Mặc dù giá vàng thế giới có nhích tăng nhẹ, nhưng giá vàng trong nước vẫn giữ nguyên hoặc tiếp tục giảm nhẹ. Như vậy, từ cuối tuần trước đến nay, giá vàng vẫn trên đà giảm.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Cụ thể, lúc 9 gờ sáng ngày 9/9 (theo giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 1.509 USD/ounce, tăng 5 USD/ounce so với đầu giờ sáng qua.
Giá vàng giảm trong bối cảnh có những thông tin tương đối khả quan về cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung cùng tình hình nhiều khu vực khác trên thế giới. Đặc biệt, thông tin từ Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cho rằng triển vọng nền kinh tế là tích cực trên cơ sở báo cáo việc làm được cải thiện cũng đã và đang hỗ trợ tích cực giá vàng.
Tuy nhiên, nhận định về triển vọng của giá vàng, các nhà đầu tư cho rằng, vàng vẫn có thể biến động giá khi có nhiều cơ hội trợ lực cho kim loại quý này đi lên, đặc biệt là thông tin kinh tế thế giới và lãi suất toàn cầu có thể giảm thấp.
Tại thị trường trong nước, giá vàng vẫn đang tiếp tục giảm và ngày càng rời ra mốc 43 triệu đồng/lượng.
Trong phiên giao dịch đầu giờ sáng 9/9, Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 42 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,35 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 50.000 đồng/lượng chiều mua và chiều bán so với giá đóng cửa hôm qua.
Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 42,03 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,42 triệu đồng/lượng (bán ra), cũng giảm 50.000 đồng/lượng ở chiều mua và 510.000 đồng/lượng ở chiều bán ra so với chốt phiên hôm qua.
Giá vàng miếng SJC được niêm yết tại Tập đoàn vàng bạc đá quý Phú Quý ở mức 42,05 triệu đồng/lượng (mua vào) – 42,40 triệu đồng/lượng (bán ra), không đổi ở cả hai chiều so với phiên giao dịch ngày 8/9.
Quy đổi theo tỷ giá ngoại tệ hiện nay, giá vàng trong nước và giá vàng thế giới đang chênh lệch khoảng 150.000 đồng/lượng.
Trên thị trường tiền tệ, chỉ số USD Index đo lường sức mạnh của đồng USD với 6 loại tiền tệ chủ chốt thế giới ở mức 98,40 điểm, tăng nhẹ so với phiên liền trước.
Trong nước, giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động nhẹ. Cụ thể, tại Vietcombank, giá USD niêm yết ở mức 23.140 – 23.260 VND/USD (mua vào - bán ra), không đổi so với cuối tuần qua.
Tại Techcombank, giá đồng bạc xanh loại mệnh giá trên 50 USD niêm yết ở mức 23.124 – 23.264 VND/USD (mua vào - bán ra), cũng không đổi ở cả chiều mua và chiều bán so với cùng thời điểm ngày 6/9.
Tỷ giá trung tâm giữa đồng VND và USD ngày 9/9 được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 23.132 VND/USD, giảm 6 đồng so với ngày 6/9.
Đáng chú ý, giá đồng Nhân dân tệ (CNY) lại đang có chiều hướng giảm so với đồng USD, dù USD vẫn ở mức cao. Trong 1 tuần qua, giá đồng Nhân dân tệ so với USD đã giảm khá mạnh, từ mức cao 7,18 CNY/USD vào đầu tháng 9 xuống còn 7,12 CNY/USD trong sáng 9/9.
Vì thế, tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, giá Nhân dân tệ đã tăng từ 13-15 đồng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước. Tiêu biểu như BIDV niêm yết đồng Nhân dân tệ ở mức 3.219 - 3.303 VND/NDT (mua vào - bán ra), tăng 15 đồng ở chiều mua và 13 đồng ở chiều bán so với cuối tuần qua.
Dự thảo Đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (XNK) đang được Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) lấy ý kiến góp ý của các bộ, ngành, địa phương và cục hải quan các tỉnh, thành phố. Những đề xuất được đưa vào dự thảo xuất phát từ thực tế hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK tại Việt Nam, đồng thời dựa trên kinh nghiệm của các nước trên thế giới.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo đại diện Cục Giám sát quản lý về hải quan, để xây dựng dự thảo Đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử, bên cạnh việc nghiên cứu tình hình, đặc thù tại Việt Nam, ban soạn thảo cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tại nhiều nước trên thế giới, qua đó, kiến nghị mô hình và giải pháp quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK tại Việt Nam.
Theo đánh giá của ban soạn thảo, sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử đã tạo nên thách thức trong hoạt động quản lý hải quan cả ở những quốc gia có nền kinh tế đã phát triển và đang phát triển. Cơ quan Hải quan ở mỗi quốc gia đều phải nghiên cứu và phát triển một cách tiếp cận mới để đảm bảo hoạt động quản lý hải quan và tạo thuận lợi cho việc giao thương. Về căn bản, hàng hóa tại biên giới sẽ chịu sự kiểm tra của cơ quan Hải quan khi có yêu cầu, dù hàng hóa có được mua bán thông qua giao dịch điện tử hay không. Tuy nhiên, một vài quốc gia phát triển có những chính sách hỗ trợ thông quan để tạo thuận lợi cho giao dịch điện tử và kiểm soát chặt chẽ hàng hóa giao dịch điện tử xuyên biên giới.
Chẳng hạn, tại Trung Quốc, hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới hoạt động theo hai hình thức: Nhập kho ngoại quan (hàng đến trước, đơn hàng đến sau) và NK mua hàng trực tiếp. Với phương thức nhập khẩu ngoại quan, một lượng hàng lớn được NK và lưu giữ tại khu vực được hải quan giám sát trong địa phận Trung Quốc (kho ngoại quan, cảng ngoại quan, trung tâm logictics). Hàng hóa này phải được Cục Thanh tra và quản lý chất lượng hàng hóa xuất-nhập phê duyệt (công nhận) về chất lượng sản phẩm đối với hàng hóa phải kiểm tra về chất lượng sản phẩm hàng hóa.
Sau khi khách hàng đặt hàng trên sàn thương mại điện tử, website thương mại điện tử bán hàng có kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống cơ quan Hải quan; sàn thương mại điện tử, website thương mại điện tử bán hàng sẽ tiến hành khai báo theo thời gian thực với cơ quan Hải quan các thông tin về đơn hàng, tình trạng thanh toán, việc vận chuyển hàng hóa, thực hiện thủ tục thông quan cho hàng hóa. Cơ quan Hải quan kiểm tra từng đơn hàng cụ thể, hàng hóa được thông quan và vận chuyển đến khách hàng.
Ưu điểm của phương thức này là thời gian giao hàng nhanh nhưng nhược điểm là các DN phải lưu giữ lượng hàng hóa lớn tại khu vực giám sát hải quan. Do vậy, chủng loại, số lượng hàng hóa thường nhỏ, chỉ tập trung vào một số mặt hàng đang được người tiêu dùng có nhu cầu sử dụng cao.
Với hình thức NK mua hàng trực tiếp, đơn hàng có trước, hàng được vận chuyển về Trung Quốc sau. Sau khi khách hàng đặt hàng tại các sàn thương mại điện tử, website thương mại điện tử có kết nối chia sẻ dữ liệu với cơ quan Hải quan về thông tin đơn hàng, tình trạng thanh toán, việc vận chuyển hàng hóa theo thời gian thực khi khách hàng mua hàng hóa. Hàng hóa được xuất hàng từ kho hàng tại nước ngoài và được vận chuyển đến khu vực riêng đối với hàng thương mại điện tử được kiểm soát bởi cơ quan Hải quan bằng dịch vụ chuyển phát nhanh. Sau khi hoàn tất thủ tục thông quan, giám sát kiểm định hàng hóa được đưa đến tay khách hàng. Hàng hóa thực hiện NK mua hàng trực tiếp phong phú về chủng loại hàng hóa, tuy nhiên, thời gian từ khi khách đặt hàng đến khi người mua nhận được hàng thường mất nhiều thời gian hơn, chi phí vận chuyển, kiểm định cho việc hàng hóa đến tay người mua cũng cao hơn.
Tại Indonesia, việc kiểm soát của cơ quan Hải quan đối với hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử được thực hiện theo hai cách: Đối với hàng hóa mua bán qua sàn giao dịch thương mại điện tử (như Lazada, Tokopedia) có trị giá dưới 1.500 USD, khi đó cơ quan Hải quan tiếp nhận tờ khai hải quan từ các DN bưu chính, thực hiện thu thuế thông qua nền tảng điện tử Marketplace. Đối với hàng hóa giao dịch thương mại điện tử gửi kho ngoại quan, không có định mức miễn thuế mà áp dụng mức thuế suất là 7,5% đối với hàng trị giá dưới 1.500 USD và trên 1.500 USD thì áp thuế MFN, đồng thời được chậm nộp thuế trong 3 năm.
Tại Hàn Quốc, hàng hóa giao dịch của phương thức điện tử chiếm tỷ trọng 70% trên tổng số hàng hóa chuyển phát nhanh tại Hàn Quốc. Do đó, Hàn Quốc đã có những chính sách hỗ trợ thông quan để tạo thuận lợi cho giao dịch điện tử, như: Thành lập trung tâm lưu thông hàng hóa chuyển phát nhanh nhằm quản lý nhanh chóng và chặt chẽ khối lượng hàng hóa qua giao dịch điện tử đang có xu hướng gia tăng mỗi năm; tăng cường nhân lực quản lý thông quan hàng chuyển phát nhanh; vận hành thử nghiệm Cơ chế thông quan thông minh từ tháng 7/2017. Đây là cơ chế xử lý kiểm tra nhất quán bằng điện tử đối với các hàng hóa không có tính rủi ro trong số các hàng hóa giao dịch điện tử. Áp dụng cơ chế cho phép “miễn kiểm”, “miễn xác minh điều kiện” trong số những hàng hóa giao dịch điện tử có trị giá hàng hóa (giá trước thuế) dưới 2.000 USD. Bên cạnh đó, Hàn Quốc đang tiến hành cải thiện việc kiểm tra hàng NK thông qua thiết bị phân loại tự động, chọn lọc theo khu vực để kiểm tra. Đồng thời, hệ thống vận chuyển được cải thiện để sau khi hàng hóa được giải phóng, bưu điện sẽ tiếp nhận hàng và nhanh chóng chuyển qua khâu giao hàng nội địa.
Tại Nhật Bản, đối với hàng hóa được mua bán qua thương mại điện tử, Hải quan Nhật Bản vẫn tiến hành các quy trình kiểm tra, giám sát hải quan như đối với hàng hóa thông thường. Ngoài ra, gần đây nước này đã phát triển và tiến hành một hệ thống quản lý chọn lọc trước khi hàng đến đối với hàng hóa là bưu phẩm, hàng chuyển phát nhanh. Hiện tại đã có 5 quốc gia đồng ý cung cấp dữ liệu trước khi hàng đến cho Nhật Bản và Hải quan Nhật Bản tận dụng nguồn thông tin đó trong kiểm tra giám sát hàng hóa qua biên giới.
| Liên quan đến việc xây dựng Đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK, trong tháng 9/2019, Tổng cục Hải quan tổ chức một loạt hoạt động hội thảo, làm việc tập trung để lấy ý kiến của cộng đồng DN, bộ, ngành và chuyên gia về dự thảo Đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XK, NK; dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án; dự thảo Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án và dự thảo Nghị định quy định về quản lý hoạt động thương mại điện tử qua biên giới trong lĩnh vực hải quan. Liên quan đến vấn đề này, ngày 19/9, Báo Hải quan sẽ tổ chức buổi Tọa đàm: “Quản lý hải quan đối với hoạt động thương mại điện tử”. |
Kế toán viên luôn được yêu cầu phải trang bị cho mình những kỹ năng tạo ra ảnh hưởng, nhưng làm thế nào để đạt được những kỹ năng đó? Câu trả lời sẽ có trong bài viết dưới đây.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Các từ ngữ như “sự ảnh hưởng”, “giao tiếp” hay “cảm xúc” có lẽ thường không xuất hiện trong công việc hàng ngày của đa phần những người làm kế toán quản trị.
Tuy nhiên, bộ kỹ năng trên đang ngày càng trở nên phổ biến, trở thành những tiêu chuẩn mà nhiều doanh nghiệp yêu cầu những người đang thực hiện công tác quản trị, các công việc tài chính kế toán phức tạp cần phải có.
Chuyên gia tư vấn quản lý, chuyên gia đào tạo, người dẫn chương trình - Paddy Spruce giải thích rằng nhiều CPA cần bổ sung thêm những kỹ năng mềm vào năng lực chuyên môn của mình.
Trau dồi kỹ năng mềm
Các kỹ năng này đặc biệt quan trọng đối với những kế toán viên khi làm việc với các bộ phận khác của doanh nghiệp bởi họ là người giải thích các vấn đề tài chính, bàn bạc về việc phân bổ tài nguyên và vốn. Ông nhấn mạnh rằng kế toán viên cần biết kết nối mọi người cả về mặt cảm xúc.
Ông Spruce cho biết: “Các kế toán viên thường có nhiều kỹ năng chuyên môn, họ được đào tạo bài bản, họ hiểu ngôn ngữ của những con số nhưng lại thất bại trong việc xúc tiến công việc”.
“Họ đơn giản chỉ nói ‘Đây là thông tin anh cần’ và bàn giao lại cho cấp trên, tuy nhiên người cấp trên ấy liệu có dùng tới những thông tin này hay không phụ thuộc vào việc anh ta thấy nó quan trọng tới mức nào.”
“Tôi nghĩ cái ta cần là thuyết phục các kế toán viên rằng ‘Để thăng tiến trong sự nghiệp và được đối tác lắng nghe ý kiến của mình thì bạn cần thoát khỏi cái khuôn mẫu mà ở đó bạn chỉ cần làm tốt việc phân tích và trình bày dữ liệu’.”
Theo ông Spruce, bước tiếp theo mà kế toán viên cần làm là thuyết phục mọi người hành động dựa trên những dữ liệu ấy, “điều này góp phần xây dựng sự nghiệp tương lai của bạn và mở ra cánh cửa đến với vị trí quản lý cấp cao.
“Họ là những người ra quyết định và thực hiện chiến lược, vì thế bạn cần đảm bảo rằng mình là một phần của tổ chức.”
Phương pháp tạo ảnh hưởng
“Thực hiện được điều này không hề dễ dàng nhưng nó lại đóng vai trò vô cùng quan trọng nếu kế toán viên muốn bản thân và những con số của họ được công nhận,” – ông nói.
“Phong cách gây ảnh hưởng cũng rất quan trọng, đừng chỉ đưa ra những con số khô khan mà hãy tìm tòi phương pháp trình bày và phát triển chúng theo những phong cách khác nhau phù hợp với từng hoàn cảnh.”
Spruce cũng chia sẻ thêm rằng để nâng cao tầm ảnh hưởng của mình, bạn cần quyết định làm thế nào để đạt được kết quả mong muốn, tập trung vào các nhiệm vụ thiết yếu cũng như xây dựng mối quan hệ với các đối tác.
“Bạn muốn các đối tác hành động nhưng cũng phải để tâm đến việc xây dựng mối quan hệ với họ. Đương nhiên là bạn sẽ muốn có một mối quan hệ tốt đẹp chứ không phải một mối quan hệ xấu đi.
Việc xây dựng và vun đắp mối quan hệ cũng quan trọng như khả năng thể hiện và trình bày các thông tin của bạn theo cách để các thông tin đó được đón nhận một cách nghiêm túc”
Giải thích kết quả
Theo Spruce, trong quá trình trình bày công việc và tạo ảnh hưởng, kế toán viên cần phải đưa ra được những hệ quả của việc không triển khai hành động.
