòng vốn ồ ạt chảy ra ngoài. Từng bị chỉ trích vì ngăn chặn áp lực đối với giá trị của đồng NDT, Washington hiện đang dự đoán rằng Bắc Kinh sẽ sử dụng mọi đòn bẩy để ngăn đồng NDT khỏi bị phá giá. Thậm chí gác lại những mâu thuẫn từ chính quyền Trump, một số ý kiến phương Tây muốn nhìn thấy Trung Quốc tự do hoá cán cân thanh toán và mạo kiểm với tình trạng dòng vốn đổ ra ngoài như năm 2015 và 2016.
Thắt chặt việc kiểm soát kinh tế là động thái ngược lại với điều các học giả phương Tây từng tưởng tượng về sự hội nhập của Trung Quốc với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, đó lại là một biện pháp tốt phục vụ cho Bắc Kinh và phần còn lại của thế giới khi ngăn chặn sự suy thoái. Dù phương Tây vẫn chỉ nói suông về "sự cải cách thị trường", nhưng vẫn phụ thuộc vào việc duy trì sự kìm kẹp của Bắc Kinh. Tuy nhiên, ở đây vẫn có một câu hỏi không thể tránh được: Hậu quả chính trị khi việc phụ thuộc vào sự kiểm soát nền kinh tế trong nước của Bắc Kinh ngày càng lớn là gì?
Câu hỏi có thể sẽ bị né tránh khi nhiều ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ hội tụ với phương Tây. Giờ đây, 2 đảng của Quốc hội Mỹ đã đặt điều này theo các khía cạnh địa chính trị. Đảng Dân chủ đã thảo luận quanh việc xem xét tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc là mối đe doạ đối với an ninh Mỹ. Những sự việc xảy ra ở Tân Cương làm dấy lên nỗi lo ngại về nhân quyền, biểu tình ở Hồng Kông cũng mang đến nhiều rủi ro, hãng hàng không Cathay Pacific phải gánh chịu áp lực cả từ phía Bắc Kinh lẫn Hồng Kông.
Triển vọng về một nền kinh tế thế giới bị chia rẽ giữa một châu Âu ngày càng nhiều bất ổn, một nước Mỹ theo chủ nghĩa dân tộc và sự bành trướng của Trung Quốc là một bối cảnh không mấy sáng sủa.
* Bài viết thể hiện quan điểm của Adam Tooze. Ông là một giáo sư ngành lịch sử tại Đại học Columbia và tác giả của cuốn sách "Crashed: How a Decade of Financial Crises Changed the World".
Sau 20 năm kể từ khi ra đời (1999 - 2019), ơ-rô (Euro) - đồng tiền chung châu Âu đã phải trải qua không ít thăng trầm, đối mặt với nhiều cuộc khủng hoảng và các bất đồng chính trị. Nhưng cho đến nay, đồng ơ-rô vẫn là một trong những đồng tiền có giá trị ổn định, là hạt nhân và động lực của tiến trình hợp tác, liên kết và nhất thể hóa Liên minh châu Âu (EU).
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ghi nhận những thành công
Góp phần quan trọng nâng cao vị thế của EU. Ngay từ giai đoạn đầu hiện thực ý tưởng, việc hợp nhất các đồng nội tệ của 11 quốc gia thành viên EU thành một đồng euro chung diễn ra khá suôn sẻ. Cho đến nay, có tổng cộng 19 nước tham gia Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), hình thành một thị trường rộng lớn với quy mô kinh tế gần tương đương với Mỹ. Nhờ đó, EU trở thành một khối kinh tế vững mạnh, liên kết chặt chẽ hơn, ảnh hưởng của EU tới các vấn đề chính trị thế giới cũng ngày càng lớn mạnh. Mong muốn được thu nạp vào “Câu lạc bộ Eurozone” khiến nhiều quốc gia thành viên, đặc biệt là các nước Trung và Đông Âu gia nhập EU, đã thực hiện nhiều cải cách tích cực.
Hoàn thiện thị trường chung châu Âu. Đồng tiền chung ra đời góp phần hoàn thiện thị trường chung châu Âu, gỡ bỏ những hàng rào phi thuế quan, tác động tích cực đến hoạt động kinh tế, tài chính, đầu tư, tiết kiệm chi phí hành chính. Các giao dịch trong các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí... của khu vực đều được thống nhất bởi một hệ thống tiền tệ chung. Những thị trường vốn nhỏ lẻ kết hợp lại thành một thị trường tài chính vững mạnh, có tính thanh khoản cao. Eurozone hiện có những quy định, quy tắc tài chính hoàn thiện hơn, các thể chế tài chính và quỹ hoạt động hiệu quả hơn, do vậy, đồng tiền này được coi là “cội nguồn ổn định” chống lại trào lưu dân túy gia tăng tại châu Âu, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại khu vực. Thông qua việc sử dụng đồng euro, người tiêu dùng và doanh nghiệp trong khối có thể so sánh giá cả hàng hóa và dịch vụ một cách dễ dàng, vì thế giá cả được minh bạch giữa các nước thành viên, thúc đẩy giao lưu buôn bán, tăng tiêu dùng, phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ. Từ đó, tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong khối, cải thiện mức sống của người dân.
Những năm gần đây, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) duy trì mức lãi suất thấp, thúc đẩy hoạt động kinh tế, chi tiêu tiêu dùng, kinh tế khu vực đã có tín hiệu tích cực. Theo thống kê của Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat), các nền kinh tế Eurozone trong quý I-2019 đã tăng trưởng 0,4% so với quý IV-2018; tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 7,7% trong tháng 3-2019, mức thấp nhất kể từ tháng 9-2008(1). ECB cũng đã thành công khi ổn định tỷ lệ lạm phát dưới mức 2% (tỷ lệ lạm phát trong Eurozone trung bình trong 20 năm qua là 1,7%/năm(2)).
Tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch ngoại hối. Đồng euro giúp xóa bỏ các nghiệp vụ giao dịch ngoại hối trực tiếp giữa các đồng tiền nội khối với nhau, cũng như các giao dịch gián tiếp qua đồng USD. Điều này giúp các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thương mại, đầu tư trong khối tiết kiệm khoản chi phí chuyển đổi giữa các đồng bản tệ. Ngoài ra, những rủi ro liên quan đến biến động tỷ giá giảm, trao đổi thương mại và đầu tư trong khối tăng lên. Các nước thành viên tránh được sức ép của việc phá giá đột ngột hay việc các nhà đầu cơ tiền tệ tranh thủ sự không ổn định của từng đồng tiền riêng lẻ để trục lợi.
Kích thích hoạt động đầu tư quốc tế. Thông qua đồng euro, các nhà đầu tư dễ dàng di chuyển vốn trong nội khối, chi phí giao dịch ngoại hối giảm, thị trường thống nhất, giá cả ổn định. Kinh tế vĩ mô ổn định do có chính sách tiền tệ chung, môi trường đầu tư của EU trở nên hấp dẫn hơn, không chỉ tăng cường thu hút đầu tư từ bên ngoài mà còn thúc đẩy đầu tư nội khối. Hoạt động của thị trường tài chính, đặc biệt là trao đổi tài chính xuyên biên giới thông qua hoạt động ngân hàng và các hình thức tín dụng khác trong Eurozone, tăng trưởng theo cấp số nhân (từ khoảng 100% GDP vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX lên 400% vào năm 2008(3)).
Niềm tin vào đồng euro tiếp tục được củng cố. Ở thời kỳ đầu, đồng euro không dành được nhiều thiện cảm của người dân châu Âu bởi sự xuất hiện của nó kéo theo tình trạng tăng giá ngoài mong muốn. Tuy nhiên, việc chi tiêu dễ dàng trong quá trình đi lại hay giao dịch thương mại xuyên biên giới mà không cần phải chuyển đổi tiền tệ đã nhanh chóng giúp đồng tiền này có được nhiều lợi thế. Hiện nay, niềm tin vào đồng tiền này tiếp tục được củng cố, bất chấp tâm lý bài châu Âu và trào lưu dân túy đang gia tăng. Theo một cuộc thăm dò do Eurobarometer tiến hành (tháng 11-2018), có khoảng 74% số người dân châu Âu được hỏi cho rằng đồng euro có lợi cho họ, trong khi chưa đến 20% phản đối. Ngay cả tại Italia, số người ủng hộ đồng euro cũng chiếm tỷ lệ khá cao, đạt mức 68%(4). Hiện có khoảng 60 quốc gia lựa chọn neo tỷ giá đồng nội tệ của mình với đồng euro. Đồng euro được sử dụng là đồng tiền quan trọng thứ hai (sau đồng USD) trong trao đổi và dự trữ toàn cầu (chiếm khoảng 20%)(5). Có thể thấy, về mặt kỹ thuật, đồng euro được đánh giá là thành công.
Những hạn chế, khó khăn
Phương thức quản trị của ECB còn bộc lộ nhiều điểm yếu. Sau thập niên đầu tiên, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2009, các thể chế và thủ tục của EU trong hợp tác kinh tế đã được xem xét và củng cố lại. Năm 2011, ECB thông qua Chương trình giám sát sáu điểm (six-pack); năm 2012, thông qua Cơ chế ổn định châu Âu (MES); năm 2013, thông qua Chương trình giám sát hai điểm (two-pack) và Hiệp ước ổn định, phối hợp và quản lý (TSCG). Những cải cách này là sự đổi mới quan trọng trong việc phòng ngừa và khắc phục tình trạng mất cân bằng tài chính, nhưng vẫn chưa đủ để đối đầu với một cuộc khủng hoảng lớn hơn.