“Truyền đạt giá trị lợi ích là rất quan trọng, bên cạnh đó, bạn cũng cần đảm bảo rằng người nghe hiểu được hệ quả của việc lắng nghe hoặc bỏ qua lời khuyên của ban,” – ông nói.
“Đó là phương pháp thuyết phục theo lối phân tích lô-gich, nhưng cũng có phương pháp gây ảnh hưởng khác bằng việc khơi gợi cảm xúc của người nghe.”
Để làm được điều này, Spruce nói rằng bạn cần phải quyết đoán bằng cách đưa ra khuyến nghị trực tiếp, sau đó giải thích hệ quả khi tuân theo và rủi ro của việc không tuân theo khuyến nghị.
Lùi lại đúng thời điểm
Kiềm chế cũng là một kỹ năng cần thiết của một kế toán quản lý. Theo Spruce, ngoài việc mở rộng tầm ảnh hưởng của mình, ta cũng cần biết thời điểm mà mình cần phải dừng lại.
“Khả năng này cho chúng ta biết một cuộc tranh luận, một trận chiến, một cuộc đấu sắp xảy ra và ta cần phải dừng lại trước khi nó bắt đầu.”
“Liệu điều này có thực sự cần thiết đối với doanh nghiệp, với đạo đức và lợi ích của con người? Nếu có, bạn cần biết là bạn phải đứng lên và nói ‘Không, đây không phải trận chiến tôi mong muốn hôm nay.
Tôi sẽ quay lại vào một thời điểm khác.’ Khi ấy, bạn đã hiểu thời điểm nào có thể tiếp tục và thời điểm nào nên dừng lại.
Hãy là một người biết lắng nghe
Spruce cho biết, kỹ năng bị xem nhẹ nhất là khả năng lắng nghe và thấu hiểu mong muốn của người khác.
“Bạn cần phải hiểu vì sao họ không hành động và vì sao họ không nhìn nhận bạn một cách nghiêm túc.
“Chúng ta cần phải biết lắng nghe và thấu hiểu mong muốn của người khác và biến những mong muốn đó trở thành lợi ích của bản thân. Điều này có nghĩa rằng khi chúng ta kết thúc công việc tôi sẽ không nói ‘Kế toán viên của tôi đã hoàn thành xuất sắc công việc’. Thay vào đó, tôi sẽ nói rằng ‘Tôi tin tưởng anh/cô ấy, tôi sẵn sàng lắng nghe lời khuyên của anh/cô ấy dựa trên mối quan hệ hiện tại của chúng tôi’.”
Theo các chuyên gia, việc nhập hàng Trung Quốc về gắn mác hàng Việt không chỉ đẩy nhiều doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đến chỗ phá sản, mà còn tiềm ẩn nguy cơ hàng Việt bị áp thuế trừng phạt với mức cao từ các quốc gia nhập khẩu.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Đột biến về kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc và xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Khi thương chiến Mỹ - Trung nổ ra, hàng hóa Trung Quốc xuất qua Mỹ gặp lao đao, khiến các doanh nghiệp Trung Quốc tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu qua các thị trường khác, trong đó có Việt Nam, khiến hàng loạt doanh nghiệp Việt thuộc nhiều ngành hàng gặp không ít khó khăn. Ngoài ra, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng chọn Việt Nam là nơi trung chuyển để "sơ chế" hàng hóa trước khi xuất khẩu sang Mỹ nhằm lẩn tránh thuế.

Hàng Trung Quốc gắn mác "made in Vietnam".
Ông Âu Anh Tuấn, quyền Cục trưởng Cục Giám sát quản lý hải quan - Tổng cục Hải quan cho biết đã "khoanh vùng" 15 nhóm hàng như: Dệt may, da giày và túi xách; máy vi tính; điện tử và linh kiện; điện gia dụng và linh kiện; điện thoại và linh kiện; sắt thép và các sản phẩm sắt thép; gỗ và các sản phẩm gỗ... có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ do có sự gia tăng đột biến về kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc và xuất khẩu sang thị trường như Mỹ.
Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, tính riêng trong 8 tháng năm 2019 đã có có 7 vụ việc điều tra đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra một số nước đang xem xét khởi xướng các vụ việc khác. Sản phẩm bị điều tra chủ yếu là nhôm, thép, sợi đồ gia dụng điện tử thuỷ sản, gỗ ván ép, lốp xe, pin mặt trời…Nhìn chung các mặt hàng bị điều tra đều là các mặt hàng Mỹ, EU đã áp thuế phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm của Trung Quốc.
Mới đây, Cục Phòng vệ thương mại - Bộ Công Thương đã đưa ra cảnh báo 13 mặt hàng xuất khẩu sang 3 thị trường Hoa Kỳ, EU và Canada có nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, chống lẩn tránh thuế.
Trong Danh sách cảnh báo của Cục Phòng vệ thương mại cập nhật đến tháng 7/2019, đứng đầu là các sản phẩm gồm gỗ dán dùng nguyên liệu làm gỗ cứng, đá nhân tạo, đồ bằng sắt, nệm mút, xe đạp điện, lốp xe tải/xe khách, thép chống ăn mòn, vành thép không gỉ, thép tấm cán nóng, sản phẩm đúc bằng gang, xơ sợi tổng hợp, ruy băng trang trí...
Bộ Công Thương phân loại theo bốn mức độ cảnh báo. Các sản phẩm ở mức 4 và 3 là nhóm mặt hàng cần tiến hành theo dõi chặt chẽ, kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp liên quan. Nhóm sản phẩm ở mức cảnh báo 2 và mức 1 là nhóm cần quan tâm và tiếp tục theo dõi.
Trong đó, mức cảnh báo 4 có mặt hàng gỗ dán, đây là mặt hàng có nguy cơ cao bị gian lận xuất xứ.
Theo Cục An ninh kinh tế (Bộ Công an), thực tế cho thấy có hiện tượng các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu gỗ dán từ Trung Quốc, sau đó gia công để xuất khẩu hoặc bán cho các doanh nghiệp khác xuất khẩu sang Mỹ. Bên cạnh đó, xuất hiện tình trạng các doanh nghiệp nước ngoài “núp bóng” đầu tư lấy xuất xứ hàng hóa (C/O) để xuất khẩu gỗ dán sang thị trường Mỹ nhằm lẩn tránh thuế.
Cụ thể, tháng 11/2018, Cơ quan Hải quan và Bảo vệ biên giới Mỹ khởi xướng điều tra chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại bằng hình thức chuyển tải đối với các sản phẩm gỗ dán nhập khẩu từ Việt Nam trên cơ sở nghi ngờ Công ty Finewood Việt Nam có các hành vi lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại.
Từ tháng 10/2018 đến 5 tháng đầu năm 2019, Mỹ đã tiến hành điều tra chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại đối với sản phẩm gỗ dán nên USITC không công khai số liệu một số sản phẩm có kim ngạch nhập khẩu cao từ Trung Quốc và Việt Nam để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra.
Danh sách cảnh báo mức 3 có mặt hàng đá nhân tạo, giá để đồ bằng sắt, đệm mút, xe đạp điện, lốp xe tải và xe khách, thép chống ăn mòn. Sự gia tăng đột biến trong kim ngạch nhập khẩu của Mỹ đối với sản phẩm đệm từ Việt Nam, do đó, sản phẩm này có khả năng xảy ra nguy cơ bị điều tra chống bán phá giá hoặc chống lẩn tránh thuế.
Các sản phẩm ở mức cảnh báo 2 là vành thép không gỉ, thép tấm cán nóng, sản phẩm đúc bằng gang, xơ sợi tổng hợp.
Các sản phẩm ở mức cảnh báo 1 gồm thép chống ăn mòn, ruy băng trang trí.
Đề nghị xử lý hình sự
Các sản phẩm được cảnh báo trên của Việt Nam đều là những mặt hàng mà Trung Quốc xuất khẩu nhiều sang Mỹ. Tuy nhiên, sau khi bị Mỹ điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp thuế rất cao, nhận thấy lượng hàng xuất khẩu từ Trung Quốc sang Mỹ giảm nhưng từ Việt Nam sang Mỹ lại tăng nên Mỹ nghi ngờ hàng Trung Quốc "núp bóng" xuất xứ Việt Nam để lẩn tránh thuế.
Trong thời gian tới, khi diễn biễn của chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang, nhiều dòng thuế của Trung Quốc sẽ chịu thuế đến 30% nên chênh lệch thuế so với hàng hoá từ Việt Nam càng lớn. Do vậy nguy cơ chuyển tải hàng hoá bất hợp pháp, gian lận xuất xứ cũng cần xác định rõ để có biện pháp phù hợp.
Đã đến lúc các cơ quan chức năng cần siết chặt các quy chuẩn, quy định cụ thể cho định nghĩa hàng Việt. Điều này, cũng là điều cấp thiết để tránh tình trạng doanh nghiệp lạm dụng kẽ hở, lập lờ trong việc nhập linh kiện từ nước ngoài về, chỉ gia công lắp ráp nhưng sau đó lại đề là sản phẩm của Việt Nam nhằm trục lợi niềm tin của người tiêu dùng.
Theo nhận định của Tổng cục Hải quan, có hiện tượng buông lỏng cấp C/O, chính quyền xác nhận khống nguồn gốc sản phẩm cho việc cấp C/O, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gian lận xuất xứ hàng hóa.
Theo đó, đã đến lúc cần siết chặt việc cấp C/O để ngăn chặn nguy cơ lợi dụng xuất xứ hàng hóa từ Việt Nam để lẩn tránh thuế từ nước khác. Trong đó, đề xuất không cấp giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho những dự án sản xuất không đảm bảo thực hiện hơn 2/3 chuỗi quy trình sản xuất tại Việt Nam.
Đặc biệt, trước khi cấp chứng nhận C/O, cơ quan chức năng cần lưu ý các doanh nghiệp nằm trong "danh sách đen", chỉ lập những cơ sở hoặc thuê mướn mặt bằng làm cơ sở, hay chỉ chọn Việt Nam làm các công đoạn gia công đơn giản (như đóng gói bao bì, dán nhãn...), các sản phẩm này không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quy tắc xuất xứ hàng hóa.

Trước khi cấp chứng nhận C/O, cơ quan chức năng cần lưu ý các doanh nghiệp nằm trong "danh sách đen".
"Ngoài ra, cần siết chặt kiểm tra đối việc các doanh nghiệp FDI tận dụng quy định chuyển đổi mã số HS hàng hóa để xin cấp C/O. Phải nắm thật chắc rằng doanh nghiệp có thật sự sản xuất, hoặc công đoạn nào là sản xuất thật sự chứ không chỉ làm những phần việc hết sức đơn giản rồi xin chứng nhận chuyển đổi" - một chuyên gia kinh tế đề nghị.
Trao đổi về các giải pháp chống gian lận và giả mạo xuất xứ hàng hóa, ông Nguyễn Phi Hùng - Cục trưởng Cục Chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan cho biết, pháp luật hiện hành quy định mức xử phạt đối với tội danh này là phạt hành chính từ 3-30 triệu đồng. Tuy nhiên, trước tình trạng cấp bách hiện nay, phải tăng chế tài xử phạt, thậm chí là tội hình sự, chứ không chỉ phạt hành chính như hiện nay.
Ông Hùng chia sẻ, trong thời gian tới cơ quan hải quan sẽ tăng cường các biện pháp như giám sát tại cửa khẩu, kiểm soát chặt với các mặt hành có kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bất thường. Ngoài ra sẽ lưu ý với một số doanh nghiệp FDI lợi dụng chính sách thu hút đầu tư để gia công đơn giản, "tráng men" hàng nhập để hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu.
Tổng cục Hải quan cũng chỉ đạo cơ quan hai quan các địa phương siết chặt quản lý đối với các mặt hàng có nguy cơ cao trong gian lận thương mại như xe đạp điện, gỗ, điện tử, linh kiện điện tử, sắt thép, các sản phẩm sắt thép... đồng thời, phối hợp với các cơ quan liên quan để giám sát "sức khỏe" các doanh nghiệp, nhất là đối với những doanh nghiệp có lượng hàng xuất khẩu mang thương hiệu Việt rất lớn nhưng lại có chỉ tiêu thụ điện, nước, nhân công rất ít.
Nhiều thành viên thị trường, chuyên gia pháp lý ủng hộ quan điểm cần có cơ chế pháp lý rõ ràng cho doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chuyển đổi thành công ty đại chúng và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Không nên chậm thêm
“Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác...”. Ðây là nội dung đáng chú ý tại Nghị quyết 50/NQ-TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, vừa được ban hành.
Từ định hướng trên, một số chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán cho rằng, đây là thời điểm chín muồi để mở đường cho khu vực doanh nghiệp FDI chuyển đổi sang doanh nghiệp đại chúng và đưa cổ phiếu lên niêm yết, giao dịch trên sàn chứng khoán Việt Nam.
Có nhiều lý do để các chuyên gia đưa ra nhận định trên. Ðầu tiên, nhiều nước khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài đưa cổ phiếu niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán, huống hồ doanh nghiệp FDI là những công ty đem vốn vào xây dựng nhà xưởng, hoạt động sản xuất - kinh doanh tại Việt Nam.
Thứ hai, quá trình thí điểm cho phép doanh nghiệp FDI lên niêm yết mang lại kết quả khá tích cực, thể hiện mục tiêu lên sàn của chủ doanh nghiệp FDI không phải hoàn toàn là để thoái vốn, “tháo chạy” khỏi Việt Nam như có ý kiến quan ngại, mà còn chứng minh một thực tế ngược lại.
Nhiều doanh nghiệp FDI được lên sàn theo cơ chế thí điểm trước đây hiện chủ ngoại vẫn nắm quyền điều hành, vẫn tăng vốn, mở rộng quy mô hoạt động, hiệu quả kinh doanh khá tốt như CTCP Everpia (mã chứng khoán EVE, sàn HOSE), CTCP Dây và cáp điện Taya Việt Nam (mã chứng khoán TYA, sàn HOSE), CTCP Công nghiệp Tung Kuang (mã chứng khoán TKU, sàn HNX)…
Thứ ba, doanh nghiệp FDI có nhu cầu lên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ thực tiễn hoạt động của một đơn tư vấn niêm yết, ông Trần Thiên Hà, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán APG cho biết, hiện các doanh nghiệp FDI sau thời gian hoạt động tại Việt Nam, họ có nhu cầu đưa cổ phiếu lên sàn với nhiều mục tiêu khác nhau; trong đó, không phủ nhận có doanh nghiệp theo chu kỳ kinh doanh, họ muốn lên sàn để tìm cơ hội thoái vốn…
Với những doanh nghiệp có mục tiêu này, dù có cho lên sàn hay không họ vẫn tìm cách thoái vốn bằng nhiều cách khác nhau. Do đó, thà có cơ chế rõ ràng, thông thoáng cho doanh nghiệp FDI lên sàn để cơ quan quản lý dễ kiểm soát, giảm thiểu hành vi trốn thuế, vì các giao dịch mua bán doanh nghiệp ngoài sàn kém minh bạch hơn so với các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán….
Thứ tư, trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực nâng hạng thị trường chứng khoán, cũng như thực thi các giải pháp để gia tăng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp chảy vào thị trường chứng khoán, việc cho phép doanh nghiệp FDI lên sàn chính là thêm một con đường thu hút dòng vốn ngoại đã được “Việt Nam hóa”.
Thứ năm, Luật Ðầu tư, Luật Chứng khoán đang được thúc đẩy sửa đổi theo hướng mở rộng không gian cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam.