Phương thức quản trị của ECB cho thấy những điểm yếu và những giới hạn, thể hiện rõ nét trên ba khía cạnh: Thứ nhất, sự thất bại của các tiến trình giám sát. Hiệp ước tăng trưởng và ổn định (SGP) đã không có khả năng bảo đảm kỷ luật ngân sách của các nước thành viên, các định hướng chính sách kinh tế lớn cũng đã không ngăn chặn được sự khác biệt giữa các nước thành viên. Thứ hai, sự thiếu vắng cơ chế giải quyết khủng hoảng. Khủng hoảng nợ công châu Âu (2008 - 2009) cho thấy, Eurozone chưa thể đối đầu với một cuộc khủng hoảng nợ công của một trong số các nước thành viên. Thứ ba, tính ổn định của khu vực đồng euro không chỉ xuất phát từ hành vi của các chính phủ, do vậy việc kiểm soát các rủi ro tài chính không thể được giải quyết chỉ thông qua việc giám sát ngân sách nhà nước.
Chính sách điều hành tiền tệ gặp nhiều khó khăn. Ngay khi dự án Liên minh kinh tế tiền tệ (EMU) xuất hiện, đã có các luồng quan điểm khác nhau. Phần lớn các nhà kinh tế châu Âu xem dự án EMU là tích cực, nhưng những người phản đối cho rằng, liên minh tiền tệ mới không đáp ứng các tiêu chí để trở thành một khu vực tiền tệ tối ưu, như vậy Eurozone sẽ không có đủ ngân sách đáng kể để có thể chủ động ứng phó với những cú sốc lớn... Bất chấp các lo ngại trên, các nhà sáng lập đồng euro tin rằng, họ có thể kiểm soát nợ tài chính thông qua SGP. Nhưng trên thực tế, nhiều thành viên đã không tuân thủ các điều khoản của SGP, vì vậy Eurozone đã phải trải qua không ít khó khăn. Hiện nay, nếu Italia không duy trì được kỷ luật tài chính của EU, nước này có thể lại “châm ngòi” cho một cuộc khủng hoảng tài chính mới.
Ngoài ra, do ECB đảm nhiệm chức năng điều hành chính sách tiền tệ của cả khối sẽ làm cho các nước tham gia EMU mất đi quyền tự chủ trong chính sách tiền tệ, khó có thể chống chọi với các cú sốc lớn. Như giai đoạn 2004 - 2006, do bong bóng bất động sản và nền kinh tế quá nóng, Ai-len cần một chính sách tiền tệ thắt chặt hơn so với kế hoạch mà ECB định đưa ra. Tuy nhiên, nước này đã không còn quyền nâng giá đồng tiền của mình hay nâng tỷ lệ lãi suất. Tương tự, giai đoạn 2009 - 2013, khi Ai-len cần một chính sách tiền tệ nới lỏng hơn chính sách của ECB, nhưng nước này không thể hạ giá đồng tiền của mình, cũng không thể in tiền hay hạ tỷ lệ lãi suất. Rõ ràng, ngay từ khi từ bỏ đồng tiền quốc gia, các nước thành viên Eurozone đã mất đi các đòn bẩy chính sách quan trọng.
Việc chính sách tài khóa giữa các quốc gia không đồng nhất, các khoản vay nợ và chi tiêu chính phủ không được kiểm soát chặt chẽ chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến Hy Lạp rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công (năm 2010) và để có thể nhận được các gói cứu trợ từ EU, Hy Lạp buộc phải thực thi các chính sách “thắt lưng, buộc bụng” hà khắc. Cuộc khủng hoảng nợ công đã nhấn chìm nền kinh tế Hy Lạp, dẫn tới nguy cơ nước này phải rời khỏi Eurozone để ngăn chặn hiệu ứng lan rộng. Và nhờ gói giải cứu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nền kinh tế Hy Lạp đã trụ lại được. Tuy nhiên, những năm gần đây, mặc dù các quy tắc tài khóa đã được sửa đổi, nhưng do các sửa đổi này không thực sự hiệu quả, vấn đề lại tiếp tục diễn biến phức tạp.
Lúng túng trong kiểm soát nợ công, EU chia rẽ. Trước khi đồng euro ra đời, các nhà lãnh đạo ECB đã rất lo ngại sự bất ổn tài chính, đặc biệt là của ngành ngân hàng. Trên thực tế, khi dùng đồng tiền chung, việc loại bỏ rủi ro mất giá cũng khuyến khích dòng vốn luân chuyển dễ dàng trong nội bộ EMU. Nhưng khi chi phí vay giảm, nợ tư nhân lại gia tăng là yếu tố rủi ro đối với nợ có chủ quyền của các quốc gia này. Chẳng hạn, trong khi Tây Ban Nha và Ai-len có tỷ lệ nợ công thấp và giảm trong những năm trước khủng hoảng thì sự bùng nổ của nợ tư nhân đã thúc đẩy bong bóng nhà ở, che giấu những vấn đề tiềm ẩn với tài chính công ở chính những quốc gia này. Kết quả là, năm 2012 Eurozone đứng trước nguy cơ bị cuốn theo cuộc khủng hoảng nợ công có thể dẫn đến sự tan rã của hệ thống ngân hàng tại châu Âu. Năm quốc gia thuộc Eurozone (Ai-len, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Síp và Hy Lạp) đã phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài để chống chọi với khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công. Giai đoạn này, nhiều ý kiến cho rằng, khu vực đồng euro nên chấm dứt sự tồn tại càng sớm càng tốt...
Khủng hoảng cũng cho thấy rõ sự bất bình đẳng kinh tế giữa các nước thành viên, đặc biệt giữa quy tắc thận trọng tài chính ở phương Bắc và các nước chịu gánh nặng nợ phương Nam. Và đến nay, việc xử lý các khoản nợ xấu vốn là hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính, xảy ra từ 10 năm trước, vẫn là một thách thức lớn của Eurozone. Nhiều nền kinh tế thuộc khối này vẫn chưa hoàn toàn hồi phục. Tháng 4/2019, bên lề Hội nghị mùa Xuân của IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức tại Oa-sinh-tơn (Mỹ), Bộ trưởng Tài chính Pháp Lơ Me-rơ (Le Maire) cảnh báo, những bất đồng ngày càng tăng về chính sách kinh tế giữa các nước thành viên thuộc Eurozone là hết sức đáng lo ngại, về lâu dài có thể dẫn tới hậu quả là đồng euro sẽ không thể tồn tại.
Mất cân bằng tài khoản vãng lai. Một số quốc gia không đóng vai trò quan trọng trong Eurozone vẫn duy trì thâm hụt tài khoản vãng lai trong suốt 10 năm đầu, sau khi đồng euro được sử dụng. Khi đó, dòng chảy vốn lớn của những quốc gia này được coi là dấu hiệu hội nhập tài chính hiệu quả. Tuy nhiên, đây lại là nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng tài khoản vãng lai. Nhiều nước, đáng chú ý nhất là Hy Lạp, cũng duy trì thâm hụt ngân sách lớn và mức nợ cao. Các nước thành viên giàu có hơn lo ngại sẽ buộc phải giải cứu những nước thành viên chi tiêu hoang phí. Để ngăn chặn điều này, EMU yêu cầu các quốc gia thành viên giới hạn thâm hụt ngân sách của mình ở mức 3% GDP(6), nhưng các quy định tài chính đã không thể thực hiện được. Phần lớn các nước thành viên Eurozone (bao gồm cả Đức) đều sớm vượt qua mức trần thâm hụt 3%.
Điều tiết hoạt động ngân hàng là rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Eurozone, nhưng ECB đã sai lầm khi nâng tỷ lệ lãi suất vào tháng 7-2008, sau đó lại tiếp tục nâng thêm lần nữa vào năm 2011, bất chấp thực tế là nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái. Hơn nữa, khi cuộc khủng hoảng tại Hy Lạp (năm 2010) xảy ra, các nhà lãnh đạo châu Âu đã trì hoãn việc để Hy Lạp tìm tới sự trợ giúp của IMF, tìm cách giảm mức nợ của Hy Lạp, cho dù tỷ lệ nợ/GDP của Hy Lạp đã ở mức báo động và nước này có áp dụng các biện pháp tài chính nghiêm ngặt. Cuối cùng, các biện pháp tài chính khắc khổ đã không đạt được mục tiêu đề ra. Ngược lại, do tốc độ GDP giảm mạnh (hơn cả tốc độ giảm nợ) khiến tỷ lệ nợ/GDP lại tăng nhanh hơn khiến khó khăn càng thêm chồng chất.