Bởi vậy, việc mở cửa cho doanh nghiệp FDI lên sàn là thêm một cách để hiện thực hóa nỗ lực cải cách này của Việt Nam, qua đó mang lại lợi ích cho các bên liên quan…
Ở khía cạnh tích cực, việc cho phép doanh nghiệp FDI lên sàn sẽ giúp thị trường chứng khoán Việt Nam có thêm nguồn hàng mới, đáp ứng khẩu vị đầu tư đa dạng của giới đầu tư trong và ngoài nước.
Thực thi hiệu quả cơ chế cho phép doanh nghiệp FDI lên sàn, cùng với môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục có những bước tiến mới còn góp phần tạo hiệu ứng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp nước ngoài tích cực hơn trong thời gian tới…
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực trên, việc mở đường cho doanh nghiệp FDI cần đảm bảo tính chặt chẽ để tránh những… “tác dụng phụ”.
Chẳng hạn, cần kiểm soát chặt tình trạng chuyển giá. Vấn đề này cũng được đề cập tại Nghị quyết 50/NQ-TW của Bộ Chính trị: “Các hiện tượng chuyển giá, đầu tư "chui", đầu tư "núp bóng" ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng…”.
Nếu tình trạng này không được kiểm soát tốt, thì có khi máy móc, thiết bị chỉ có giá trị 5 đồng, nhưng khi vào Việt Nam, họ kê khai lên 20 - 30 đồng. Nếu khâu kiểm toán và định giá doanh nghiệp trước khi lên sàn không khách quan, chuẩn xác sẽ khiến nhà đầu tư đối mặt với rủi ro mua cổ phiếu của doanh nghiệp FDI chuyển đổi với giá cao.
Thời gian qua, đã có hiện tượng một số doanh nghiệp FDI do làm ăn thua lỗ, nợ lương công nhân, lãnh đạo bỏ trốn về nước. Tình trạng này nếu xảy ra với doanh nghiệp FDI sau khi chuyển đổi và đưa cổ phiếu lên niêm yết trên thị trường chứng khoán sẽ tác động tiêu cực không chỉ đến nhà đầu tư đại chúng, mà cả thị trường chứng khoán.
Cần những “van” điều tiết nào?
Ðiều quan trọng khi xây dựng cơ chế cho doanh nghiệp FDI lên sàn, theo ý kiến từ chuyên gia là cần đánh giá kỹ lưỡng các cam kết mà doanh nghiệp FDI thực hiện khi được cấp phép đầu tư.
Ngoài các điều kiện niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE), Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) như quy định hiện hành, với khối doanh nghiệp FDI khi lên sàn, nên cân nhắc đưa ra thêm các tiêu chí mà các doanh nghiệp này phải đáp ứng về: thời gian hoạt động tại Việt Nam; mức tăng trưởng sản lượng, doanh thu, lợi nhuận hàng năm; tỷ lệ chuyển giao công nghệ… Ðiều này sẽ giúp lọc được các doanh nghiệp FDI có chất lượng để đưa lên sàn.
Muốn kiểm soát việc nhà đầu tư nước ngoài đưa doanh nghiệp lên sàn để thoái vốn, nhà quản lý có thể nên cân nhắc đưa ra quy định cổ đông lớn, cổ đông sáng lập nước ngoài phải chịu hạn chế giao dịch cổ phiếu trong một khoảng thời gian, chẳng hạn trong vòng 3 năm kể từ ngày lên niêm yết.
Trách nhiệm của kiểm toán, công ty xác định giá trị doanh nghiệp cần phải được tăng cường. Nếu doanh nghiệp đã từng áp dụng các chiêu trò chuyển giá, khiến cho vật tư, thiết bị, máy móc tăng cao hơn giá trị của chúng trên thị trường thì nhiệm vụ của kiểm toán, đơn vị xác định giá trị doanh nghiệp là phải đưa những giá trị ảo này về giá trị thật, để giá cổ phiếu chào bán ra thị trường sát thực với giá trị doanh nghiệp, tránh rủi ro cho nhà đầu tư mua cổ phiếu giá cao.
Cũng cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo chủ doanh nghiệp FDI sau khi chuyển đổi phải chịu trách nhiệm về tình trạng kinh doanh thua lỗ, chứ không thể bỏ trốn.
Thậm chí, ở cấp cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, đăng ký kinh doanh, cần có cơ chế hợp tác với cơ quan quản lý các nước có doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam để buộc chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm xử lý đến cùng các vấn đề xảy ra tại doanh nghiệp, chứ không phải bỏ trốn là phủi trách nhiệm.
|
Cần giám sát chặt chẽ doanh nghiệp FDI lên sàn Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). Ðể mở đường cho các doanh nghiệp FDI lên sàn chứng khoán Việt Nam đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp lý, cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, cũng như các bộ, ngành liên quan cần rà soát kỹ lưỡng các cam kết quốc tế mà Việt Nam phải thực thi, cũng như các lĩnh vực mở cửa tối đa, hay hạn chế sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài. Một khi quy định đã cụ thể thì tránh nại ra những lý do nhạy cảm để đưa ra những diễn giải mang tính không tạo thuận lợi cho doanh nghiệp FDI lên sàn. Nếu vì e ngại doanh nghiệp FDI lên sàn rồi khi thua lỗ, chủ doanh nghiệp bỏ trốn, mà không mở đường cho họ lên sàn, thì khi họ tồn tại ngoài sàn vẫn phải khắc phục hậu quả. Do đó, điều quan trọng là cần có cơ chế giám sát chặt chẽ, khả thi với các doanh nghiệp FDI lên sàn, đặc biệt là tuân thủ các quy định về minh bạch báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, cũng như các loại thông tin khác như quy định của pháp luật chứng khoán… Khung pháp lý tốt sẽ chặn được rủi ro phát sinh, cũng như giải quyết tốt các hậu quả không mong muốn. |
|
Mở đường cho doanh nghiệp FDI lên sàn: Được nhiều hơn mất (Luật sư Trần Minh Hải, Giám đốc Công ty Luật Basico) Nếu Chính phủ có thêm các giải pháp cải cách, chẳng hạn như cho phép doanh nghiệp FDI được chuyển đổi thành công ty đại chúng và đưa cổ phiếu lên niêm yết trên thị trường chứng khoán thì sẽ thêm một tín hiệu tốt được phát đi. Ðó là khối doanh nghiệp FDI hoạt động ở Việt Nam được đối xử bình đẳng với các doanh nghiệp nội địa, họ được thuận lợi đưa vốn ra - vào thị trường. Việc mở đường cho doanh nghiệp FDI đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán còn giúp tăng cường hoạt động giám sát với khối doanh nghiệp này. Bởi, thay vì chỉ có các cơ quan quản lý như đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế… giám sát khi hoạt động dưới mô hình doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp sẽ chịu thêm sự giám sát của nhà đầu tư, cổ đông và cơ quản quản lý, vận hành thị trường chứng khoán như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các sở giao dịch chứng khoán. Ngoài ra, việc đưa doanh nghiệp FDI lên sàn chứng khoán sẽ giúp hàng hóa trên thị trường chứng khoán trong nước đa dạng hơn, mang lại cơ hội đầu tư mới cho nhà đầu tư. Thậm chí, nếu cơ chế này được xây dựng, vận hành tốt còn tạo hiệu ứng thu hút thêm dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới. Ðiều này cũng giúp nhà quản lý giám sát, kiểm soát các hoạt động mua bán, chuyển nhượng doanh nghiệp tốt hơn, giảm thiểu các hoạt động thao túng, không minh bạch trong quá trình mua bán doanh nghiệp ngoài sàn. |
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Thực tế nhiều người dân khi đi mua nhà, hầu như chỉ mang theo tiền, niềm tin và hy vọng đặt vào chủ đầu tư. Sau này, giao tiền rồi, mới xảy ra tranh chấp thì không biết bấu víu vào văn bản nào để bảo vệ quyền lợi cho bản thân...
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Nhiều rủi ro khi mua nhà trên giấy
Mới đây, một số thông tin trong vụ án lừa đảo tại dự án Khu nhà ở cao cấp Viet-Inc khiến nhiều người bất ngờ.
Bởi tại vụ việc này, một dự án “ma” với tấm bản đồ quy hoạch giả có thể lừa rất nhiều người với hàng trăm tỷ đồng.
Điều đáng tiếc, đây không phải là trường hợp hiếm hoi cho việc huy động vốn khi chưa đủ điều kiện, hay còn gọi là huy động trái phép.
Ngoài ra cũng còn vô số những rủi ro khác người mua nhà phải “gánh” khi quyết định mua nhà hình thành trong tương lai.
Thực tế cho thấy rất nhiều vụ chủ đầu tư chiếm dụng vốn của người mua và để dự án rơi cảnh chậm tiến độ, đắp chiếu; nhận nhà không đúng với diện tích trong hợp đồng hoặc đã ở nhiều năm, đã sinh sống ổn định nhưng mãi vẫn chưa có “sổ đỏ”...
Trao đổi với Dân trí, Luật sư Trương Anh Tuấn, Trưởng ban pháp chế Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Giám đốc Công ty Luật Trường Sơn cho biết mua nhà hình thành trong tương lai có thể gặp rất nhiều rủi ro.
Bỏ một khoản tiền có thể nói là rất lớn, nhiều khi là cả đời tích góp để rồi sau đó trong tương lai không biết nhận được căn hộ diện tích như thế nào, có đầy đủ pháp lý không, khi có tranh chấp với chủ đầu tư thì sẽ xử lý như thế nào?
Người dân khi đi mua nhà, hầu như chỉ mang theo tiền, niềm tin và hy vọng đặt vào chủ đầu tư, còn hoàn toàn không có tư vấn chuyên gia để bảo vệ quyền lợi cho mình ngay từ đầu.
Sau này, giao tiền rồi, mới xảy ra tranh chấp thì không biết bấu víu vào văn bản nào để bảo vệ quyền lợi cho bản thân.
Những điểm lưu ý khi mua nhà hình thành trong tương lai
Vậy theo ông trước khi quyết định đặt tiền cọc để mua nhà ở hình thành trong tương lai thì người dân cần lưu ý những vấn đề gì để tránh trường hợp tiền mất mang?
Khi mua nhà hình thành trong tương lai, điều đầu tiên phải xem xét là hợp đồng mua nhà. Hợp đồng này có tuân thủ đầy đủ điều kiện pháp lý hay không như theo mẫu hợp đồng do Bộ Xây dựng ban hành không, có được đăng ký với Bộ Công Thương (Cục quản lý cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng) hay không?
Thông qua văn bản hợp đồng mua bán nhà để kiểm tra được những nội dung cơ bản của giao dịch này, gồm có: (i) bên bán có đầy đủ tư cách chủ đầu tư để bán không, (ii) dự án có đủ điều kiện pháp lý không, (iii) đã đủ điều kiện được mở bán không, (iv) những tình huống có thể xảy ra tranh chấp thì được dự liệu thế nào.
Thông qua hợp đồng để kiểm tra những thông tin ban đầu trên đây. Mọi dự án muốn huy động vốn từ người mua nhà đều phải đảm bảo các điều kiện về bất động sản hình thành trong tương lai như giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, hồ sơ thiết kế cơ sở đã được thẩm định, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, giấy phép xây dựng (nếu phải có), biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó… Đây là một số các điều kiện cơ bản mà chủ đầu tư phải tuân thủ.
Tiếp theo cần tìm hiểu kỹ khi chủ đầu tư bán căn hộ thì có được ngân hàng bảo lãnh không? Vì pháp luật hiện nay quy định chủ đầu tư phải có bảo lãnh của ngân hàng khi bán nhà ở hình thành trong tương lai, nên chủ đầu tư sẽ phải trả một khoản phí bảo lãnh ngân hàng có giá trị từ 1,5-2% trên tổng giá trị tài sản bảo lãnh.
Nếu thực hiện với cả dự án thì khoản tiền này không hề nhỏ, nên không phải chủ đầu tư nào cũng thực hiện hoặc tìm cách đẩy khoản phí này cho người mua chi trả.
Trong khi đó, việc bảo lãnh của ngân hàng hết sức quan trọng để đảm bảo quyền lợi người mua nhà khi chủ đầu tư bàn giao nhà ở không đúng tiến độ trong hợp đồng.
Ngân hàng có trách nhiệm trả tiền chậm bàn giao căn hộ nếu chủ đầu tư không trả tiền chậm bàn giao nhà ở theo đúng tiến độ đã cam kết với khách hàng. Khách hàng hoàn toàn có quyền yêu cầu bên bán cung cấp những tài liệu liên quan về vấn đề này.
Cũng cần tìm hiểu dự án này có bị thế chấp hay không, nếu thế chấp thì phải đợi được giải chấp mới mua; như vậy sẽ tránh gặp phải các dự án bị ngân hàng siết nợ đã từng xảy ra trong thời gian qua.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là phần đầu khi ký kết hợp đồng, đến khi nhận nhà thì còn rất nhiều vấn đề như: chênh lệch giữa diện tích căn hộ trong hợp đồng với diện tích căn hộ được giao; chậm bàn giao căn hộ, chủ đầu tư phá vỡ thiết kế cơ sở được thẩm định, không được nghiệm thu PCCC...
Nếu chủ đầu tư vi phạm trật tự xây dựng, thì những người mua sẽ phải gánh chịu, bởi nếu vi phạm thì dẫn tới không được nghiệm thu hoàn công công trình. Mà không được nghiệm thu hoàn công thì sẽ dẫn tới việc bị chậm lại hoặc không làm được “sổ hồng” cho người mua căn hộ.
Nhìn chung, khi mua nhà hình thành trong tương lại người người dân bỏ một số tiền rất lớn giao cho chủ đầu tư, nhưng phụ thuộc rất nhiều việc chủ đầu tư có năng lực hay không, làm có uy tín hay không.
Một số người chỉ nghe qua quảng cáo, lời giới thiệu mà bỏ tiền tỷ để mua một căn nhà hình thành trong tương lai trong khi chưa thật sự nắm rõ thông tin, không tìm hiểu rõ.
Trên thực tế, mua nhà chưa thành hình đã tiềm ẩn nhiều nguy cơ, cộng thêm sự thiếu hiểu biết chỉ dựa vào niềm tin vào chủ đầu tư thì dễ nhận thua thiệt.
Đừng chủ quan với chính quyền lợi của ban thân!
Như ông nói, việc nhiều người mua nhà chủ quan với quyền lợi của mình chính là một trong những nguyên nhân khiến chủ đầu tư chộp giật lợi dụng?
Đúng như vậy! Nếu không nhận xét là tất cả thì cũng là đa số người mua nhà gần như không đọc, tìm hiểu kỹ hợp đồng mua bán, hoặc có đọc thì chỉ đọc một vài điểm cơ bản như thời hạn nhận nhà, tiến độ trả tiền… Họ quá chủ quan khi chấp nhận thực hiện một giao dịch mà sau đó không kiểm soát được.
Pháp luật hiện nay có nhiều quy định để bảo vệ người mua nhà. Tuy nhiên, việc bảo vệ đó có được thực hiện tốt hay không còn căn cứ vào việc người dân sử dụng quyền đó như thế nào?
Đa số người mua nhà hiện nay tự đưa mình vào tình thế khó, khi ký vào hợp đồng rồi sau đó, mới đi kêu cứu!
Khi có tranh chấp, toà án sẽ căn cứ vào hợp đồng mua bán đã ký giữa hai bên. Nhưng khi người mua nhà tự ký vào những văn bản không đảm bảo quyền lợi của mình thì sau đó rất khó để đấu tranh, bảo vệ quyền lợi.
Nếu người mua nhà biết sử dụng công cụ pháp luật để bảo vệ mình thì tôi tin chủ đầu tư làm ăn chụp giật sẽ rất khó khăn chiếm dụng vốn, sai phạm xây dựng … để làm thiệt hại đến quyền lợi người mua nhà.
Dự án ngừng thi công vẫn thông báo đóng tiến độ
Thực tế hiện nay có một số dự án dù ngừng thi công rất lâu, dự án đắp chiếu nhưng vẫn thông báo tới khách hàng, yêu cầu nộp tiền tiến độ và rồi nhiều người không nắm rõ vẫn chấp nhận đóng. Theo ông, việc huy động vốn ngay cả khi dự án ngừng thi công như vậy có vi phạm quy định pháp luật?
Đóng tiền mua nhà theo hợp đồng thường có hai dạng: một là đóng tiến độ gắn với việc tiến độ thi công công trình, hai là chỉ thông báo đóng tiến độ nhưng không đề cập đến tiến độ công trình.
Đối với kiểu thứ 2 này, người mua nếu đọc thấy thì nên từ chối. Bởi trường hợp thứ 2, họ chỉ yêu cầu đóng tiền theo ngày tháng mà không nêu rõ tiến độ, tức là họ chỉ tính đến ngày thu tiền mà không quy định nghĩa vụ đáp ứng của chủ đầu tư ra sao.
Điều này gây rủi ro rất lớn. Bởi người mua nhà đưa tiền cho chủ đầu tư để thi công công trình mà không phải là làm việc khác. Nên nếu chủ đầu tư có ý định không tốt thì người mua nhà nên tránh.
Khách hàng nên tìm hiểu và thanh toán tiền đúng quy định của pháp luật, tránh trường hợp thanh toán trước giai đoạn.
Cụ thể, Luật Nhà ở quy định lần đầu thanh toán không quá 30% giá trị hợp đồng khi mua nhà hình thành trong tương lai. Những lần thanh toán tiếp theo phải phù hợp với tiến độ xây dựng nhưng tổng số không quá 70% giá trị hợp đồng nếu chưa bàn giao nhà. Việc làm này sẽ phần nào sẽ hạn chế được rủi ro cho người mua nhà ở hình thành trong tương lai.
Hiện nay có rất nhiều dự án chậm tiến độ, sai với quy định trong hợp đồng. Người dân cần làm gì trong trường hợp này để bảo vệ quyền lợi của mình?
Người dân hoàn toàn có quyền khởi kiện nếu nhận thấy dự án không đảm bảo tiến độ, vi phạm quy định đưa ra trong hợp đồng. Nếu quá thời gian, có thể được chấm dứt hợp đồng.
Không chỉ vấn đề về tiến độ, khi khách hàng thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy chủ đầu tư vi phạm hợp đồng thì đều nên tìm cách đối thoại với chủ đầu tư.
Nếu không đối thoại được thì nên nhờ luật sư tư vấn để đảm bảo quyền lợi, đặc biệt là ngay từ khi bắt đầu mua căn hộ.
Mục tiêu làm sao cho dự án vận hành đúng với pháp luật. Trong trường hợp đối thoại bất thành thì nên khởi kiện ra toà, yêu cầu cơ quan chức năng vào cuộc.
Trước đây rất ít vụ việc người dân đưa chủ đầu tư ra toà nhưng nay thì cũng có khá nhiều!
Xin chân thành cám ơn ông về những chia sẻ này!
Nghị quyết số 50-NQ/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 20/8/2019 đã đưa ra định hướng mới về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Đây là Nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt đối với tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

“Nắn” lại dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam
Tại cuộc tọa đàm chiều 6/9 do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc và Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng Lê Văn Thành đã cùng trao đổi làm rõ hơn về những nội dung quan trọng của Nghị quyết.
Bình luận về vai trò vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thời gian qua, ông Vũ Tiến Lộc cho rằng bên cạnh những kết quả được, hiệu quả về thu hút dòng vốn FDI chưa đạt kỳ vọng của chúng ta. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp (DN) FDI và DN trong nước rất yếu. Chỉ 14% DN nội địa cho biết họ có giao dịch với DN FDI, 28% DN FDI có mua hàng của DN nội địa, trong đó cũng có nhiều DN bản chất là vốn nước ngoài. Do đó, DN FDI tồn tại như một ốc đảo trong nền kinh tế Việt Nam, thiếu sự kết nối nên nếu có biến động họ có thể dịch chuyển dễ dàng, không đảm bảo tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các yếu tố như chuyển giao công nghệ, tạo giá trị gia tăng… cũng không đạt yêu cầu; nhiều DN FDI có hiện tượng chuyển giá, gian lận thương mại…
Vì vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 là hết sức cần thiết và kịp thời. “Trong 30 năm qua, chúng ta đã hoàn thành mục tiêu vượt khỏi đói nghèo. 20 năm tới, chúng ta cần chất lượng phát triển cao hơn, hùng mạnh hơn” - ông Vũ Tiến Lộc nói.
Chia sẻ về những nội dung quan trọng của Nghị quyết, Thứ trưởng Vũ Đại Thắng cho biết, Nghị quyết 50 trước hết đã định vị lại rõ ràng vị trí, vai trò của khu vực đầu tư nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Cùng với đó, Nghị quyết đưa ra các mục tiêu cụ thể về FDI giai đoạn tới ở mức độ vừa phải, có sự tính toán kỹ để tránh khu vực FDI lấn át khu vực DN trong nước, đảm bảo vốn FDI thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước đồng thời cũng đảm bảo ổn định an ninh kinh tế xã hội trong nước.
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, yêu cầu hàng đầu được thể hiện trong Nghị quyết 50 là phải hoàn thiện thể chế. Chỉ khi thể chế được hoàn thiện mới tính đến việc triển khai thu hút FDI hiệu quả. Nhiều vấn đề tồn tại với FDI thời gian qua sẽ được giải quyết khi thực hiện hoàn thiện thể chế theo định hướng Nghị quyết đề ra.
Chẳng hạn, để đảm bảo tính kết nối, liên thông giữa khu vực DN FDI và DN trong nước, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ chế khuyến khích, ưu đãi thỏa đáng để tăng liên kết giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, khuyến khích chuyển giao công nghệ và quản trị cho DN Việt Nam. Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng chỉ ra cần có chính sách để “vừa kéo, vừa đẩy” DN trong nước theo hướng hỗ trợ, khuyến khích DN trong nước để nâng tầm DN, đáp ứng được các yêu cầu của chuỗi giá trị, từ đó tham gia hiệu quả vào các chuối giá trị toàn cầu.
Theo ông Vũ Tiến Lộc, việc chúng ta thu hút FDI chưa đạt hiệu quả như mong muốn cũng có nguyên nhân do chính sách, thể chế và chính năng lực của DN Việt Nam. Khi khả năng hấp thụ của DN thấp, trình độ chưa cao thì rất khó kết nối với DN nước ngoài. Do đó, muốn chuyển sang thế hệ đầu tư mới phải gắn liền với sự chuẩn bị về cả thể chế và thực lực của DN trong nước theo lộ trình cụ thể.
Rà soát tiêu chí an ninh, quốc phòng khi cấp phép đầu tư
Một trong những yêu cầu cụ thể tại Nghị quyết 50 là nghiên cứu, xây dựng các quy định khắc phục tình trạng "vốn mỏng", chuyển giá, đầu tư "chui", đầu tư "núp bóng". Nghiên cứu bổ sung quy định "điều kiện về quốc phòng, an ninh" trong quá trình xem xét, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT) đối với dự án đầu tư mới và cả hoạt động đầu tư thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, tương tự pháp luật các nước, pháp luật hiện hành của Việt Nam đã có các quy định về an ninh, quốc phòng trong hoạt động đầu tư. Gần đây trong bối cảnh tình hình an ninh nhiều biến đổi, không chỉ là liên quan đến những vấn đề truyền thống mà cả những vấn đề phi truyền thống như công nghệ, môi trường, tôn giáo… đòi hỏi phải có cơ chế rà soát từ trước khi cấp GCNĐKĐT. “Do quy định pháp luật ngày càng thông thoáng, nên có hiện tượng người nước ngoài đột lốt mua các dự án, mua đất đai ở những vùng nhạy cảm. Vì vậy, việc rà soát chặt chẽ là phù hợp” - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định.
Liên quan đến vấn đề này, Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng Lê Văn Thành cho rằng vấn đề an ninh quốc phòng cần được nhìn ở nhiều góc độ. Hiện nay, chúng ta đang có mục tiêu vừa phải giải quyết việc làm ở khu vực nông thôn, nhưng cũng vừa muốn hướng thu hút FDI ở những lĩnh vực chất lượng cao. Vì vậy, phải có tỷ lệ nhất định cho vốn FDI vào ngành sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, nếu đầu tư quá nhiều vào các ngành này sẽ tạo ra dòng di cư của lao động nông nghiệp, gây khủng hoảng trong sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn, đồng thời gây ra những vấn đề xã hội ở khu vực thành phố lớn. Do vậy, ông Lê Văn Thành đề nghị cần có quy hoạch mang tính tổng thể quốc gia về đầu tư để thu hút lao động tại chỗ, vừa đảm bảo việc làm cho khu vực nông nghiệp, đảm bảo trật tự cho khu vực thành thị và đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia.
|
Nghị quyết 50 đã đưa ra một số mục tiêu cụ thể trong thời gian tới. Theo đó, vốn đăng ký giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 150 - 200 tỷ USD, giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 200 - 300 tỷ USD. Vốn thực hiện giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 100 - 150 tỷ USD, giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 150 - 200 tỷ USD. Tỉ lệ doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, bảo vệ môi trường, hướng đến công nghệ cao tăng 50% vào năm 2025 và 100% vào năm 2030 so với năm 2018. Tỉ lệ nội địa hoá tăng từ 20 - 25% hiện nay, lên mức 30% vào năm 2025 và 40% vào năm 2030.
|
Những năm gần đây, việc giải ngân kế hoạch vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) thường diễn ra rất chậm.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Sốt ruột trước thực trạng này, Bộ Tài chính đã kiểm tra tại một số bộ, ngành, địa phương và nhận thấy những vướng mắc phát sinh từ khâu phân bổ vốn tới quá trình triển khai dự án.
8 tháng giải ngân mới đạt hơn 41% kế hoạch
Theo Bộ Tài chính, ước thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN 8 tháng năm 2019 là hơn 161.286 tỷ đồng, đạt 37,92% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 41,39% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Con số này thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 đạt 45,57% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao). Trong đó: Vốn trong nước là hơn 152.522 tỷ đồng (vốn trái phiếu chính phủ (TPCP) mới đạt 23,22% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; vốn Chương trình mục tiêu quốc gia đạt 36,47% kế hoạch giao). Vốn ngoài nước giải ngân đạt hơn 8.748 tỷ đồng, mới đạt 19,18% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (cùng kỳ năm 2018 đạt 27,02% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).
Có 5 bộ, ngành và 6 địa phương có tỷ lệ giải ngân trên 70%. Đáng chú ý, đó là: Hải Dương (hơn 85%), Ninh Bình (hơn 82%); đạt hơn 70% là Hưng Yên, Thanh Hóa, Phú Yên. Khối các bộ, ngành, cao nhất là Hội Nhà văn Việt Nam (hơn 83%), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (hơn 80%), Ngân hàng Chính sách xã hội (hơn 78%), Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Quốc phòng giải ngân đều đạt hơn 73%.
Tuy nhiên, có đến 29 bộ, ngành và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 40%. Trong đó, khối các địa phương mặc dù thấp nhưng cũng ở ngưỡng từ hơn 15% đến hơn 35%; còn các bộ, ngành chưa giải ngân được đồng vốn nào, cá biệt như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Có bộ, ngành gần như chưa giải ngân (giải ngân dưới 1%). Với những bộ có kế hoạch vốn giao lớn như Bộ: Giao thông vận tải, Y tế, Giáo dục và Đào tạo giải ngân vẫn thấp, dưới 30% kế hoạch vốn.
Phải kiên quyết điều chuyển vốn nếu giải ngân chậm
Bộ Tài chính đã tổ chức kiểm tra tại một số bộ, ngành, địa phương về công tác giải ngân kế hoạch vốn đầu tư năm 2018, 2019, qua đó thấy được nguyên nhân vướng mắc nên Bộ đã có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ kiến nghị một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.
Theo Bộ Tài chính, việc chậm giải ngân kế hoạch vốn thường tập trung vào một số nguyên nhân, như vướng mắc trong công tác xây dựng, phân bổ và điều chỉnh kế hoạch vốn: một số dự án sử dụng vốn TPCP và vốn ODA được trung ương phân bổ cao hơn số đã được chủ đầu tư đăng ký nhu cầu vốn; một số dự án không có khả năng thực hiện vẫn được đăng ký và giao vốn nên không thể giải ngân; phân bổ kế hoạch vốn còn chậm, giao nhiều lần chưa phù hợp với yêu cầu tiến độ các dự án… Chính vì các vướng mắc nêu trên, một số chủ đầu tư chưa lường trước được các yếu tố tác động nên xây dựng kế hoạch vốn chưa sát với khả năng thực hiện, dẫn đến nhiều dự án được giao kế hoạch vốn lớn hơn nhiều so với khả năng. Vì vậy, kết thúc năm dự án không giải ngân hết kế hoạch được giao, phải cắt giảm hoặc chuyển nguồn sang năm sau.
Vướng mắc liên quan đến giai đoạn triển khai và thực hiện kế hoạch, được cho là căn bệnh trầm kha nhiều năm nay bởi những nguyên nhân không mới, như: chậm hoàn thiện thủ tục phê duyệt, điều chỉnh dự án, thiết kế kỹ thuật, dự toán; công tác đấu thầu còn nhiều bất cập; giải phóng mặt bằng chậm; chậm quyết toán dự án hoàn thành, quyết toán hợp đồng nên không giải ngân được kế hoạch vốn được giao… Một nút thắt lớn đối với việc triển khai các dự án đầu tư công hiện nay đó là giải phóng mặt bằng. Ở các tỉnh, thành phố, công tác giải phóng mặt bằng đều gặp khó khăn và chậm do các vấn đề liên quan tới việc xác định giá đền bù…
Kiến nghị tới Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã đề xuất một loạt các giải pháp nhằm thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Trong đó, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy chế yêu cầu các chủ đầu tư, ban quản lý dự án thường xuyên báo cáo cấp trên tiến độ triển khai và giải ngân của từng dự án; kịp thời đề xuất giải pháp tháo gỡ vướng mắc, điều chỉnh kế hoạch phù hợp với tiến độ giải ngân. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương báo cáo với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch, tránh để cuối năm mới điều chỉnh kế hoạch gây khó khăn cho các chủ đầu tư. Bên cạnh đó, để kịp thời xử lý đối với kế hoạch còn lại các tháng cuối năm, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành, địa phương sớm có báo cáo về danh mục các dự án có tỷ lệ giải ngân dưới 50% và tự đề xuất phương án cắt giảm, điều chuyển.
Sắp tới, Thủ tướng Chính phủ sẽ chủ trì hội nghị trực tuyến cả nước để thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Hy vọng thời gian tới sẽ tiếp tục công khai, “điểm mặt, chỉ tên” những đơn vị giải ngân chậm và điều chuyển vốn đối với những dự án chậm, muộn cho các dự án có nhu cầu và giải ngân vốn nhanh. Theo ông Lê Tuấn Anh – Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư (Bộ Tài chính), dù chính sách có hoàn thiện, sửa đổi, tháo gỡ vướng mắc đến đâu nhưng khâu tổ chức thực hiện, con người thực hiện không đồng bộ thì kết quả cuối cùng cũng không được như mong đợi. Thực tiễn trong quá trình kiểm tra cho thấy, đối với các địa phương được bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh quyết liệt chỉ đạo các giám đốc sở, ban quản lý dự án thì kết quả giải ngân rất tốt, cao hơn mặt bằng chung cả nước./.