Bất bình đẳng gia tăng trong khu vực, việc mở rộng Eurozone còn nhiều rào cản. Theo một nghiên cứu của nhà kinh tế M. Bơ-rên-chơ (M. Burrage), trong những năm trước khủng hoảng, giai đoạn 1997 - 2007, tư cách thành viên của EMU có lợi cho tất cả các quốc gia, trừ Đức và Italia. Thu nhập thực tế bình quân đầu người ở Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tăng 8% - 10% so với ước tính không phải thành viên EMU... Tuy nhiên, mọi việc thay đổi đáng kể sau năm 2008, thu nhập thực tế bình quân đầu người ở Hy Lạp giảm 16%, ở Italia giảm 8%, Bồ Đào Nha giảm 4% và Tây Ban Nha giảm 8%.
Ngược lại, hầu hết các nền kinh tế “trọng yếu” Bắc Âu được hưởng lợi từ tư cách thành viên EMU, vì mức thu nhập bình quân đầu người của những nước này ước tính cao hơn trong kịch bản “không có tư cách thành viên Eurozone”. Đức là quốc gia hưởng lợi lớn trong giai đoạn hậu khủng hoảng (2008 - 2014), thu nhập bình quân đầu người ở Đức cao hơn khoảng 5% so với ước tính không phải thành viên EMU. Đức có thặng dư tài khoản vãng lai khoảng 8% GDP(7). Phần còn lại của khối, đặc biệt là các thành viên khu vực Địa Trung Hải, vẫn có mức thu nhập thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao. Do vậy, sự mất giá của đồng euro chỉ có lợi cho Đức, chứ không phải toàn bộ EU.
Sau khi EMU hình thành, sự cạnh tranh ngày càng tăng đã kích thích vốn và lao động di chuyển từ khu vực có năng suất lao động thấp đến nơi có năng suất lao động cao. Điều này tạo ra hậu quả nghiêm trọng vì lực lượng lao động đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia trong khối. Tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn sóng di dân khi thực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng các khoản chi phúc lợi, chi an sinh xã hội cho người dân. Điều này dẫn đến thâm hụt ngân sách gia tăng và là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới cuộc khủng hoảng nợ công sau này.
Sự khác biệt gia tăng giữa các nền kinh tế thành viên EU đã làm gia tăng các phong trào chính trị, tuy rất đa dạng nhưng có chung những giải pháp mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa và chống châu Âu, cho rằng cần phải quay trở lại với các đồng tiền quốc gia. Sau những khó khăn, Hy Lạp cũng đã bắt đầu lên tiếng về những bất lợi của việc tham gia Eurozone. Trong khi đó, một số nước dự kiến sẽ gia nhập Eurozone, như Séc và Hung-ga-ry, mặc dù ủng hộ đồng tiền chung, nhưng cả chính phủ và người dân đều lo ngại sau khi phát hành đồng euro, giá cả sẽ tăng cao. Chính vì vậy, hai nước này vẫn chưa quyết định thời điểm gia nhập Eurozone.
Một số vấn đề rút ra
Quá trình hình thành và phát triển của đồng tiền chung châu Âu chưa có tiền lệ trên thế giới, vì vậy sẽ rất khó khăn, từ ý tưởng cho đến trở thành hiện thực, nhất là trong bối cảnh những năm gần đây, xuất hiện khá nhiều ý kiến cho rằng, mô hình hợp nhất tiền tệ của EU đang bộc lộ quá nhiều bất cập. Tuy nhiên, xét về mặt khách quan, việc thống nhất tiền tệ không phải là nguyên nhân gây ra các cuộc nợ công trầm trọng của các nước thành viên EU.
Ở khía cạnh nào đó, Eurozone đã có những thành công đáng ghi nhận. Quan trọng hơn, đại bộ phận người dân châu Âu vẫn ủng hộ đồng euro bởi đồng tiền này không chỉ bắt nguồn từ một sự lựa chọn về chính sách kinh tế, mà còn là kết quả của những quyết định tập thể dựa trên lý trí. Đối với những người ủng hộ, đồng euro còn là “lá bùa hộ mệnh” chính trị, tượng trưng cho vấn đề “liên minh” và là trụ cột của sự hòa hợp. Những bất ổn, yếu kém hiện nay chủ yếu là do sự thiếu đồng bộ trong chính sách tài khóa giữa các nước và chính sách vay mượn, chi tiêu bất hợp lý ở một số quốc gia. Do đó, việc hình thành một liên minh tiền tệ vẫn có ý nghĩa to lớn và nhiều tác động tích cực hơn đối với các nước thành viên.
Liên minh kinh tế tiền tệ đang dần được củng cố và xác định đi một chặng đường dài để dần hoàn thiện. Tiến trình hội nhập châu Âu vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cần phải khởi động lại thông qua những cải cách sâu sắc. Trước mắt, việc thiết lập một năng lực thuế, việc hoàn thiện liên minh ngân hàng là những bước chuyển bắt buộc về căn bản mà các nhà lãnh đạo EU đang tính tới, để tiến tới một sự hội nhập kinh tế tốt hơn, đồng thời kỷ luật ngân sách sẽ được thắt chặt.
Đáng chú ý, trong những năm gần đây, xu hướng liên kết giữa các thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) liên tục gia tăng. ASEAN đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và được đánh giá là khu vực phát triển năng động nhất thế giới, nợ của chính phủ và tư nhân đều ở mức chấp nhận được, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định. Các nước ASEAN+3 (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) cũng đã hình thành Quỹ ổn định ngoại hối ASEAN+3; Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã chính thức ra đời... Ngày càng nhiều ý kiến ủng hộ việc ASEAN sử dụng đồng tiền chung Đông Nam Á.
Như vậy, đồng euro ra đời không chỉ là một sự kiện quan trọng trong phát triển liên minh kinh tế giữa các quốc gia châu Âu, mà còn là dấu mốc quan trọng của hệ thống tài chính quốc tế. Quá trình thống nhất tiền tệ ở châu Âu, dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm, tạo động lực, tiền đề cho việc hình thành ý tưởng về đồng tiền chung Đông Nam Á. Liên minh tiền tệ là hình thức cao và là một bước phát triển tất yếu của quá trình nhất thể hóa khu vực. Do đó, cần có một tiềm lực kinh tế - xã hội mạnh và ổn định là yếu tố cơ bản cho sự thống nhất tiền tệ. Bên cạnh đó, tính minh bạch trong hệ thống tài chính, đặc biệt là minh bạch trong chi tiêu ngân sách, là nhân tố quan trọng tác động tới tính bền vững của liên minh khu vực và triển vọng của đồng tiền chung. Cuối cùng, vấn đề thiết kế bộ máy điều hành và cơ chế quản lý một đồng tiền chung cần phải thực sự hiệu quả.
Thay vì giữ nguyên trạng hàng hóa tạm nhập, vận chuyển đến cửa khẩu để tái xuất, một số đối tượng trên đường vận chuyển đã phá niêm phong, rút ruột hàng quá cảnh đưa vào nội địa tiêu thụ.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Đa số các ý kiến nhận định đều cho rằng giá vàng sẽ tăng trở lại trong tuần, thậm chí còn tăng vọt lên mức 1.540 USD/oz.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Chốt phiên cuối tuần qua (6/9), giá vàng thế giới giao ngay giảm mạnh về mức 1.506 USD/oz; Giá vàng giao kỳ hạn tháng 12 giảm 10 USD/oz về mức 1.510 USD/oz. Tính chung trong cả tuần qua so với tuần trước đó, giá vàng thế giới giảm khoảng 0,9%.
Giá vàng thế giới giảm nhanh trong bối cảnh lực bán ra mạnh mẽ. Dòng tiền đầu tư đã có sự dịch chuyển từ nơi trú ẩn an toàn sang các tài sản rủi ro nhưng sinh lời như chứng khoán, tiền tệ do những thông tin ảm đạm từ báo cáo việc làm tháng 8 của Mỹ, cũng như những kỳ vọng về vòng đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ diễn ra trong thời gian tới.
Nhận định về giá vàng tuần này theo kết quả mới nhất từ khảo sát giá vàng hàng tuần của Kitco News cho thấy, các nhà đầu tư Main Street cho rằng vàng vẫn còn nhiều dư địa tăng giá đáng kể trong thời gian tới, khi các nhà đầu tư không chắc chắn về kinh tế và triển vọng lãi suất toàn cầu có khả năng giảm thấp.

Tỷ lệ dự báo và nhận định về giá vàng trong tuần tới
Tuần này, 15 chuyên gia thị trường đã tham gia cuộc khảo sát ở Phố Wall. Tổng cộng đã có 9 chuyên gia (tỷ lệ 60%) đưa ra ý kiến nhận định giá vàng sẽ tăng cao trở lại trong tuần tới. 3 ý kiến khác (tỷ lệ 20%) nhận định giá vàng tiếp tục giảm và 3 ý kiến còn lại (tỷ lệ 20%) nhận định giá vàng sẽ ổn định và đi ngang quanh mốc 1.500 USD/oz.
Trong khi đó, 1.164 người quan tâm đến thị trường vàng đã tham gia cuộc thăm dò trực tuyến đã có tổng cộng có 679 ý kiến phản hồi (tỷ lệ 58%) đưa ra nhận định giá vàng sẽ tăng trong tuần tới, kêu gọi vàng tăng giá. 278 ý kiến (tương đương tỷ lệ 25%) dự đoán vàng sẽ giảm. 198 ý kiến còn lại (chiếm tỷ lệ 17%) nhận định giá vàng sẽ đi ngang.
Kevin Grady, Chủ tịch của Phoenix Futures & Options cho biết, có xu hướng các ngân hàng trung ương sẽ giảm lãi suất nên đây sẽ là tín hiệu tích cực ủng hộ cho giá vàng khởi sắc. Tuy nhiên trong trước mắt, thị trường còn chờ đợi vào rất nhiều dữ liệu kinh tế khác để vàng có hướng đi ổn định.
Trong 2 tuần gần đây, thị trường vàng luôn phải đóng cửa với mức giá thấp, nhưng tại những phiên giao dịch đầu tuần giá vàng luôn khởi sắc. Chính vì thế, mặc dù có một số thận trọng giữa các nhà phân tích Phố Wall, nhưng các nhà đầu tư vẫn có tâm lý tích cực khi giá vàng thế giới vẫn luôn duy trì ở mức trên 1.500 USD/oz.
Adam Button, Giám đốc điều hành tại Forexlive.com cho biết, việc giảm giá vàng vào cuối tuần qua chỉ là một thử nghiệm quan trọng đối với thị trường nhưng. Dòng tiền đầu tư vào vàng sẽ sớm trở lại trong thời gian tới khi nhiều nhà bán lẻ và các nhà quản lý quỹ tiếp tục bày tỏ niềm tin đối với vàng.
Richard Baker, Biên tập viên của Báo cáo khai thác mỏ Eureka lưu ý, ngay cả sau khi vàng đảo chiều giảm giá vào giữa tuần trước, việc phục hồi vào cuối tuần đã cho thấy nhu cầu trú ẩn an toàn đối với vàng vẫn còn đất sống, nhất là khi các dòng đầu tư vẫn còn tập trung vào các vấn đề thương mại, cũng như những xung đột địa chính trị và toàn cầu.
“Tôi tin rằng mặt hàng vàng sẽ nhận được một sự tác động tích cực hơn nữa khi tình hình Brexit tiếp tục xấu đi ở Vương quốc Anh dưới thời ông Vladimir Johnson”, Richard Baker nói và đưa ra khả năng giá vàng có thể tăng lên mức 1.540 USD/oz trong tuần tiếp theo.
Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà phân tích đều lạc quan về vàng trong thời gian tới. Darin Newsom, Chủ tịch của Darin Newsom phân tích, khi mặt hàng vàng không nhận được những thông tin triển vọng trên thị trường, các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng chuyển hướng đầu tư sang các thị trường thị trường khác. “Hiện các điểm số qua phân tích kỹ thuật đều cho thấy giá vàng còn giảm tiếp trong thời gian ngắn”, Darin Newsom quả quyết.
Ở quan điểm trung lập, Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của Adrian Day Asset nhận định, cả hai yếu tố cơ bản là tiền tệ và địa chính trị vẫn đang có ảnh hưởng nhất định đối với giá vàng. Do đó, bất kỳ khi nào một trong hai yếu tố này có sự thay đổi sẽ tác động tiêu cực hoặc tích cực đến giá vàng.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) từ Trung Quốc vào Mỹ đã giảm mạnh kể từ khi ông Donald Trump trở thành Tổng thống Mỹ và xu hướng này chưa dừng lại cho tới nay. Hiện tại, vốn FDI từ Trung Quốc vào nền kinh tế lớn nhất thế giới đang ở mức thấp nhất trong 10 năm qua.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Khi ông Trump trúng cử năm 2016, vốn FDI từ Trung Quốc vào Mỹ ở mức cao kỷ lục, vượt 46,5 tỷ USD, cao hơn gấp đôi kỷ lục ghi nhận năm 2015 là 15,3 tỷ USD.
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian 2,5 năm khi ông Trump nắm quyền, Trung Quốc chỉ còn đầu tư 29,7 tỷ USD năm 2017, 5,4 tỷ USD năm 2018 và ước tính khoảng 3,5 tỷ USD năm nay, theo số liệu từ Rhodium Group.
Bên cạnh đó, bóng dáng của khách du lịch Trung Quốc cũng dần mờ nhạt tại xứ sở cờ hoa. Trong giai đoạn 2012-2016, khách du lịch Trung Quốc chiếm 40% lượng khách quốc tế tới Mỹ.
Hiện tại, con số này đã giảm xuống 3% và thậm chí còn thấp hơn, dựa vào số liệu từ Cơ quan quản lý du lịch và dịch vụ lữ hành Mỹ, cũng như nghiên cứu từ hãng phân tích dữ liệu Macrobond.
Thực tế, dòng vốn FDI từ Trung Quốc giảm mạnh một phần bởi các công ty công nghệ Ðại lục không được phép đầu tư vào Mỹ với lý do “lo ngại về vấn đề an ninh”.
Tuy nhiên, theo giới phân tích, diễn biến này là một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của các biện pháp phi thuế quan mà 2 quốc gia áp dụng trong cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.
Chẳng hạn, Mỹ đang thắt chặt kiểm tra an ninh dòng vốn đầu tư từ Trung Quốc, công việc này sẽ do Hội đồng Ðầu tư nước ngoài của Mỹ (CFIUS) tiến hành. Bên cạnh đó, Mỹ quy định khắt khe hơn về điều kiện cấp visa đối với sinh viên Trung Quốc tại các bậc học cao tại nước này.
Chính quyền của Tổng thống Trump còn ban hành các lệnh cấm vận, hoặc đòi hỏi nghiêm ngặt hơn đối với các doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động tại Mỹ (bao gồm Huawei), thậm chí xem xét việc “gỡ” các doanh nghiệp Trung Quốc đang niêm yết tại thị trường chứng khoán Mỹ.
BNP Paribas đã tạo một mẫu hình kinh tế với mục tiêu đo lường các tác động gia tăng từ hàng rào phi thuế quan. Theo đó, việc đánh thuế 25% lên toàn bộ hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc, cùng với những hàng rào phi thuế quan khác, sẽ khiến chi phí thực hiện hoạt động kinh doanh gia tăng khoảng 28-37%, thay vì khoảng 10-25% chi phí trung bình gia tăng với riêng hàng rào thuế.
Hàng rào thuế quan lẫn phi thuế quan sẽ có tác động lan toả trên thị trường, khiến các quyết định đầu tư, kinh doanh bị trì hoãn, chuỗi cung ứng hàng hoá có sự chuyển dịch và môi trường kinh doanh trở nên bất ổn hơn.
Những hành động khó đoán trước của Tổng thống Trump là một trong những yếu tố tạo nên sự bất ổn trên thị trường. Do đó, các chính sách thuế mới nhất của Mỹ đối với hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc vừa được áp dụng vào ngày 1/9 và Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ khiến các thành viên thị trường và doanh nghiệp tin rằng, cuộc chiến tranh thương mại sẽ còn kéo dài.
Một khảo sát được thực hiện bởi Hội đồng Thương mại Mỹ tại Trung Quốc vào tháng 5/2019 cho thấy, 40% những người trả lời đang có kế hoạch tái cơ cấu hệ thống phân phối, đưa hoạt động sản xuất - kinh doanh ra khỏi Trung Quốc, hoặc đang suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề này.
Ðây là thời điểm 3 tháng trước khi Tổng thống Trump thông báo đánh thuế lên mọi hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc.
Không tính tới hàng rào phi thuế quan, nghiên cứu của Morningstar cho rằng, chi phí trung bình cho việc nhập khẩu hàng hoá Trung Quốc của doanh nghiệp Mỹ sẽ đạt 17,5% trong tháng 9 này.
Hàng rào thuế quan lẫn phi thuế quan sẽ có tác động lan toả trên thị trường, khiến các quyết định đầu tư, kinh doanh bị trì hoãn, chuỗi cung ứng hàng hoá có sự chuyển dịch và môi trường kinh doanh trở nên bất ổn hơn.
Hiện tại, nhiều quỹ đầu tư chuyên nghiệp, các tổ chức kinh tế lớn đã xem mức thuế 25% được áp dụng với mọi hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc là “điều kiện đủ” để tính toán và đưa ra các chiến lược hoạt động trong thời gian tới.
Làm thế nào để một doanh nghiệp vừa và nhỏ được đánh giá là một nơi làm việc lý tưởng và có sức hấp dẫn đối với người tìm việc? Trước tiên hãy tạo ra một môi trường khiến con người có động lực làm việc.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo ông Mike McHenry – chủ tịch SuperAA, bước đầu tiên để thu hút các ứng viên là xây dựng một môi trường làm việc lý tưởng. Ông cho biết một cấu trúc phẳng và môi trường văn hóa thân thiện giúp tạo dựng niềm tin và xây dựng cộng đồng nhân viên, từ đó gắn kết con người và thúc đẩy năng suất lao động. Chế độ lương đóng vai trò quan trọng, nhưng yếu tố được quan tâm nhất lại là sự linh hoạt
Superannuation Advisors Australia (SuperAA) - công ty quản lý quỹ và cung cấp dịch vụ kiểm toán với hai trụ sở tại Geelong và Việt Nam, sở hữu môi trường làm việc vô cùng độc đáo. Chủ tịch Mike McHenry cho biết môi trường làm việc lý tưởng là điểm đầu tiên và quan trọng nhất trong lý lịch của một công ty. Trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào, ông đều bàn bạc với tất cả 120 nhân viên của mình. “Giữa chúng tôi không có rào cản về thứ bậc. Đó gọi là cơ cấu tổ chức phẳng,” ông nói.