* Ông Trần Kim Chung – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương:
Dồn giải ngân vào cuối năm tạo áp lực lớn về chất lượng công trình
Các dự án ĐTC từ nguồn NSNN chính là sử dụng từ nguồn đóng thuế của nhân dân, nên các vấn đề như chất lượng dự án, tiến độ giải ngân dự án… luôn được cử tri, dư luận hết sức quan tâm. Bên cạnh đó, ĐTC đóng góp trực tiếp vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song điều này chỉ hiện thực hóa khi nguồn vốn được giải ngân, chứ không phải là những dự án nằm mãi trên giấy hay chỉ thực hiện được vài ba công đoạn ban đầu.
Việc chậm giải ngân vốn ĐTC hay giải ngân dồn vào những tháng cuối năm sẽ tạo nên áp lực rất lớn về tiến độ thi công, chất lượng dự án, công trình… Trên thực tế ghi nhận, nhiều dự án ở 2, 3 tháng cuối năm, ồ ạt triển khai mỗi hạng mục một tý cốt làm sao công trình đạt được tiến độ thanh toán, dẫn đến chất lượng không được như mong muốn. Do đó, cần có nhiều giải pháp đồng bộ để khắc phục tình trạng chậm giải ngân vốn ĐTC, cũng như thay đổi “mô hình” truyền thống là dồn giải ngân vào các tháng cuối năm. Trong đó đặc biệt, cần gia tăng những chế tài mạnh mẽ xử lý cán bộ cố tình làm chậm giải ngân vốn ĐTC, cũng như cần nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị để thúc đẩy việc thực hiện giải ngân vốn ĐTC.
* Ông Lê Tuấn Anh – Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư (Bộ Tài chính):
Bộ Tài chính đã rất tích cực đôn đốc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn
Nhận thức rõ tầm quan trọng cũng như những bức xúc trong việc chậm tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương đã có những chỉ đạo quyết liệt. Mới đây, công điện của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành kế hoạch giải ngân vốn năm 2019. Giải pháp mà Thủ tướng Chính phủ đề ra là đến ngày 30/9 nếu dự án nào không có khả năng thực hiện, không giao được vốn thì sẽ bị thu hồi.
Theo số liệu báo cáo chúng tôi tổng hợp được, cuối tháng 8 vừa qua còn 35 nghìn tỷ đồng đã được Quốc hội phân bổ nhưng chưa đủ điều kiện để giao vốn, trên cơ sở cập nhật của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến 30/9 sẽ có báo cáo chính thức Thủ tướng Chính phủ.
Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo quyết liệt để giải quyết các vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hồ sơ… Tất cả các giải pháp này đã đề cập nhiều lần trong các năm qua nhưng kết quả thực hiện vẫn vướng mắc. Về phía Bộ Tài chính, chúng tôi đã rất tích cực để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trung bình khoảng 2 tháng, Bộ có công văn gửi trực tiếp tới các bộ, địa phương để đôn đốc, nhắc nhở, đốc thúc hoàn thiện các thủ tục đầu tư, phân bổ chi tiết vốn, nhập Tabmis, thúc đẩy hoàn thiện thủ tục đầu tư để đưa ra thanh toán... Bộ Tài chính cũng đã tổ chức tọa đàm trực tuyến với các chủ đầu tư, các bộ, ngành để cùng trao đổi, tháo gỡ vướng mắc và đã chủ động báo cáo Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nắm bắt tình hình thực tiễn, đồng thời có kiến nghị các giải pháp, trong đó có giải pháp được Thủ tướng Chính phủ đưa vào chỉ đạo thực hiện.
* Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh:
Kiên quyết loại bỏ các dự án kém hiệu quả
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, cần nhiều giải pháp mạnh và hiệu quả, trong đó có giải pháp tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công. Tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công thông qua việc kiên quyết loại bỏ các dự án kém hiệu quả, triển khai chậm, hay thậm chí chưa chuẩn bị đầy đủ thủ tục đầu tư theo quy định để tập trung vốn cho các dự án đầu tư có hiệu quả cao, triển khai đúng tiến độ, làm tốt khâu chuẩn bị đầu tư. Bên cạnh đó, có thể cho phép những dự án đầu tư tốt được đầu tư vượt tiến độ kế hoạch để sớm đưa vào khai thác.
Ngoài ra, cần tiếp tục cải cách thủ tục quản lý đầu tư và giải ngân vốn đầu tư công theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho những chủ đầu tư dự án tốt đẩy nhanh tiến độ thực hiện đi đôi với giải ngân vốn kịp thời theo đúng tiến độ, giảm thiểu thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp.
Vấn đề quyết định tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công đó là lựa chọn đúng những dự án tốt, hướng nguồn vốn đầu tư công vào các dự án này để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, đồng thời đảm bảo tốc độ giải ngân vốn phù hợp với tiến độ thực của mỗi dự án. Từ kinh nghiệm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư các năm trước, cần rút ra những bài học kinh nghiệm, hoàn thiện về luật pháp, cơ chế quản lý vốn đầu tư công đi đôi với củng cố kỷ luật chi NSNN, trong đó có chi đầu tư phát triển từ nguồn NSNN, giảm đến mức thấp nhất tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công. Chỉ có như vậy, đầu tư công mới góp phần thiết thực vào tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao hơn, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
Để có thêm những nhận định của những người trong cuộc đối với đầu tư nước ngoài, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đã tổ chức tọa đàm: Nâng cao chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Sau hơn 30 năm thực hiện thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN), đến nay vốn ĐTNN đạt gần 350 tỷ USD, bình quân tăng trên 20%/năm trong 30 năm qua, đồng thời là khu vực tăng trưởng cao nhất trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc thu hút, quản lý và hoạt động ĐTNN vẫn còn những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới mà đã đến lúc chúng ta cần điều chỉnh và rà soát lại cho phù hợp.
Ngày 20/8/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW về “Định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN đến năm 2030”. Đây là một Nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt đối với tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta trong thời kỳ mới.
Để có thêm những nhận định của những người gọi là trong cuộc đối với ĐTNN, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đã tổ chức tọa đàm: Nâng cao chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam.
Tham dự cuộc tọa đàm có các vị khách mời:
Ông Vũ Đại Thắng, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Ông Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch UBND TP Hải Phòng
Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Sau 30 năm thu hút vốn FDI, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 50 về vấn đề này. Đây có thể nói là chúng ta chuyển sang giai đoạn mới là hợp tác đầu tư nước ngoài thay vì hiểu hạn hẹp là thu hút, sử dụng… FDI đã chính thức cấu thành một phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Xin ông cho biết quan điểm xuyên suốt về vấn đề này?
Ông Vũ Đại Thắng: Từ những ngày đầu mở cửa Đảng, Nhà nước ta đã có chủ trương mời gọi đầu tư nước ngoài để tận dụng những tiềm năng lợi thế của họ trong vốn đầu tư, công nghệ, thị trường.
Các chủ chương của Đảng đã được cụ thể hóa bằng 4 bộ luật quan trọng về đầu tư nước ngoài (luật đầu tư nước ngoài 1987; luật đầu tư nước ngoài 1996; luật đầu tư chung 2005 và 2014). Thông qua 4 bộ luật đầu tư này, chúng ta đã tạo một cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài; nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành nguồn vốn quan trọng hỗ trợ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta với tư cách như một nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của đất nước, đóng góp cho việc tăng năng suất, tăng giá trị lao động.
Bên cạnh mặt tích cực đó, cũng có những hạn chế nhất định đặc biệt là đến thời điểm này, sau 30 năm, thế và lực của đất nước ta có nhiều thay đổi, đã đến thời điểm chúng ta cần ưu tiên lựa chọn những DN, dự án phù hợp với chúng ta về mặt khoa học, công nghệ.
Chính vì vậy Nghị quyết của Bộ Chính trị lần này đã đưa ra những định hướng chủ trương về thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới nhằm phát huy hết hiệu quả của nguồn vốn quan trọng này. Đặc biệt, Nghị quyết đã sử dụng chữ “hợp tác” chứ không phải thu hút và sử dụng, nó thể hiện sự bình đẳng, chủ động của chúng ta trong làm việc với các đối tác nước ngoài và đề cao hơn nữa trách nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ đầu tư vào Việt Nam.
Những điểm nhấn trong Nghị quyết rõ ràng muốn định hướng một chiến lược quan trọng đó là chào mời những nhà đầu tư nước ngoài chân chính, đáp ứng được những tiêu chuẩn cao về công nghệ, lao động… và đương nhiên sẽ phải loại bỏ những nhà đầu tư núp bóng nhằm né thuế, chuyển giá… Ông bày tỏ quan điểm của mình thế nào về vấn đề này?
Ông Vũ Tiến Lộc: Trong thời gian qua đầu tư nước ngoài đã trở thành một nhân tố quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta trở thành một quốc gia thu hút vốn đầu tư thành công trên thế giới và trong khu vực. Tuy nhiên, hiệu quả của vốn đầu tư FDI vào nền kinh tế nước ta chưa tương xứng với số lượng của mức đầu tư. Trong một chừng mực nào đó, đầu tư FDI không có sự lựa chọn không những không kết nối được với DN vừa và nhỏ trong nước mà còn có hiện tượng chèn lấn khu vực DN vừa và nhỏ của Việt Nam.
Số liên doanh với DN Việt Nam chỉ chiếm 2 phần trong 10 phần của FDI. Giá trị gia tăng các dự án FDI tạo ra cho nền kinh tế Việt Nam là tương đối thấp. Trong các FDI cũng có sự chuyển giá, có hiện tượng gian lận thương mại, chúng ta phải có những biện pháp rất chuyên nghiệp, quyết liệt để có thể khắc phục trong thời gian tới.
Chính vì vậy chúng tôi rất hoan nghênh Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị đã định hướng cho hệ thống thể chế pháp luật, định hướng dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Ông Vũ Đại Thắng: Tôi cho rằng nếu chúng ta chỉ nhìn những con số để quy chụp đầu tư nước ngoài lấn át trong nước thì chúng ta cần phải cân nhắc. Thay vì việc phê phán, chúng ta cần thúc đẩy chính các DN trong nước phát triển.
Trong Nghị quyết 50 cũng có đề cập đến vấn đề đảm bảo tính kết nối liên thông giữa đầu tư nước ngoài với thị trường trong nước là một yêu cầu rất bắt buộc và cũng chỉ ra những định hướng rất rõ ràng.
Ngoài việc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ, khuyến khích DN nước ngoài mua hàng hóa của DN trong nước, Bộ Chính trị cũng chỉ ra những giải pháp hỗ trợ DN trong nước.
Ông Nguyễn Văn Thành: Tại Hải Phòng, những năm đầu chúng tôi có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đặc biệt là khu công nghiệp Nomura, thời điểm đó làn sóng đầu tư vào Hải phòng còn rất hạn chế, việc thu hút được DN lấp đầy là cả một quá trình.
Trong thời gian vừa qua FDI cũng đóng góp khá lớn vào tổng vốn đầu tư trong nước, giải quyết 30% - 35% vị trí việc làm, đóng góp cho thu địa phương từ 17% - 20%. Đặc biệt trong quá trình thu hút đầu tư FDI chúng tôi thấy có nhiều DN họ chú trọng rất cao việc đào tạo tại chỗ.
Điểm quan trọng trong Nghị quyết 50 mà chúng tôi chú ý đến là việc chuyển giao công nghệ và chuyển giao trình độ quản lý, đây là điểm còn hạn chế chính vì vậy mà Nghị quyết 50 ban hành rất đúng thời điểm.
Làm thế nào để chúng ta có những giải pháp căn cơ để trong thời gian tới chúng ta làm tốt được việc kết nối các DN FDI và DN trong nước?
Ông Vũ Đại Thắng: Đây là một vấn đề chúng ta đã nhìn nhận ra từ rất lâu. Chúng ta đã có nhiều giải pháp hỗ trợ các DN FDI mua nguyên vật liệu cung ứng trong nước; ngược lại đối với DN trong nước chúng ta cũng phải có các giải pháp để hỗ trợ DN của chúng ta để nâng tầm sản phẩm lên đáp ứng được yêu cầu của các DN nước ngoài.
Tiếp nối câu chuyện của ông Thành, cho rằng phải kết nối các DN FDI và các DN trong nước. Vậy làm thế nào để chúng ta có giải pháp căn cơ để trong thời gian tới chúng ta là tốt việc này?
Ông Vũ Đại Thắng: Nội dung kết nối giữa DN nước ngoài và trong nước như tôi vừa chia sẻ, chúng ta đã nhìn nhận từ lâu. Chúng ta đã có nhiều yêu cầu, nhưng thực chất vẫn chưa làm được.
Do vậy, Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác ĐTNN đến năm 2030 lần này đã chỉ ra những giải pháp như tôi vừa chia sẻ, giải pháp khuyến khích DN có đầu tư nước ngoài, những chính sách hỗ trợ để DN có thể sử dụng các dịch vụ như anh Lộc có chia sẻ, dịch vụ mua sắm nguyên, nhiên vật liệu từ các DN trong nước, cung ứng dịch vụ cho họ.
Nhưng ngược trở lại, đối với DN trong nước, chúng ta phải có chính sách để hỗ trợ DN trong nước để nâng tầm sản phẩm, đáp ứng chuỗi giá trị của các DN đầu tư nước ngoài để có thể tham gia vào chuỗi giá trị đó. Đây là biện pháp chúng tôi cho rằng vừa kéo vừa đẩy.
Trong quá trình xây dựng Đề án tổng kết 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chúng tôi được đi thực tế ở Hải Phòng. Hải Phòng là nơi thực thi rất nhiều chính sách thí điểm trong tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động về đầu tư nước ngoài, các mô hình quản lý mới, khu công nghiệp… rất nhiều chuỗi giá trị lớn của các nước được thành lập trên thành phố Hải Phòng.
Chúng tôi học hỏi được nhiều, từ đó đưa ra báo cáo với các cấp có thẩm quyền để tổng hợp trong Nghị quyết 50 này. Chúng tôi thấy rằng trong Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị có bóng dáng rất nhiều của thành phố Hải Phòng.
Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị có nhiều ràng buộc quan trọng về thu hút FDI lại đặt mục tiêu giải ngân cao hơn trước. Trong khi nỗ lực giải ngân của chúng ta đang gặp nhiều vấn đề mặc dù gần đây cũng đã có những kỷ lục trong giải ngân vốn xuất hiện. Ông có lo ngại về vấn đề này không, thưa ông?
Ông Vũ Đại Thắng: Với tư cách là người trực tiếp tham gia làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài, tham gia vào quá trình quản lý các dự án đầu tư nước ngoài rất nhiều năm ở nhiều cương vị, tôi cho rằng nếu nói Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị đưa ra nhiều ràng buộc với nhà đầu tư nước ngoài là chưa thực sự chính xác.
Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị định vị lại thành phần kinh tế đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế của nền kinh tế của chúng ta, bình đẳng với tất cả thành phần kinh tế khác và phải tuân thủ pháp luật Việt Nam.