Nhân viên được phân bổ vào các bộ phận quản lý từng lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Lãnh đạo của mỗi bộ phận sẽ được luân chuyển hai đến ba tháng một lần và báo cáo kết quả làm việc trong cuộc họp hàng tháng.
“Chúng tôi cố gắng sắp xếp nhân viên vào các bộ phận phù hợp với năng lực của họ,” ông nói. “Tôi không thích được gọi là giám đốc – tôi đơn giản là Mike, và tôi có chiến lược cho nhóm của mình. Chỉ cần mọi người làm tốt công việc của mình thì mọi thứ sẽ diễn ra vô cùng tốt đẹp.”
Văn phòng tại Geelong là một không gian đầy ắp những áp phích truyền cảm hứng , các trò chơi và hoạt động giải trí như phi tiêu hay golf mô phỏng. Những trận đấu thể thao được tổ chức hàng tháng với phần thưởng là huân chương dành cho nguời thắng cuộc. Nếu những cuộc thi đấu này không được hoàn thành đúng thời hạn, mọi hoạt động vui chơi giải trí sẽ bị tạm dừng trong tháng tiếp theo.
Các hoạt động giải trí ấy nằm trong chiến lược của McHenry. “Những trò chơi thú vị không phải để biến văn phòng thành một công viên giải trí mà chúng mang trong mình một vai trò riêng,” McHenry nói. “Nó giúp họ lập thời gian biểu, giúp họ giao tiếp, nhưng quan trọng hơn cả là khi mọi người vui chơi cùng nhau, họ tìm được niềm vui và thấu hiểu nhau hơn.”
Điều này giúp cả đội tin tưởng nhau hơn. Mọi người sẽ sẵn sàng hỗ trợ nhau và tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần. “Đó chính là điều quan trọng nhất. Chính nó sẽ đưa doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ,” McHenry chia sẻ.
Những đầu tư của McHenry đã được đền đáp bởi hiện nay chỉ cần nhắc tới cái tên SuperAA cũng đủ để thu hút các ứng viên. Đây là môi trường làm việc rất quy củ bởi vậy họ hầu như chỉ tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp và sinh viên đại học. Rất nhiều sinh viên thương mại và đã tốt nghiệp đang tìm kiếm môi trường làm việc thực tế và “Chúng tôi sẽ phỏng vấn năm người vào tuần tới.”
Sức mạnh của một thương hiệu tuyển dụng mạnh mẽ
Qua ví dụ về SuperAA, có thể thấy thương hiệu là một trong những công cụ hữu dụng nhất để thu hút ứng viên tìm việc. Theo chuyên gia về lãnh đạo và quản trị nhân sự đồng thời là nhà sáng lập của Corporate Dojo - Karen Gely, “một trong những yếu tố quan trọng của một doanh nghiệp là danh tiếng bền vững. Khi các ứng viên muốn được biết cảm nghĩ của các nhân viên về công việc, ta cần phải cung cấp cho họ những giá trị tích cực nhất của công việc. Điều đó sẽ truyền cảm hứng cho các ứng viên theo đuổi cơ hội nghề nghiệp tại công ty bạn.”
Theo bà Karen Gely, văn hóa nắm vai trò vô cùng quan trọng giúp xây dựng thương hiệu doanh nghiệp. Các ứng viên mong muốn nơi làm việc là một môi trường nơi bản thân được tôn trọng, được đối xử đúng mực, và lãnh đạo sẵn sàng đầu tư, tạo cơ hội để họ học tập và thăng tiến trong sự nghiệp.
Bà cho biết, trong một xã hội lý tưởng, “Khi bạn xây dựng được danh tiếng vững chắc, sẽ có người tự tìm tới bạn đề trao đổi về khả năng mở rộng hay cơ hội hợp tác ngay cả khi bạn là một doanh nghiệp nhỏ.”
Quyền hạn và cơ hội
Bên cạnh việc xây dựng chế độ lương, doanh nghiệp có thể dùng một số chiến lược khác để thu hút ứng viên. Theo Leah Lambart, chuyên gia hướng nghiệp và phỏng vấn đồng thời là nhà sáng lập của Relaunch Me, yếu tố công việc được quan tâm nhất là sự linh hoạt. Nhân viên luôn hi vọng sẽ có “một khoảng thời gian linh hoạt cho phép họ tham gia sự kiện ở trường hoặc đến một cuộc hẹn mà không phải cảm thấy quá tội lỗi”
Một số lợi ích khác hỗ trợ việc tìm kiếm nhân sự bao gồm kéo dài kỳ nghỉ phép hàng năm, khả năng làm việc tại nhà, thẻ tập gym hay dịch vụ trông trẻ. McHenry cho phép các sinh viên đại học ở SuperAA làm ít thời gian hơn để phù hợp với lịch học của họ. “Tốt nghiệp đại học mới là ưu tiên hàng đầu,” ông nói.
Học tập và phát triển cũng là một khía cạnh thu hút. McHenry triển khai một mô hình đào tạo hàng ngày cho các nhân viên kéo dài trong hai tuần.
“Với nội dung đào tạo mà chúng tôi thiết kế, họ sẽ sớm trở thành những chuyên gia trong việc tự quản lý các siêu quỹ trong vòng một đến một năm rưỡi,” ông chia sẻ. “Tôi sẽ tiếp tục đào tạo họ cho tới khi họ có đủ khả năng tự điều hành doanh nghiệp của riêng mình hay quản lý doanh nghiệp cho người khác.”
|
Mẹo thu hút nguồn nhân lực online 1. Đừng tự giới hạn mình trong một quảng cáo duy nhất Chủ tịch của Dojo – bà Karen Gately nói rằng đăng tải quảng cáo trên các kênh tìm việc truyền thống như SEEK rất hiệu quả, nhưng nó đồng nghĩa với việc “bạn sẽ nhận được rất nhiều đơn ứng tuyển không phù hợp.” 2. Xây dựng mục tiêu tiếp cận rõ ràng hơn Gately khuyến khích sử dụng các nền tảng như LinkedIn. Chia sẻ bài viết tới các nhóm quan tâm và tận dụng mạng lưới sẵn có của bạn để săn tìm các ứng viên phù hợp. 3. Sử dụng các phương tiện truyền thông để quảng bá văn hóa Sử dụng hình ảnh và video có nội dung hấp dẫn như ăn mừng chiến thắng, các hoạt động xã hội và các đặc quyền tại nơi làm việc. 4. Chú trọng các kết quả tìm kiếm online “Các công ty luôn mong muốn tìm một người nghiêm túc với công việc, và những người này thường có xu hướng nghiên cứu thông tin qua mạng,” Gately nói. Nếu kết quả hàng đầu họ tìm kiếm về bạn là một đánh giá tiêu cực trên Glassdoor, “nó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến quyết định của họ.” |
Trong 8 tháng đầu năm 2019, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Cục CT & BVNTD), Bộ Công Thương tiếp tục tiếp nhận và giải quyết số lượng lớn các phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Số lượng lớn phản ánh, khiếu nại
Số liệu tiếp nhận khiếu nại cho thấy, phương thức gửi qua email vẫn chiếm tỷ lệ cao tuyệt đối (354 vụ việc, chiếm 94% các vụ việc khiếu nại gửi tới Cục). Qua tổng hợp, phần lớn người tiêu dùng sử dụng phương thức gửi qua email là người dân có địa chỉ tại các tỉnh, thành phố lớn. Trong khi đó, 6% vụ việc còn lại gửi qua đường bưu điện đa số là do người dân có địa chỉ tại một số vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn gửi.
Cụ thể, thông qua Tổng đài tư vấn, hỗ trợ người tiêu dùng 1800.6838: Cục CT&BVNTD ghi nhận đã có 6.646 cuộc gọi đến, trong đó, các Tổng đài viên đã tiếp nhận và trả lời 3.706 cuộc gọi, chiếm tỷ lệ 55,76%. Cùng với đó, qua hệ thống email:
Đến hết ngày 31/8/2019, Cục CT&BVNTD đã hỗ trợ giải quyết thành công hoặc chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền để xử lý 360 vụ việc trong tổng số 375 vụ việc tiếp nhận (chiếm khoảng 96%). Số lượng khiếu nại còn lại đang được Cục phối hợp với các cơ quan liên quan, doanh nghiệp và người tiêu dùng để giải quyết.
Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nhóm hành vi bị khiếu nại là hành vi về Bảo vệ thông tin của người tiêu dùng. Nhóm hành vi này chiếm 36% tổng số khiếu nại tới Cục. Nội dung khiếu nại chủ yếu tập trung vào việc doanh nghiệp thu thập trái phép thông tin của người tiêu dùng, không ghi nhận yêu cầu chỉnh sửa thông tin của người tiêu dùng, dẫn tới việc tiếp tục sử dụng thông tin của người tiêu dùng vào các mục đích xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng.
Nhóm hành vi có tỷ lệ khiếu nại cao liên quan đến các nội dung về Giao kết hợp đồng, cụ thể: không tạo điều kiện để người tiêu dùng tìm hiểu và nghiên cứu nội dung hợp đồng trước khi ký; không tư vấn đầy đủ thông tin về hợp đồng trước khi ký; không gửi bản sao hợp đồng để người tiêu dùng lưu trữ sau khi ký; nội dung hợp đồng không đúng như nội dung tư vấn ban đầu… Nhóm hành vi này chiếm tỷ lệ 22% trong tổng số các khiếu nại gửi tới Cục.