Với tính chất hữu cơ như vậy, thành phần kinh tế đầu tư nước ngoài nằm trong quy trình hoạch định chiến lược, hoạch định chính sách phát triển của Việt Nam. Nghị quyết số 50-NQ/TW đưa ra những mục tiêu khá cụ thể về đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới như mục tiêu về vốn đăng ký, mục tiêu về vốn thực hiện…
Các mục tiêu này Bộ Chính trị đưa ra ở mức độ vừa phải, chúng ta đã tính toán đến nhằm để tránh khu vực vốn đầu tư nước ngoài lấn át khu vực kinh tế trong nước, chỉ đảm bảo để khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục thúc đẩy, lôi kéo phát triển thành phần kinh tế khác, kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước của chúng ta.
Tổng mức đầu tư của nguồn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới chúng tôi đặt ở mức khoảng từ 20 – 25% tổng mức đầu tư toàn xã hội, đây là mức độ rất vừa phải, bảo đảm tính an ninh của nền kinh tế, bảo đảm sự tự chủ của nền kinh tế đất nước.
Về giải ngân, trong thực tiễn chúng ta gọi là giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện. Giải ngân dành cho đầu tư công và ODA. Hiện nay mức thực hiện trên vốn đăng ký đầu tư khoảng 56%, có nghĩa trong 350 tỷ USD đã được đăng ký đầu tư vào Việt Nam có khoảng xấp xỉ trên 180 tỷ USD đã trực tiếp bơm vào trong nền kinh tế nước ta, vẫn còn dư địa khoảng trên 180 tỷ USD chưa được thực hiện. Lý do nhiều dự án rơi vào độ trễ về đầu tư xây dựng, nhưng nhiều dự án có vốn ảo, đăng ký lớn nhưng thực hiện nhỏ. Đặc biệt là những dự án bất động sản.
Với những chính sách liên quan đến giám sát, quản lý đầu tư chắc chắn trong giai đoạn tới với sự vào cuộc của các cấp, các ngành chúng ta sẽ hạn chế được dự án vốn ảo. Chúng ta sẽ chọn được những dự án xác đáng, hiệu quả nhất, phục vụ trực tiếp đến công cuộc phát triển của chúng ta, đặc biệt là các đồng chí ở địa phương.
Hiện nay việc cấp giấy chứng nhận đầu tư, cấp phép dự án do chính quyền địa phương cấp. Các Bộ, ngành là cơ quan xây dựng chính sách. Việc lựa chọn dự án, các bộ ngành chắc chắn sẽ có ý kiến tham mưu, nhưng trách nhiệm chính thuộc về các địa phương.
Thưa ông Nguyễn Văn Thành, Thứ trưởng vừa có nói đến vốn ảo, ở địa phương ông đã xảy ra nhiều vấn đề này hay chưa?
Ông Nguyễn Văn Thành: Tôi cho rằng vốn ảo địa phương cũng có, nhưng ở Hải Phòng đang ở mức độ chúng tôi kiểm soát được. Hiện nay tại thành phố Hải Phòng đến hết tháng 8/2019 chúng tôi có 673 dự án với tổng vốn đầu tư là 17,52 tỷ USD. Rất nhiều tập đoàn lớn của toàn cầu đã đầu tư vào Hải Phòng.
Thành phố Hải Phòng đang thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/1/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng thành phố cảng xanh, văn minh, hiện đại với nền công nghiệp phát triển.
Tôi cho rằng, những định hướng đó cùng với Nghị quyết số 50-NQ/TW, chúng tôi đã chủ động xây dựng danh mục thu hút các dự án khuyến khích đầu tư và danh mục các dự án không khuyến khích đầu tư. Chúng tôi sẽ có vùng cấm với những dự án ảnh hưởng đến môi trường, chất lượng đầu tư. Đặc biệt chúng tôi chú trọng đến những nhà đầu tư có vốn ảo, chúng tôi trực tiếp giao cho một số ngành địa phương có thể thẩm định, tìm hiểu trước về dòng vốn và tên DN từ phía nước ngoài.
Thứ hai, chúng tôi kiểm tra, đốn đốc với những án có dòng vốn đầu tư vào Hải Phòng lớn, Thường trực Thành ủy và UBND thành phố trực tiếp chỉ đạo, xuống hiện trường để xem dòng vốn đó có thực đi vào thị trường và giải ngân tại thị trường Hải Phòng hay không.
Năm 2018, chúng tôi có tính toán lại giá trị thực hiện xuất khẩu qua cảng Hải Phòng các ngành trong thành phố là 8,1 tỷ USD, nhưng sau khi kiểm tra lại với Cục Xuất khẩu (Bộ Công Thương) chúng tôi đã đạt 11,25 tỷ USD. Đây là con số chúng tôi thấy rằng giữa kiểm soát dòng đầu tư vốn của các nhà đầu tư vào thị trường có thật hay không và kết quả ra sản phẩm xuất khẩu. Đây là điều chúng tôi đánh giá về cơ bản kiểm soát được.
Đến nay Hải Phòng đã có quan hệ về thương mại với 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, riêng các nhà đầu tư đến đầu tư tại Hải Phòng đã đạt 38 quốc gia với hơn 17 tỷ USD. Con số này so với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chưa phải cao, nhưng với thị trường Hải Phòng trong những năm gần đây có sự đầu tư của trung ương và sự nỗ lực của Hải Phòng xây dựng kết cấu hạ tầng, khu cụm công nghiệp, đặc biệt là địa chính trị, địa kinh tế của Hải Phòng đã đem lại lợi thế và sức hút đối với các nhà đầu tư. Trách nhiệm của Hải Phòng sẽ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như các bộ ngành để kiểm soát được nguồn vốn đó.
Tại sao đặt ra vấn đề an ninh quốc phòng trong Nghị quyết này khi mà các hoạt động xuất nhập khẩu nguyên liệu và hàng hoá mà chúng ta đã kiểm soát được? Hay nói cách khác là chúng ta đã có rất nhiều quy định chặt chẽ cũng như nhiều rào cản thương mại được dựng lên để kiểm soát vấn đề này? Thưa thứ trưởng và các vị khách mời, các ông có thể giải thích rõ hơn ý này được không?
Ông Vũ Đại Thắng: Tôi chia sẻ thêm phần anh Thành vừa nói rất đúng. Hiện nay việc cấp phép, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư do chính quyền địa phương cấp. Trong Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ ra chúng ta có quyền xây dựng các hệ thống tiêu chí về đầu tư để lựa chọn ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với các quy hoạch, định hướng phát triển với từng địa phương, từng ngành.
Hải Phòng xây dựng những tiêu chí, tiêu chuẩn để lựa chọn các dự án, tôi cho rằng rất xác đáng bởi như anh Thành chia sẻ, Hải Phòng hiện nay đang ở vị thế rất thuận lợi. Bên cạnh những tiêu chí về đầu tư, một điểm nữa là yêu cầu về cơ chế rà soát về an ninh đối với các dự án đầu tư.
Việc tạm dừng hay chấm dứt một dự án vì lý do an ninh quốc phòng hay về vấn đề môi trường, văn hóa…được quy định ở tất cả các bộ luật đầu tư của chúng ta từ trước đến nay. Nếu một dự án gây ra thảm họa môi trường, hoàn toàn chính quyền có quyền chất dứt, tạm dừng dự án. Không chỉ nước ta mà tất cả các nước đều có quy định này.
Trong bối cảnh vấn đề an ninh có nhiều biến đổi, không còn là vấn đề truyền thống, mà sang cả vấn đề phi truyền thống từ môi trường, văn hóa, tôn giáo… Vấn đề đặt ra là chúng ta phải có cơ chế rà soát trước khi cấp chứng nhận đăng ký đầu tư là rất cần thiết.
Bộ Chính trị đã có chỉ đạo rất rõ ràng, cần tổ chức rà soát ngay trước khi cấp các giấy chứng nhận đầu tư để đảm bảo các dự án đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc gia. Trong đó nhấn mạnh rất nhiều đến vấn đề môi trường, an ninh trật tự, không gây ảnh hưởng đến những giá trị văn hóa của Việt Nam. Không chỉ cấp giấy chứng nhận đầu tư cho những dự án mới mà trong trường hợp mua bán lại cổ phần, cổ phiếu.
Hiện nay phát sinh rất nhiều vấn đề do pháp luật đầu tư của chúng ta ngày càng thông thoáng nên tình trạng núp bóng, người nước ngoài mạo danh người Việt Nam để mua cổ phần, cổ phiếu của các DN của Việt Nam để tránh việc thành lập các dự án mới, thậm chí vào những vùng an ninh quốc phòng của chúng ta đã có. Chúng tôi cho rằng việc đưa an ninh quốc gia để rà soát là rất bình thường, cộng đồng DN rất hoan nghênh.
Ông Vũ Tiến Lộc: Chúng ta phải xuất phát từ đường lối của Đảng để khẳng định rất rõ định vị khu vực kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta khẳng định kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác xã tạo thành nền tảng của nền kinh tế. Khi xác định khu vực kinh tế trong nước là nền tảng, có nghĩa FDI sẽ đóng vai trò như khu vực bổ trợ. Khu vực liên kết, tích hợp với khu vực trong nước.
Vấn đề an ninh quốc phòng trước hết liên quan đến khả năng tự chủ của nền kinh tế, không chỉ liên quan đến DN nằm ở địa bàn, khu vực, vị trí, hay những ngành nghề họ không thể tham gia. Khả năng tự chủ của nền kinh tế Việt Nam sẽ được quyết định bởi sự vững mạnh của khu vực kinh tế trong nước, cộng hưởng với khu vực đầu tư nước ngoài.
Những ngày gần đây sau khi có Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị, tôi tiếp rất nhiều đoàn nước ngoài, các nhà đầu tư chiến lược của chúng ta. Họ rất hoan nghênh chủ trương này. Các DN chân chính rất hoan nghênh Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Chúng ta muốn thúc đẩy cho đổi mới sáng tạo, cho thế hệ đầu tư mới dựa trên cơ sở kinh tế số thì phải hoàn thiện hệ thống chính sách để đảm bảo thúc đẩy kinh tế số, kinh tế đổi mới sáng tạo. Điều này cần sự nỗ lực lớn. Nếu để như hiện nay, ngay kể cả DN Việt Nam khi muốn đầu tư vào những lĩnh vực đổi mới sáng tạo nhiều khi cũng “bó tay bó chân” không thể làm được. Cần phải có sự đột phá trong chính sách để thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho một thế hệ đầu tư mới cả trong và ngoài nước trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo.
Ông Nguyễn Văn Thành: Tôi cơ bản đồng tình với ý kiến anh Lộc. Về vấn đề anh ninh quốc phòng trong Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu ra, chúng ta cần nhìn nhận ở các góc độ khác nhau. Thứ nhất, an ninh quốc phòng và vị trí địa lý, có liên quan đến những vị trí phòng thủ của nước ta hay không. Thứ hai, an ninh quốc phòng đối với ngành nghề, hoặc liên quan đến công nghệ như anh Thắng vừa chia sẻ.
Hiện nay chúng ta đang có suy nghĩ mâu thuẫn, chúng ta vừa muốn giải quyết việc làm của lực lượng lao động đang ở khu vực nông thôn sản xuất nông nghiệp. Như anh Lộc chia sẻ, chúng ta phải có tỷ lệ nhất định để thu hút dòng vốn FDI cho những công nghệ, lĩnh vực ngành hàng sử dụng nhiều lao động.
Nếu đầu tư thái quá, nông nghiệp nước ta chưa có chuyển dịch về cơ cấu, công nghệ trong sản xuất công nghiệp. Dòng di cư từ lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp sẽ gây ra khủng hoảng trong sản xuất nông nghiệp. Đây là vấn đề cũng cần quan tâm cụ thể là an ninh lương thực, an ninh cho phát triển nông nghiệp. Diện tích nông nghiệp nước ta vẫn còn rất lớn. Các khu vực như Tây Bắc, Tây Nguyên, dải miền Trung có dân số đông, lao dộng nông nghiệp chiếm phần lớn.
Chúng ta phải có những quy hoạch mang tính tổng thể quốc gia để định hướng một số ngành, lĩnh vực thu hút nhiều lao động tại chỗ ở các địa phương đó, chúng ta sử dụng được lao động tại địa phương mà không phải di cư đến các khu vực thành phố lớn, ảnh hưởng đến giao thông và mật độ dân số ở các thành phố lớn. Đồng thời an ninh khu vực đó không có sự biến động dân số dân cư. Chúng ta cần có những định hướng cụ thể đối với các ngành trung ương.
Những ngành thâm dụng lao động chúng ta có thể thu hút về những vùng miền như ông Thành vừa chia sẻ, tôi xin thêm ý kiến của ông Thắng về vấn đề này?
Ông Vũ Đại Thắng: Tôi rất đồng tình với ý kiến của anh Lộc và anh Thành. Tôi xin trích một ý kiến trong Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Xây dựng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cân đối, hợp lý giữa các vùng, miền; bảo đảm việc thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài theo đúng định hướng, quy hoạch và yêu cầu phát triển. Nghiên cứu xây dựng cơ chế ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển cơ sở hạ tầng cho khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long”.
Đây là một chỉ đạo rất rõ ràng trên thực tiễn đầu tư nước ngoài trong 30 năm qua chủ yếu phân bổ ở những vùng có thuận lợi về hạ tầng như đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, một bộ phận rất nhỏ của Tây Nam Bộ. Những vùng khác có số lượng đầu tư nước ngoài rất nhỏ hoặc mang tính chất tượng trưng. Nếu tiếp tục thu hút đầu tư vào những vùng hiện nay quá tải về hạ tầng chắc chắn ảnh hưởng hệ lụy rất lớn. Qua khảo sát của chúng tôi, một số địa phương bị sức ép về hạ tầng rất cao. Trên tổng số gần 40 khu công nghiệp đối với một địa phương, sức ép số lượng lao động di cư đến, chỗ ăn chỗ ở cho số lượng lao động đó, nơi sinh hoạt văn hóa… là rất khó khăn.
Việc phân bổ hợp lý trong đầu tư nước ngoài là rất cần thiết. Khu vực nào có hạ tầng phát triển, chúng ta chỉ tập trung khuyến khích, thu hút những dự án có hàm lượng công nghệ cao hơn. Đối với những khu vực khác còn khó khăn không chỉ đưa công nghiệp đầu tư nước ngoài mà còn công nghiệp trong nước để về vùng nông thôn, để người lao động được làm việc tại quê hương. Đây là điều mà Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ ra rất rõ. Mặc dù là Nghị quyết về đầu tư nước ngoài nhưng tôi cho rằng, Nghị quyết còn có ý nghĩa trong hoạt động thúc đẩy sản xuất, công nghiệp của đầu tư trong nước.
Về phía VCCI các ông nhìn nhận thế nào về các cơ hội mới trong tương lai đến từ nước ngoài? DN trong nước sẽ đón nhận như thế nào và có bị ảnh hưởng gì không?
Ông Vũ Tiến Lộc: Về Luật DN mới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và VCCI thống nhất quan điểm, nâng cấp DN Việt Nam – đây là yêu cầu cốt lõi hiện nay.
Thời gian qua, năng suất của chúng ta không cao và không kết nối được khu vực đầu tư nước ngoài. Lý do quan trọng là khả năng hấp thu công nghệ, trình độ quản trị của Việt Nam thấp.
Theo số liệu của Mạng lưới Khởi nghiệp Toàn cầu, Việt Nam đứng trong 20 nền kinh tế có tinh thần khởi nghiệp cao nhất, nhưng Việt Nam cũng nằm trong nhóm 20 nền kinh tế có khả năng hiện thực hóa ý tưởng khởi nghiệp thấp nhất.
Hằng năm ASEAN có đưa ra khảo sát năng lực quản trị của DN niêm yết trong thị trường chứng khoán, Việt Nam đứng thứ 6 trong số 6 nước được khảo sát. Trình độ quản trị của DN Việt Nam hiên nay là khâu rất yếu. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh DN, không chỉ có vấn đề cải cách thể chế của nhà nước mà DN phải tự nâng cấp mình.