Biểu đồ phân chia vụ việc khiếu nại theo hành vi
Nhóm tỷ lệ tiếp theo chiếm 16% tổng số khiếu nại liên quan đến hành vi Cung cấp thông tin. Theo đó, người tiêu dùng khiếu nại việc tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ, không thuận tiện…, dẫn đến người tiêu dùng khó khăn hoặc bị hiểu nhầm trong việc đưa ra quyết định mua bán, sử dụng dịch vụ.
Nhóm hành vi liên quan đến: số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng chiếm tỷ lệ cao tiếp theo là 12%. Các hành vi này chủ yếu liên quan đến việc giao hàng chậm, số lượng, chất lượng hàng không đúng như nội dung quảng cáo, trong đó, phần lớn giao dịch liên quan của người tiêu dùng được thực hiện thông qua các sàn thương mại điện tử hoặc qua các trang mạng xã hội.
Nhóm hành vi liên quan đến thực hiện Bảo hành chiếm 3% và 11% còn lại liên quan đến các nhóm hành vi khác.
Trong 8 tháng đầu năm 2019, ngành hàng bị khiếu nại nhiều nhất là “Tài chính, bảo hiểm, ngân hàng”(chiếm 40,37%). Sau đó là nhóm “Điện thoại, viễn thông” (chiếm 20,65%) và nhóm “Đồ điện tử gia dụng” (chiếm 9,38%).

Biểu đồ phân chia vụ việc khiếu nại theo ngành hàng, lĩnh vực
Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên nhóm hàng “Tài chính, bảo hiểm, ngân hàng” có tỷ lệ khiếu nại lớn hơn nhiều lần so với các nhóm hàng hóa, dịch vụ còn lại. Chủ thể liên quan trong nhóm hàng này bao gồm không chỉ các ngân hàng, công ty tài chính mà trong đó đã bắt đầu xuất hiện sự liên quan của nhiều mô hình tư vấn cho vay trực tuyến (cho vay ngang hàng – P2P lending). Các mô hình này hiện đang có sự phát triển mở rộng và gia tăng nhanh chóng cả về số lượng khách hàng và giá trị giải ngân, do vậy, kéo theo xu hướng gia tăng khiếu nại trong nhóm dịch vụ này.
Một số vụ việc điển hình
Trong thông tin gần đây nhất, Cục CT&BVNTD cũng đưa ra một số vụ việc khiếu nại điển hình diễn ra trong 8 tháng đầu năm để người tiêu dùng phòng tránh như: vụ việc mua hàng qua sàn thương mại điện tử (TMĐT).
Cụ thể, người tiêu dùng khiếu nại việc mua hàng trên sàn TMĐT nhưng khi nhận hàng không đúng như nội dung quảng cáo. Khi liên hệ, người tiêu dùng được sàn TMĐT giải thích giao dịch này nằm ngoài hệ thống của Lazada nên không được hưởng chính sách trả hàng - hoàn tiền. Người tiêu dùng rất bức xúc do trước đó đã có người liên hệ nói đúng tên, địa chỉ, số điện thoại, sản phẩm để thông báo giao hàng.
Vụ việc có dấu hiệu lừa đảo từ nhà bán hàng trên sàn TMĐT. Cụ thể, sau khi tiếp nhận đơn hàng, nhà bán hàng sẽ tự ý hủy đơn hàng, sau đó tự liên hệ với người tiêu dùng để giao một sản phẩm khác. Sàn TMĐT cho biết, trong những trường hợp trên, mã đơn hàng giao đến người tiêu dùng không giống với mã đơn hàng trên Sàn TMĐT, đơn vị vận chuyển cũng không phải đơn vị vân chuyển liên kết của Sàn TMĐT.
Trước trường hợp này, Cục CT&BVNTD khuyến cáo người tiêu dùng, chỉ nhận hàng khi trạng thái đơn hàng trên trang web là "đang giao hàng", không nhận hàng khi trạng thái đơn hàng là "đã hủy", "đang lấy hàng"...; Mã đơn hàng trên gói hàng phải khớp với mã đơn hàng trên trang web/email xác nhận đặt hàng; Phải kiểm tra xem đơn vị vận chuyển có đúng là đơn vị được sàn thương mại điện tử liên kết hay không; Kiểm tra xem hình ảnh vận đơn trên kiện hàng có đúng mẫu do sàn thương mại điện tử phát hành hay không.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng cần lưu ý xem xét kỹ nhà bán hàng trước khi đặt mua (các phản hồi của người mua trước; cửa hàng tư vấn tận tình, không hối thúc; giá cả không quá thấp so với thị trường...
Ngoài ra, hiện nay một số công ty tài chính, công ty cầm đồ có liên kết với công ty tư vấn dịch vụ kết nối. Người tiêu dùng không đi vay nợ nhưng liên tục bị gọi điện thoại, nhắn tin để quấy rối, đe dọa, ép buộc trả nợ mặc dù người tiêu dùng đã nhiều lần thông báo về việc không liên quan đến khoản nợ của doanh nghiệp. Một số vụ việc, đối tượng sử dụng hình ảnh, thông tin liên hệ của người tiêu dùng, của người thân của người tiêu dùng để đăng tải công khai trên các mạng xã hội với nội dung xuyên tạc, bịa đặt nhằm gây áp lực trả nợ cho người tiêu dùng.
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, có một số vụ việc người tiêu dùng thực hiện giao dịch tại các trang web cho vay trực tuyến, đã thanh toán xong khoản vay nhưng sau một thời gian bị nhiều đối tượng liên hệ để đe dọa, gây áp lực trả tiếp khoản vay đã trả.
Cục khuyến cáo, người dân ưu tiên thực hiện giao dịch vay tại các công ty tài chính, ngân hàng đã được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực cho vay bởi Ngân hàng nhà nước. Trường hợp cần thiết khi thực hiện vay tại các mô hình cho vay trực tuyến thì nên lựa chọn các công ty có website cụ thể, thông tin rõ ràng, đầy đủ (địa chỉ công ty, số điện thoại, email liên hệ…).
Hiện có một số công ty sử dụng địa chỉ giả, địa chỉ tại nước ngoài, số điện thoại liên hệ thu cước đắt (5.000đ/phút) …nhằm gây khó khăn cho người tiêu dùng trong quá trình liên hệ. Và phải tham khảo các thông tin trên mạng Internet, hỏi người thân, bạn bè để có thêm thông tin tham khảo về công ty cung cấp dịch vụ. Khi thực hiện vay, cần lưu ý việc yêu cầu cung cấp hợp đồng để tìm hiểu trước khi ký và lưu trữ sau khi ký kết.
Trong lĩnh vực du lịch, hiện nay có trường hợp người tiêu dùng khiếu nại công ty đu lịch không ký kết hợp đồng tour với người tiêu dùng dù người tiêu dùng yêu cầu từ ban đầu. Công ty cam kết đã hoàn thiện xong mọi thủ tục liên quan đến visa cho khách hợp pháp để nhập cảnh vào nước du lịch để người tiêu dùng nộp đủ 100% phí tour. Tuy nhiên, 1 ngày trước giờ khởi hành, công ty thông báo visa của 1/2 thành viên trong đoàn không được cấp do yếu tố an ninh và yêu cầu khách còn lại bắt buộc phải đi theo lịch trình đã đăng ký ban đầu. Với trường hợp người tiêu dùng bị từ chối cấp visa, Công ty chỉ hoàn tiền visa chứ không hoàn tiền chi phí tour. Với những trường hợp này, sau khi có khiếu nại, Cục đã vào cuộc xem xét giải quyết và công ty đã phải đồng ý bồi hoàn 100% chi phí tour của cả 2 khách.
Tuy nhiên, từ đó Cục CT&NTD cũng khuyến nghị người tiêu dùng phải đề nghị ký hợp đồng với các điều khoản chi tiết để ràng buộc trách nhiệm các bên, đồng thời, có căn cứ khi giải quyết tranh chấp phát sinh. Và lựa chọn công ty tổ chức tour du lịch uy tín, có năng lực và kinh nghiệm.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Điều gì khiến các doanh nghiệp địa ốc vẫn sẵn sàng đưa dự án condotel trở thành mục tiêu trong hoạt động kinh doanh của mình, bất chấp thị trường đang được đánh giá có nhiều dấu hiệu sụt giảm?
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Long đong vì tròng cổ pháp lý
Bùng nổ trong năm 2014 – 2015, condotel đã trở thành từ khóa “hot” trên thị trường bất động sản khi hội tụ đầy đủ những ưu điểm của một căn hộ khách sạn tiện ích. Chưa kể, với cách thức giao dịch, cam kết lợi nhuận hời từ chủ đầu tư, condotel được khách hàng đặc biệt quan tâm. Ở thời điểm đó, khi khoản cam kết lên tới 12% thì rõ ràng, khoản tiền mà khách bỏ ra đầu tư sẽ sở hữu một mức độ rủi ro lỗ quá nhỏ, lãi là điều dễ dàng.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, thị trường condotel đang được nhận định giảm nhiệt mạnh mẽ trong cuối năm 2018, đầu năm 2019. Thống kê của Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam cho thấy, tổng 6 tháng đầu năm, nguồn cung trên thị trường này đạt mức 11.855, lượng giao dịch đạt 2.967 căn, tính hấp thụ chỉ đạt trên 25,02% - mức được đánh giá là thấp đối với một thị trường từng bùng nổ trong năm 2017.
Nguyên nhân chính mà giới quan sát cho rằng đã khiến thị trường condotel ảm đạm đến từ “tròng cổ” pháp lý. Đã hơn 4 năm đi vào thực tiễn, đứa con lai này vẫn “vô thừa nhận”, chưa nằm trong bất kỳ một hệ thống văn bản pháp luật nào. Như chia sẻ của ông Nguyễn Văn Đính - Tổng thư ký Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam với báo giới: “Vẫn là câu chuyện thiếu niềm tin pháp lý. Hiện pháp lý cho condotel vẫn chưa đầy đủ, rõ ràng khiến các nhà đầu tư còn e ngại”.
Tuy nhiên, bất chấp các báo cáo số liệu về thị trường condotel đi xuống hay những nhận định về tương lai “mịt mờ” của dòng sản phẩm này, nhiều doanh nghiệp địa ốc vẫn coi đây là “bàn đạp chiến lược” đầy hứa hẹn cho mình.
Mới đây nhất, Vinaconex đã ra thông báo về việc sẽ xây dựng dự án condotel resort trên mảnh đất đấu giá rộng 93,800m2 tại Phú Yên. Cụ thể, Vinaconex dự tính sẽ xây dựng khu condotel: 7 tầng có chiều cao 22,4 m, diện tích xây dựng 10.000 m2, diện tích sàn xây dựng 70.000 m2.
Đặc biệt, thay vì chờ đợi tính pháp lý của căn hộ, “đại gia” địa ốc Apec Group đã nhanh chóng định hình thương hiệu của mình gắn liền với căn hộ khách sạn. Dù là “tân binh” mới, song số lượng dự án condotel mà doanh nghiệp này tung ra thị trường với tốc độ nhanh đến bất ngờ. Chỉ tính riêng 4 dự án đã công bố tại Bình Thuận, Phú Yên, Ninh Thuận, Huế của Apec Group mới đây, số lượng nguồn cung condotel đã lên tới 10.000 căn hộ. Dự kiến, doanh nghiệp này đặt mục tiêu 100.000 căn condotel trên thị trường.
“Bất động sản du lịch với 1 số sản phẩm như condotel, biệt thự nghỉ dưỡng vẫn chắc chắn thu hút và còn nhiều tiềm năng nhưng sẽ xuất hiện xu hướng đầu tư an toàn và cẩn thận hơn. Địa điểm phát triển bất động sản du lịch nghỉ dưỡng sẽ phong phú hơn, đặc biệt ở các tỉnh có nhiều tiềm năng”.
Ông Nguyễn Mạnh Khởi, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng
Vì sao doanh nghiệp địa ốc vẫn mặn mà với condotel?
Dù đến thời điểm hiện tại, tính pháp lý của condotel vẫn chưa rõ ràng. Song, giới đầu tư vẫn nhận định rằng, điều này không thể cản được sức hấp dẫn của dòng sản phẩm này với doanh nghiệp địa ốc. Kể cả trong trường hợp, condotel không được cấp giấy phép chứng nhận lâu dài thì tiềm năng của loại hình này vẫn lớn.
Thứ nhất, giới đầu tư cho rằng, đầu tư vào bất động sản nghỉ dưỡng vẫn luôn là con đường “trải hoa hồng” với doanh nghiệp. Tốc độ phát triển du lịch của Việt Nam hiện nay đang trên đà tăng trưởng. Mức sống của người dân và xu hướng nghỉ dưỡng luôn tỷ lệ thuận cùng nhau. Thế nên, bất động sản nghỉ dưỡng vẫn là điểm sáng đầy hứa hẹn trong bức tranh chung về thị trường.
Thứ hai, dù là một loại hình chưa rõ ràng về tính pháp lý nhưng condotel vẫn là dòng sản phẩm hiện đại, hội tụ nhiều tiện ích, phù hợp với thị hiếu. Mang phong cách của loại hình căn hộ chung cư, condotel thích hợp cho khách hàng có nhu cầu trải nghiệm trong không gian vừa gần gũi vừa hiện đại. Đặc biệt, việc tích hợp từ 1-3 phòng ngủ, bếp, phòng khách là xu hướng mà nhiều khách hàng lựa chọn cho cả gia đình.
Thế nên, dù bỏ vốn vào lĩnh vực được cho là đang bị ảm đạm nhưng đánh giá từ giới quan sát, condotel vẫn là loại hình hấp dẫn.
Chưa kể, nếu lượng nhà đầu tư không mạnh dạn bỏ vốn thì ngay cả doanh nghiệp địa ốc vẫn thu lời được từ quá trình hoạt động của dự án condotel khi đi vào thực tế. Bên cạnh đó, tiêu chí đánh giá tiềm năng sinh lời của condotel sẽ phụ thuộc lớn vào vị trí của dự án này trong khu nghỉ dưỡng mà yếu tố pháp lý đã không còn quá “nặng nề”.
Trở lại với vấn đề hợp tác giữa doanh nghiệp địa ốc và khách hàng là nhà đầu tư, giờ đây, việc thuận mua vừa bán từ việc nhận thấy tiềm năng khai thác từ nghỉ dưỡng của căn hộ condotel thì không ít khách hàng chấp nhận bỏ vốn cho một sản phẩm không đủ điều kiện pháp lý thế chấp. Và dù cho hợp đồng mua bán giữa khách hàng và chủ đầu tư chỉ là mối quan hệ về mặt hợp đồng dần sự. Đúng như ông Hán Công Khanh, Phó Tổng giám đốc Apec Group chia sẻ, khi khách hàng hiểu về bản chất pháp lý của dự án, chủ đầu tư rõ ràng minh bạch thì việc tiến tới kí kết hợp đồng sẽ dễ dàng.
Cũng theo ông Nguyễn Mạnh Khởi, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản nhận định, “Bất động sản du lịch với 1 số sản phẩm như condotel, biệt thự nghỉ dưỡng vẫn chắc chắn thu hút và còn nhiều tiềm năng nhưng sẽ xuất hiện xu hướng đầu tư an toàn và cẩn thận hơn. Địa điểm phát triển bất động sản du lịch nghỉ dưỡng sẽ phong phú hơn, đặc biệt ở các tỉnh có nhiều tiềm năng”.
Ngân hàng Nhà nước có nhiều động thái “siết” dòng tín dụng vào bất động sản, nhưng nhiều ngân hàng vẫn đang duy trì mức tăng trưởng bình quân trên 10% so với đầu năm.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ngân hàng áp hệ số rủi ro 200% với cho vay đầu tư, kinh doanh BĐS
Cùng với chứng khoán, bất động sản (BĐS) được xếp vào nhóm lĩnh vực cho vay tiềm ẩn nhiều rủi ro với các ngân hàng. Vì vậy, trong nhiều quyết sách, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) luôn yêu cầu kiểm soát chặt tín dụng cho vay trong những lĩnh vực này.
Tỷ lệ giảm dần
Tín dụng BĐS từng chiếm tỷ trọng rất cao trong danh mục của các ngân hàng, đặc biệt là giai đoạn 2007-2008 với tỷ lệ trên 30%. Tuy nhiên, qua nhiều hệ lụy từ việc quá phụ thuộc vào tín dụng BĐS, các ngân hàng hiện nay đã giảm tỷ lệ này về mức phổ biến 7 – 10%.
Theo báo cáo tài chính của quý II/2019 của VPBank, 6 tháng đầu năm, dư nợ cho vay BĐS khá lớn: 48.472 tỷ đồng. Sacombank cũng có số dư cho vay lĩnh vực BĐS (bao gồm cả cho vay cá nhân mua BĐS) đạt 30.853 tỷ đồng. Báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm của Techcombank cho thấy dư nợ cho vay kinh doanh BĐS đạt mức 26.723 tỷ đồng.
Bên cạnh một số ngân hàng có dư nợ cho vay BĐS lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng, ở nhóm các ngân hàng có quy mô nhỏ, dư nợ cho vay khá thấp như tại NamABank chỉ là 4.658 tỷ đồng.
Ông Phạm Duy Hiếu, quyền Tổng giám đốc ABBank, cũng cho biết cho vay khách hàng đến cuối tháng 6 của ngân hàng này ở mức 49.564 tỷ đồng, thấp hơn 5% so với đầu năm. Trong khi đó, kế hoạch đề ra từ đầu năm là dư nợ tăng 17%. Nguyên nhân là do xuất phát từ định hướng phát triển bền vững, ABBank thực hiện tăng cường rà soát, thẩm định kỹ hơn đối với các hồ sơ vay để đảm bảo cho vay kịp thời và đúng mục đích, nhu cầu của khách hàng, đồng thời đảm bảo tính an toàn cho hệ thống và chủ trương hỗ trợ cho vay phục vụ nhu cầu mua nhà để ở, siết chặt hơn đối với vay đầu cơ BĐS.