Chúng tôi đang đề nghị, ít nhất đưa những hộ kinh doanh có đăng ký trở thành đối tượng điều chỉnh của Luật DN, là một loại hình DN. Trong bối cảnh kinh tế số toàn cầu, một cá nhân kinh doanh cũng có thể kết nối với toàn cầu, phải kinh doanh trên thị thường toàn cầu và chịu áp lực cạnh tranh toàn cầu thì họ phải đạt chuẩn của toàn cầu. Muốn làm được phải nâng cao trình độ quản trị của khối DN này, đó là vấn đề cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Đồng thời đảm bảo rằng khu vực này có khả năng kết nối với FDI. DN Việt Nam được nâng cấp cao hơn có thể tạo ra sản phẩm dịch vụ đáp ứng được cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Một trong những bài toán khó của các nhà đầu tư nước ngoài là họ không tìm được đối tác ở trong nước để cung ứng linh kiện, phụ tùng mà phải mua ở nước ngoài với chi phí vận tải cao. Nếu được cung cấp ngay trong thị trường nội địa thì tốt hơn rất nhiều.
Ông Vũ Đại Thắng: Chúng ta cần tập trung hỗ trợ thúc đẩy các DN của Việt Nam dần dần bắt kịp, hướng tới thay thế DNNN về mặt công nghệ, khoa học, quản trị... chứ không phải quan điểm do sợ nước ngoài phát triển mạnh quá mà ta phải kéo xuống.
Chúng ta vẫn phải thúc đẩy khu vực đầu tư nước ngoài nhưng cũng phải ưu tiên tập trung hỗ trợ cho DN trong nước phát triển cao hơn, đó là mục tiêu và đúng như quan điểm của Đảng xuyên suốt từ trước đến nay, ngoại lực quan trọng nhưng nội lực là yếu tố quyết định.
Còn về các vấn đề ưu đãi, tôi cho rằng qua việc đánh giá đầu tư nước ngoài qua 30 năm và đặc biệt là nghiên cứu ở Hải Phòng, đúng là cơ chế ưu đãi đầu tư cho các DN nói chung vẫn cón hơi lạc hậu, chúng ta tập trung theo chiều rộng quá, chứ không theo chiều sâu.
Trong thời gian tới cũng cần có những nghiên cứu để thay đổi cách tiếp cận này, theo hướng chỉ ưu đãi với phần giá trị gia tăng được làm trên đất nước Việt Nam, ưu đãi với phần có kết nối với DN Việt Nam, về khoa học công nghệ.. những cái thực sự tạo ra giá trị hiệu quả thì mới được ưu đãi. Còn việc nhập khẩu máy móc, nguyên nhiên vật liệu rồi gia công xuất khẩu đi thì cần phải xem xét xem có được ưu đãi hay không.
Ông Nguyễn Văn Thành: Tôi cho rằng vấn đề ưu đãi đối với thu hút FDI trong giai đoạn mới hiện nay thì chính sách ưu đãi không quá quan trọng. Việt Nam đang tham gia các hiệp định thương mại đa phương và song phương, chứng tỏ ưu thế của Việt Nam rất lớn. Với mỗi vị trí địa lý của các địa phương đều có đặc thù riêng và các DN mong muốn được đầu tư vào đó, chính sách ưu đãi chỉ là một phần để thúc đẩy họ thôi.
Tôi rất đồng tình vấn đề anh Thắng vừa nói là sắp tới sẽ xem lại các chính sách ưu đãi. Chúng ta đã có Nghị quyết 50 đối với dòng vốn FDI, trước đó, chúng ta đã có Nghị quyết riêng của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, chính vì vậy, chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và trong nước cần có công bằng.
Trước đây có chênh lệch về chính sách ưu đãi, DN Việt Nam yếu thế về vốn, công nghệ, trình độ quản trị DN đã thế lại không được ưu đãi, trong khi DNNN có đầy đủ tất cả lại được hưởng thụ ưu đãi.
Bên cạnh đó, còn một vấn đề chủ quan nữa, tôi cho rằng Luật DN và Luật Đầu tư sắp tới có những sửa đổi để làm sao thúc đẩy được DN trong nước phải chủ động. Bởi hiện nay, các DN trong nước đang bán cái mình có chứ không phải bán cái người ta cần, do vậy không thể kết nối được những cái cần của DN FDI muốn nội địa hóa, không vươn đến được dòng sản phẩm trong chuỗi giá trị của họ.
Tôi cho rằng thay đổi nhận thức của người quản trị DN trong nước với chính sách ưu đãi giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đầu tư trong nước phải làm đồng bộ, như vậy chúng ta mới có kỳ vọng là DN trong nước sẽ lớn lên trong dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi vào Việt Nam.
Hiện nay, ngoài việc đối diện với tình trạng núp bóng, đầu tư chui thì xuất hiện thêm tình trạng có dòng vốn ít, nhỏ lẻ. Ông có thể cho biết thêm nguy cơ khi chúng ta phải đối diện với thực trạng này?
Ông Vũ Tiến Lộc: Không nên khuyến khích các dòng vốn này, trên thực tế dòng vốn quá nhỏ, trong lĩnh vực họ làm thì DN vừa và nhỏ trong nước cũng có thể làm. Hãy tạo dư địa cho DN trong nước, không nên khuyến khích cái dòng vốn quá mỏng, công nghệ quá thấp như vậy vào Việt Nam. Trong thể chế hóa sắp tới phải tính tới cái đó.
Trong văn kiện này, then chốt, quan trong bậc nhất là câu Nghị quyết của Bộ Chính trị nói rằng: Trước năm 2021, VIỆT NAM phải trở thành 1 trong 4 nền kinh tế lọt vào nhóm 4 của Asean về năng lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh. Trước 2030, phải nằm trong nhóm 3 về năng lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh. Tức là chúng ta phải trở thành một trong những nền kinh tế dẫn đầu ASEAN về năng lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh.
Mục tiêu đó về thể chế là quan trọng bậc nhất để chúng ta cải thiện về môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam. Và chúng ta có thể nâng cấp thúc đẩy được cả DN trong nước và DN đầu tư nước ngoài, tạo được môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy sự liên kết giữa DN trong và ngoài nước.
Đến thời điểm hiện nay, chất lượng môi trường kinh doanh, trong đó có chất lượng thể chế chưa bao giờ được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao. Đầu tư nước ngoài đang dựa rất nhiều vào chí phí thấp, vị thế địa kinh tế, địa chính trị của đất nước, vào quy mô thị trường của chúng ta và kết nối với các FDI, dựa vào tài nguyên, chi phí của chúng ta tương đối thấp, ngay cả chi phí về tài nguyên… tức là chúng ta thu hút đầu tư nước ngoài dựa vào yếu tố giảm chi phí của nền kinh tế. Còn yếu tố về thể chế thúc đẩy cho sự đổi mới sáng tạo, sự an toàn của các nhà đầu tư, sự nhất quán của hệ thống chính sách… còn nhiều hạn chế. Thủ tục hành chính của chúng ta còn rườm rà so với các hệ thống khác trong khu vực. Chính vì vậy chúng ta mới đang ở chất lượng thể chế trung bình trong so sánh tương quan ASEAN. Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, của Diễn đàn kinh tế thế giới mới xếp thứ 5. Khoảng cách của chúng ta với nền kinh tế thứ 4 là gần 20 bậc.
Chúng ta đang nói đến nền kinh tế số, các nhà đầu tư FDI thế hệ mới, tuy nhiên, theo xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới năm ngoái, chúng ta vẫn thuộc nhóm các nền kinh tế chưa chuẩn bị sẵn sàng cho kinh tế số. Từ đó, yêu cầu cải cách môi trường kinh doanh, thủ tục hành chính và yêu cầu hàng đầu.
Ông Vũ Đại Thắng: Tổ chức Thương mại và phát triển của LHQ đánh giá Việt Nam là một trong 12 quốc gia trên thế giới sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ số môi trường kinh doanh đúng là còn nhiều cái cần phải thay đổi. Thế nhưng trong những năm qua, chúng ta tăng rất đáng kể. Năm 2018, tăng 13 bậc so với năm 2016. Chúng ta có thể hoàn toàn lạc quan vào những cái chúng ta đã dổi mới, cố gắng quyết liệt để thay đổi. Nghị quyết 50 với tên gọi hoàn thiện thể chế chính sách sẽ là một trong những mũi quan trọng, để chúng ta hoàn thiện, đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh cho nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần khẳng định thứ hạng trong ASEAN về môi trường kinh doanh: Thứ 4 từ nay đến 2025 và thứ 3 đến năm 2030.
Ngoài xu hướng đầu tư mới, nhưng nhìn vào thì thấy nhiều hoạt động của DNNN hay của tư nhân trong nước nhiều khi không hiệu quả. Chính vì thế sẽ đẩy mạnh xu hướng mua bán sáp nhập DN. Vấn đề này được đặt ra trong Nghị quyết như thế nào và các DN FDI cần lưu ý điều gì không?
Ông Vũ Đại Thắng: Các hoạt động M&A mua bán sáp nhập là hình thức đầu tư trên thị trường vốn được nhà nước thừa nhận, rất trong sáng minh bạch, trừ những trường hợp người ta lợi dụng hoạt động mua bán cổ phần cổ phiếu, để núp bóng, đội lốt.
Các hoạt động mua bán DN rất phù hợp với chủ trương chung của chúng ta. Hằng năm, chúng ta còn tổ chức những diễn đàn M&A lớn, để tìm cách phát huy hơn nữa chức năng huy động nguồn vốn, bổ sung thêm vốn từ thị trường cho các hoạt động đầu tư.
Tuy nhiên những hoạt động núp bóng, trục lợi từ hoạt động này đúng là có, và những chính sách đã được cơ quan chức năng tính toán đến.
Thời gian tới sẽ cố gắng để giải quyết triệt để vấn đề này, trong đó có việc yêu cầu đăng ký các việc mua bán các nhóm cổ phần cố phiếu, đặc biệt đối với các nhóm, DN có lĩnh vực hoạt động nhạy cảm cũng cần có đăng ký.
Ngoài ra đối với các DNNN, việc chúng ta đang tích cực cổ phần hóa, thoái vốn các DNNN là một chủ trương rất lớn của Đảng, Nhà nước. Bất kể nhà đầu tư tư nhân, trong và ngoài nước đều có quyền tham gia mua cổ phần, cổ phiếu khu mà NN cổ phần hóa, thoái vốn. Đây là việc bình thướng, chúng tôi sẽ cố gắng để mọi hoạt động diễn ra theo khuôn khổ pháp luật.
Muốn thực hiện tốt những mục tiêu Nghị quyết đề ra, ông có nghĩ chúng ta phải có phản ứng nhanh hơn nữa trong việc xây dựng chính sách thông thoáng phù hợp, nhất là phải có những tiêu chí, quy chuẩn chung khi cấp phép dự án đầu tư nước ngoài. Tới đây, Bộ KHĐT sẽ có động thái nào cho vấn đề này, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Thành: Thu hút FDI ở đây vấn đề chủ động của các địa phương, dựa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, Thủ tướng đã quy hoạch cho các địa phương.
Ví dụ như Hải Phòng, năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 821 phê duyệt điều chỉnh KT-XH, từ đó, thành phố sẽ tập trung làm tốt quy hoạch ở từng khu công nghiệp, khu kinh tế, cụm công nghiệp. Cố gắng phân định những lĩnh vực đầu tư của từng khu công nghiệp riêng để tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư, cùng nhóm ngành nghề họ vào khu vực đó.
Tiếp theo là chúng ta sẽ quản lý tốt được vấn đề môi trường, an ninh. Từ đó tạo ra mặt bằng chung để trong một địa giới hành chính, các nhà đầu tư hạn chế bớt được chi phí vận tải, hàng hóa, kết nối được các DN cùng ngành nghề, tạo dựng môi trường thuận lợi trong sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt, cải thiện thể chế môi trường kinh doanh phụ thuộc vào các cơ chế chính sách của Chính phủ, các bộ ngành.
Ở góc độ địa phương, chúng tôi đang đánh giá các chỉ số, ví dụ như VCCI đang đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là trách nghiệm của cán bộ công chức, khu vực quản lý nhà nước phải có tâm, trách nhiệm đối với định hướng của chính phủ, kế hoạch của địa phương trong việc thu hút các dòng đầu tư đó. Để khi nhà đầu tư nước ngoài tìm hiểu cơ hội đầu tư, họ cảm nhận đó như nhà của họ, người ta sẵn sàng định hình, quyết định đầu tư tại địa điểm đó. Tôi đó rằng đó là vấn đề chủ quan của mỗi địa phương. Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo sát sao vấn đề này, vai trò của mỗi địa phương sẽ đem lại thành công cho địa phương đó.
Ông Vũ Đại Thắng: Việc quan trọng nhất là phải cụ thể hóa các chỉ đạo, định hướng của Đảng vào các văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, về cơ bản, các nội dung của NQ 50 đã được tích hợp vào các dự án luật mới, sửa đổi, hiện đang soạn thảo để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội để xem xét trong kỳ họp sắp tới. Ví dụ, luật Đầu tư sửa đổi, luật DN sửa đổi, luật Chứng khoán….
Tất cả các luật này hiện nay trong quá trình sửa đổi, tích hợp toàn bộ các ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, từ việc định hướng xúc tiến đầu tư, ưu đãi đầu tư cũng đã được tích hợp. Chúng tôi tin tưởng rằng, một Nghị quyết quan trọng của Đảng, phù hợp với tình hình kinh tế mới của chúng ta, được cụ thể hóa bằng các bộ luật một cách nhanh chóng, chắc chắn viễn cảnh trong việc thay đổi, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở đất nước ta sẽ có những chuyển biến tốt trong thời gian sắp tới./
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang trải qua những ngày đầu tháng 9 khá ảm đạm, với khối lượng giao dịch suy yếu cho thấy dòng tiền lớn vẫn thận trọng đứng ngoài, bất chấp chứng khoán thế giới đang trải qua giai đoạn phục hồi mạnh mẽ sau khi Mỹ - Trung tuyên bố nối lại đàm phán.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Là quốc gia được đánh giá hưởng lợi lớn trong thương chiến Mỹ - Trung, nên việc căng thẳng thương mại giữa 2 nền kinh tế lớn thế giới hạ nhiệt dường như không khiến các nhà đầu tư trên thị trường Việt quá hứng khởi. Thậm chí nhóm cổ phiếu bất động sản khu công nghiệp lao dốc gần đây là minh chứng cho thấy thị trường phản ứng tiêu cực với thông tin các cuộc đàm phán thương mại được nối lại, khi có thể dẫn đến khả năng sự dịch chuyển của dòng vốn từ Trung Quốc đổ vào Việt Nam sẽ chững lại.
Đối với tình hình trong nước, đây cũng là giai đoạn vùng trống thông tin, nên cũng thiếu chất xúc tác để hỗ trợ thị trường, trong khi diễn biến lãi suất và tỷ giá chịu nhiều áp lực gần đây lại thêm ảnh hưởng tiêu cực lên thị trường, cũng như trước rủi ro cắt giảm tỷ lệ cho vay ký quỹ (margin) từ các công ty chứng khoán khi đối mặt với các cuộc thanh tra sắp tới.