Số liệu từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho thấy đến cuối tháng 6, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực BĐS đạt gần 1,4 triệu tỷ đồng, tăng 6,5% so với cuối năm 2018, trong đó tín dụng kinh doanh BĐS là 473,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5%; tín dụng tiêu dùng BĐS là 919,6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,4%.
Dù dư nợ cho vay BĐS của toàn ngành đã giảm mạnh so với trước đây, song theo đánh giá của các chuyên gia, mức tăng trưởng dư nợ cho vay BĐS ở các ngân hàng hiện nay chỉ nên duy trì ở mức 5-7% để ngân hàng có thể sàng lọc những dự án tốt, chủ đầu tư dự án cho vay có khả năng tài chính, chọn dự án có vị trí đắc địa, cơ sở hạ tầng đầy đủ; chọn khu vực và dự án được thiết kế và xây dựng phù hợp với phong cách quốc tế; chọn các dự án đang được thiết kế và xây dựng theo mô hình thành phố thông minh. Chỉ có như vậy mới giảm thiểu được rủi ro.
“Liều thuốc độc” cho giới đầu cơ
Có thể thấy việc siết tín dụng BĐS mới bắt đầu manh nha vào năm 2018. Tuy nhiên, từ đầu năm 2019, cơ quan quản lý liên tục có những động thái mạnh mẽ hơn, không chỉ ban hành các văn bản nhắc nhở, mà đã có sự điều chỉnh về mặt chính sách như giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, giới hạn cho vay với một khách hàng không quá 15% vốn tự có, điều chỉnh hệ số rủi ro cho vay BĐS nhằm giảm nguồn cung vốn tín dụng cho lĩnh vực BĐS.
Bản thân các ngân hàng thương mại cũng phải áp hệ số rủi ro 50% với cho vay đảm bảo bằng nhà ở, quyền sử dụng đất; 200% với cho vay đầu tư, kinh doanh BĐS (theo Thông tư 36) và hệ số này còn tăng lên cao hơn nữa trong dự thảo thông tư thay thế.
TS. Đinh Thế Hiển, chuyên gia kinh tế, cho rằng việc NHNN siết tăng trưởng tín dụng là hợp lý, bởi tín dụng bị siết lại, cộng với lãi suất tăng thì chắc chắn đó là “liều thuốc độc” cho giới kinh doanh đầu cơ BĐS.
Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia ngân hàng, cho hay: “NHNN rất có lý khi có những kiến nghị này. Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn có thể sẽ được rút 40-45% hiện nay xuống còn khoảng 35%. Đây là điều hợp lý vì các nước trên thế giới hiện nay chỉ dùng nguốn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn khoảng 25%”.
Theo ông Hiếu, trong khoảng 5-10 năm nữa, Việt Nam nên đưa tỷ lệ này xuống 30% hoặc, thậm chí 25% khi kinh tế ổn định.
Tuy vậy, việc siết tín dụng đổ vào BĐS không đồng nghĩa với việc cấm. Ông Nguyễn Quốc Hùng, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, nhấn mạnh: “Các tổ chức tín dụng không thiếu vốn và cũng không dừng cho vay BĐS, mà sẽ chỉ cho vay những chủ đầu tư đủ điều kiện, đáp ứng hồ sơ, thủ tục… Chủ đầu tư có đất sạch, có khả năng sinh lợi nhuận thì ngân hàng sẵn sàng cho vay”.
Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử (TMĐT) hứa hẹn đem đến nhiều cơ hội cho hoạt động XK hàng hóa của các DN.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Cơ hội thúc đẩy xuất khẩu
Ông Phạm Thiết Hòa, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TPHCM (ITPC) cho biết, Việt Nam có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế số và được đánh giá là nước có tốc độ phát triển kinh tế số khá trong khu vực ASEAN.
Theo thống kê của Nielsen Việt Nam và Tập đoàn Miniwatts Marketing, 85% dân số Việt Nam đang sử dụng Internet, xếp thứ 13 trong 20 quốc gia có số dân sử dụng Internet đông nhất thế giới. Người tiêu dùng Việt Nam dành bình quân 7 tiếng một ngày cho hoạt động trực tuyến. 90% dân số ở thành thị và 50% dân số ở nông thôn dùng điện thoại thông minh. Doanh thu TMĐT năm 2018 đạt khoảng 8 tỷ USD, tăng hơn 30% so với năm 2017. Việt Nam đang nằm trong top 3 thị trường TMĐT tăng trưởng nhanh nhất thế giới sau Thái Lan và Singapore. Với tốc độ tăng trưởng khoảng 30%/năm, dự báo đến năm 2020 doanh thu TMĐT tại Việt Nam sẽ đạt khoảng 15 tỷ USD.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT và kinh tế số, ông Nguyễn Huy Hoàng, Giám đốc thương mại Công ty nghiên cứu thị trường Kantar Worldpanel cho rằng, TMĐT đang là một trong 3 động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng hoạt động XK ở Việt Nam. Trong đó, thị trường châu Á được đánh giá là có nhiều tiềm năng cho các hoạt động XK thông qua TMĐT với hơn 60% dân số thế giới và là khu vực ưu tiên cho di động với lượng người dùng tương tác cao với điện thoại di động hơn các khu vực khác. Châu Á đang được xem là cái nôi phát triển TMĐT hiện nay và sẽ còn tiếp tục tăng tốc. Với xu hướng mua sắm đa kênh, các DN cần nghiên cứu tăng cường phối hợp giữa các mô hình truyền thống và trực tuyến để khai thác thị trường tiềm năng này.
Trên thực tế thời gian qua, TMĐT đã giúp nhiều DN Việt mở rộng hoạt động XK ra thị trường nước ngoài. Điển hình, thông qua TMĐT, Công ty XNK đồ mỹ nghệ Love Nature đã XK được sản phẩm không chỉ sang các thị trường Đông Nam Á mà còn sang thị trường châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ...
Ông Trần Tấn Thiện, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Cà phê Hello5 cũng cho biết, các đây 7 năm sản phẩm cà phê Hello5 đã vào được thị trường Mỹ thông qua kênh phân phối của Amazon. Khi chương trình của Amazon Global Seliing tiếp cận thị trường Việt Nam, công ty đã bắt đầu xuất khẩu hàng qua Mỹ. Sau một thời gian doanh số bán hàng bắt đầu tăng lên, hiện nay hầu như ngày nào Công ty cũng nhận được thông báo từ Amazon về việc triển khai bán hàng.
Thận trọng rủi ro trong giao dịch
Theo ông Trần Tấn Thiện, TMĐT phát triển mạnh mang lại nhiều thuận lợi cho hoạt động XK của các DN nhưng cũng có thêm các rủi ro. Theo đó, các DN nên nắm chắc đối tác, tổ chức đó có uy tín hay không. Chẳng hạn mỗi ngày DN nhận nhiều tin nhắn, email từ các nguồn khác nhau. Tuy nhiên, cũng có tin giả mạo, hay có những nick ảo tạo nên để lấy like, câu view… DN phải luôn luôn phòng ngừa. Nếu không yên tâm tốt nhất DN nên kiểm tra lại, không an toàn thì loại bỏ.
Theo ông Châu Việt Bắc, Phó Tổng thư ký Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và đặc biệt là mạng Internet, các DN Việt Nam đã và đang sử dụng Internet rất nhiều và phổ biến để giao kết hợp đồng, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Theo thống kê của Cục TMĐT và Kinh tế số (Bộ Công Thương) năm 2018, đã có 28% số DN thực hiện giao dịch TMĐT.
Liên quan đến những bất lợi trong TMĐT, ông Châu Việt Bắc cho biết, giao dịch thông qua công cụ điện tử, đảm bảo các thông tin được lưu trữ tự động, tiết kiệm thời gian, chi phí vận chuyển chứng từ, văn bản giữa các bên. Tuy nhiên, bất lợi là không kiểm soát được về tính chính xác của các công cụ trao đổi: email, fax…, không kiểm soát được về thẩm quyền của người làm việc qua các công cụ trao đổi nên dễ phát sinh rủi ro trong giao dịch.
Hiện nay, chứng cứ điện tử hầu như được chấp nhận tại tòa án và trọng tài và đang trở thành xu hướng phổ biến. VIAC trong 26 năm hoạt động cũng đi theo tiến trình công nghệ số, thực hiện giải quyết các tranh chấp các vụ việc có hệ quả phát sinh từ yếu tố điện tử như chứng từ, giao dịch email,… xây dựng tiến trình quản lý giải quyết tranh chấp bằng công cụ điện tử; áp dụng việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức online.
“Giá trị pháp lý của hợp đồng, chứng từ điện tử không bị phủ nhận ở hầu hết quy định của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, khi thực hiện giao dịch có yếu tố “số hóa” thì phải áp dụng công cụ số an toàn trong quá trình thực hiện hợp đồng, những giao dịch bắt buộc phải thực hiện thông qua văn bản nhằm đảm bảo yêu cầu về chứng cứ chứng minh. Mặc dù sự phát triển theo xu hướng kinh tế số là cần thiết, nhưng yếu tố về chứng cứ bằng văn bản cần được chú trọng nhằm hạn chế những rủi ro và yếu thế khi phát sinh tranh chấp”, ông Châu Việt Bắc khuyến cáo.
Page 14 of 17