Dù vậy, nhiều nhà đầu tư vẫn đang kỳ vọng thị trường đang ở vào cuối chu kỳ điều chỉnh, thể hiện qua thanh khoản gần như cạn kiệt. Mùa công bố báo cáo kết quả kinh doanh quý III được chờ đợi là chất xúc tác sẽ giúp dẫn dắt thị trường trong thời gian tới, khi mà kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm nay của phần lớn các doanh nghiệp tiếp tục cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ.
Theo thống kê kết quả lợi nhuận 6 tháng đầu năm, cho thấy có gần 250 doanh nghiệp trên sàn đã đạt từ 50% tiên độ kế hoạch năm 2019 trở lên, trong đó hơn 30 doanh nghiệp thậm chí đã vượt kế hoạch năm nay đề ra. Còn nếu so với cùng kỳ năm 2018, cũng có gần 350 doanh nghiệp đánh dấu tăng trưởng lợi nhuận ròng.
Xét theo nhóm có lợi nhuận tuyệt đối từ 100 tỷ trở lên, thì những doanh nghiệp đạt tiến độ kế hoạch lợi nhuận cao đáng chú ý như QNS lãi 390 tỷ, đạt 261% kế hoạch; NBB lãi 232 tỷ, đạt 152% kế hoạch; PVS lãi 565 tỷ, đạt 135% kế hoạch; DCM lãi 298 tỷ, đạt 124% kế hoạch; FTS lãi 205 tỷ, đạt 124% kế hoạch; IDC lãi 183 tỷ, đạt 122% kế hoạch; BHN lãi 335 tỷ, đạt 108% kế hoạch; PPC lãi 583 tỷ, đạt 100% kế hoạch; SMB lãi 105 tỷ, đạt 94% kế hoạch và PVT lãi 371 tỷ, đạt 93% kế hoạch năm. Thực tế nhóm cổ phiếu này thời gian đã chứng kiến giá cổ phiếu nhiều lần nổi sóng và đi lên tích cực.
Trong bối cảnh cuộc chiến tranh thương mại diễn ra suốt 1 năm qua, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã tận dụng được thị phần hàng hóa Trung Quốc bỏ lại để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ, giúp kết quả kinh doanh cải thiện mạnh mẽ. Thống kê cho thấy kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ 8 tháng qua đạt 38,6 tỷ USD, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước.
Còn nếu xét theo lợi nhuận tuyệt đối, 10 ông lớn lợi nhuận cao nhất là VHM lãi 9,78 nghìn tỷ, VCB lãi hơn 9 nghìn tỷ, GAS lãi hơn 6 nghìn tỷ, VNM lãi gần 5,7 nghìn tỷ, TCB lãi 4,5 nghìn tỷ, Vietinbank lãi 4,3 nghìn tỷ, HPG lãi 3,8 nghìn tỷ, MBBank lãi 3,77 nghìn tỷ, BIDV lãi 3,73 nghìn tỷ, VPB lãi 3,47 nghìn tỷ. Có thể thấy trong nhóm 10 doanh nghiệp lãi lớn nhất trên sàn thì đã có 6 ngân hàng, cho thấy lợi nhuận của các nhà băng tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ.
Nếu kết quả kinh doanh quý III của các doanh nghiệp trên tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ tiếp tục duy trì xu hướng đi lên vững chắc và tác động tích cực lan tỏa đến thị trường chung.
Trong thời gian qua các ngân hàng thương mại đã có rất nhiều chương trình ưu đãi lãi suất cho các doanh nghiệp, đặc biệt là 5 lĩnh vực ưu tiên với lãi suất từ 6%-6,5%/năm.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Điểm sáng xuyên suốt hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng thời gian qua là tích cực phối hợp với các cấp chính quyền địa phương đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng-doanh nghiệp trên toàn quốc, gắn với nhiệm vụ trọng tâm và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương.
Mối quan hệ cộng sinh
Theo các chuyên gia mối quan hệ ngân hàng-doanh nghiệp là cộng sinh. Bởi, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp cũng là gỡ khó cho nhà băng.
Thực tế cho thấy, không chỉ doanh nghiệp tìm đến ngân hàng mà các ngân hàng đã chủ động tìm kiếm và kết nối với doanh nghiệp để nắm bắt, tìm hiểu nguyên nhân khó khăn trong sản xuất kinh doanh, trong trả nợ ngân hàng, từ đó cùng tìm giải pháp tháo gỡ để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình, chính sách tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp sử dụng vốn vay hiệu quả.
Bà Huỳnh Thị Bích Huyền, Giám đốc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Ngọc Quang Phát (Cần Thơ) cho biết, doanh nghiệp này được thành lập từ năm 2010 với quy mô rất nhỏ, ban đầu hoạt động chủ yếu là thu mua và bán lại. Đến năm 2015 công ty mới bắt đầu mở rộng quy mô, đầu tư nhà máy nhằm mục đích khép kín quy trình từ thu mua đến chế biến nông sản xuất khẩu. Đó là thời điểm công ty khó khăn nhất do phải đầu tư mua sắm tài sản khá lớn, dẫn đến thiếu hụt nguồn vốn lưu động để sản xuất kinh doanh.
“Lúc đó, tôi rất cần tìm nguồn tài trợ cho dự án của mình nhưng các ngân hàng cũng khá dè dặt trước tình hình của công ty vì khi đó chúng tôi chẳng có gì ngoài tâm huyết làm nghề. Tuy nhiên, nhờ VietinBank, tôi đã thực hiện được dự định là đầu tư hoàn chỉnh nhà máy. Sau 5 năm gắn bó với ngân hàng này, doanh thu Ngọc Quang Phát từ chỉ vài chục tỷ đồng thì đến hết năm 2018 đã đạt gần 2.000 tỷ đồng,” bà Huyền chia sẻ.
Cũng theo bà Huyền, kinh doanh lương thực đặc biệt là ngành gạo cần nguồn vốn rất lớn vừa để bao tiêu cho người nông dân, vừa thu mua chế biến, khi xuất khẩu tiền về khá chậm, vì vậy nguồn vốn luân chuyển rất lớn mới có thể đáp ứng được nhu cầu. Bởi vậy, những đồng vốn đầu tiên của ngân hàng đã giúp Ngọc Quang Phát phát triển.
Đồng tình với bà Huyền, ông Phạm Tiến Hoài, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chế biến nông sản Tiến Thịnh cho biết, Tiến Thịnh chuyên sản xuất nước ép cô đặc và trái cây sấy dẻo để xuất khẩu. Sản phẩm chủ lực của công ty là các mặt hàng từ quả thanh long, mãng cầu. Mặc dù mới được thành lập từ 2017 nhưng đến nay, công ty đã có tốc độ tăng trưởng 200% sau mỗi năm. Năm 2019, doanh thu của công ty ước đạt 10 triệu USD.
Ông Hoài chia sẻ kinh nghiệm về vay vốn ngân hàng: “Khi có ý định làm việc với ngân hàng, tôi chuẩn bị bộ hồ sơ thủ tục pháp lý đầy đủ. Bản thân tôi cũng đã có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực này nên khi làm việc với Vietcombank, tôi chia sẻ toàn bộ mong muốn, kế hoạch và cả những khó khăn vướng mắc, từ đó, được ngân hàng hiểu và đồng hành suốt quá trình khởi nghiệp của tôi.”
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có được kết quả tốt đẹp khi đến với ngân hàng.
Một lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp Hà Nội cho biết, dù đã có nhiều doanh nghiệp đã được ngân hàng hỗ trợ từ vốn vay đến phương thức quản lý nhưng hiện vẫn còn nhiều doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn vướng tài sản thế chấp. Nguyên nhân là vì khối doanh nghiệp này có doanh số không cao, tài sản ít...
Chính vì vậy, ngân hàng cần cởi mở vấn đề này. Chẳng hạn, đối với những doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu đàn, có sản phẩm tốt, năng lực tốt thì nên cho vay tín chấp. Với doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tệ, cũng cần có chính sách riêng cho vay ngoại tệ để thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam ra thế giới. Vì để mang những sản phẩm Việt vào những thị trường có tiêu chuẩn cao như Mỹ, EU, Nhật Bản… rất khó, doanh nghiệp nào làm được cần phải khuyến khích.

Doanh nghiệp phải minh bạch về tài chính
Trên thực tế, các ngân hàng trong thời gian qua Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cũng như các ngân hàng thương mại đã có rất nhiều chương trình ưu đãi lãi suất cho các doanh nghiệp, đặc biệt là 5 lĩnh vực ưu tiên với lãi suất từ 6%-6,5%/năm.
Ông Phạm Quốc Thanh, Phó Tổng giám đốc HDBank chia sẻ, đơn vị này đã và đang triển khai nhiều sản phẩm, dịch vụ tín dụng đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho khách hàng trên cả nước như triển khai chính sách tín dụng nông nghiệp và nông thôn, khuyến khích khách hàng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch.
Cũng theo ông Thanh, ngân hàng thường xuyên tổ chức hội thảo nông nghiệp nông thôn tại địa bàn tất cả các xã trực thuộc huyện, tỉnh, thành phố có trụ sở của HDBank và HDSaison. Đây được xem là cách làm sáng tạo của HDBank trong việc giúp người nông dân, hợp tác xã nông nghiệp tiếp cận trực tiếp thông tin sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng để từ đó lựa chọn ra một sản phẩm vay phù hợp với nhu cầu của mình. Thông qua chương trình này, HDBank và HDSaison góp phần không nhỏ vào việc đẩy lùi “tín dụng đen” ở nông thôn.
Đặc biệt, HDBank cũng đã triển khai chính sách tài trợ theo chuỗi, cung ứng nhiều gói tài trợ chuỗi chuyên biệt cho nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau, cụ thể như: tài trợ chuỗi trang trại nuôi thủy sản, nuôi lợn; chuỗi máy nông nghiệp Yanmar; cung ứng vật tư nông nghiệp, phân bón, thức ăn gia súc; xăng dầu; chuỗi siêu thị tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp...
Ông Nguyễn Hoàng Dũng, Phó Tổng Giám đốc VietinBank cũng cho rằng nguồn vốn ngân hàng luôn sẵn sàng. Tuy nhiên để tiếp cận được vốn thì doanh nghiệp cần phải chứng minh được năng lực cũng như trình độ chuyên môn ngành nghề mình sản xuất. Có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi và có tài sản đảm bảo đáp ứng điều kiện quy mô vay vốn. Ngoài ra, phải minh bạch về tài chính và phương án sử dụng vốn.
Để nâng cao hiệu quả của các chương trình, chính sách tín dụng nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn và đáp ứng nhu cầu vốn vay phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ông Nguyễn Quốc Hùng-Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố góp phần quan trọng trong việc triển khai các chương trình cho vay, tích cực triển khai chương trình kết nối ngân hàng-doanh nghiệp và tháo gỡ đồng bộ những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng với ngân hàng là rất cần thiết.
Cũng theo ông Hùng, đối với các tổ chức tín dụng cần đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và của Ngân hàng Nhà nước, cần tiếp tục rà soát, cải tiến quy trình cho vay, thủ tục vay vốn, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước khuyến khích các tổ chức tín dụng phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp; tăng cường triển khai các sản phẩm phái sinh phòng ngừa rủi ro lãi suất, tỷ giá và giá cả hàng hóa nhằm giúp doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất khẩu phòng ngừa rủi ro trong quá trình kinh doanh, xuất khẩu hàng hóa.
GDP thực của Việt Nam còn cao hơn GDP đã được công bố bởi còn phải tính tới cả các bộ phận kinh tế chưa được quan sát hay kinh tế ngầm.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiến hành đánh giá lại quy mô GDP. Mặc dù những số liệu thống kê này chưa được công bố chính thức nhưng đã có một số thông tin được tiết lộ như: có hơn 76.000 doanh nghiệp bị “bỏ sót” trong các cuộc tổng điều tra, đánh giá GDP giai đoạn 2011-2017 trong đó có nhiều doanh nghiệp thuộc lĩnh vực an ninh-quốc phòng; GDP bình quân đầu người tăng tới hơn 600 USD…
Từ đó, nhiều câu hỏi đặt ra trong dư luận là: vì sao phải tiến hành đánh giá lại GDP hay tác động của vấn đề là gì đối với "sức khỏe" nền kinh tế?
Rất nhiều câu hỏi đặt ra trong dư luận sau khi có những thông tin lan truyền trên hầu khắp các phương tiện truyền thông như: có hơn 76.000 doanh nghiệp bị “bỏ sót” trong các cuộc tổng điều tra trước, nay được “phát hiện”, bổ sung, khiến GDP giai đoạn 2011-2017 tăng thêm 25,4%/năm. Cụ thể, với tổng quy mô kinh tế theo giá thời điểm năm 2017 là 220 tỉ USD, sau khi được tính toán lại, GDP giai đoạn 2011-2017 đã tăng thêm 25,4%/năm, tương đương tăng 275 tỷ USD. GDP bình quân đầu người đạt gần ngưỡng 3.000 USD thay vì mức 2.385 USD như kết quả được công bố năm 2017.
Ông Nguyễn Bích Lâm – Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê khẳng định: “Việc đánh giá lại quy mô GDP là việc làm thường xuyên, theo thông lệ quốc tế. Hàng năm cơ quan thống kê chỉ làm điều tra mẫu. Cứ 5 năm 1 lần có tổng điều tra nông thôn-nông nghiệp-thủy sản. Tổng điều tra nông thôn-nông nghiệp-thủy sản được tiến hành năm 2011 và 2016 còn tổng điều tra kinh tế được tiến hành năm 2012-2017 cho nên đến thời điểm năm 2018 chúng tôi hoàn toàn có đầy đủ thông tin từ các cuộc tổng điều tra để đánh giá lại quy mô GDP.
Thông lệ quốc tế cũng quy định các cơ quan thống kê của các nước trên thế giới cũng đánh giá lại quy mô GDP sau khi họ có đầy đủ thông tin. Lý do thứ 3 là những năm gần đây, bên cạnh các thông tin tổng điều tra nông thôn-nông nghiệp-thủy sản, tổng điều tra kinh tế, tổng cục thống kê cũng có được thông tin chia sẻ từ hồ sơ hành chính của Tổng cục Thuế. Đấy là những nguồn thông tin rất đầy đủ để Tổng cục Thống kê tiến hành đánh giá lại quy mô GDP vào năm 2018.”
Theo chuyên gia kinh tế Ngô Văn Điểm – nguyên Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam, hầu hết các quốc gia có năng lực thống kê tốt đều tiến hành rà soát, đánh giá lại quy mô GDP thường xuyên và định kỳ. Từ năm 2010 đến nay, nhiều quốc gia như: Mỹ, Trung Quốc, Canada, Đức, Nga, Italy, Indonesia... đều thực hiện hình thức này.
Tới nay, cũng chưa có nền kinh tế nào đo lường được một cách đầy đủ tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Việc Tổng cục thống kê tiến hành đánh giá lại quy mô nền kinh tế hay nói theo cách thông thường là điều tra-xác định lại quy mô GDP cũng nhằm khẳng định chuẩn xác hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Kết quả đánh giá lại quy mô GDP mới sẽ tạo ra mức tăng đáng kể trong tổng giá trị GDP và GDP bình quân đầu người, từ đó tác động đến định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong các giai đoạn tiếp theo. Đồng nghĩa với việc chỉ số GDP mới tác động - làm thay đổi nhiều mặt, khi cơ quan quản lý dựa vào đó, để nghiên cứu-ban hành những chủ trương, chính sách phù hợp hơn với tình hình thực tiễn - vừa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế đất nước; vừa xác định được tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam so với tăng trưởng kinh tế các nước trong khu vực và thế giới.
“Sự đảo lộn này là cần thiết để có được những con số xác thực để đề ra những chính sách phù hợp và đúng. Chính sách có đúng mới tổ chức thực hiện được còn nếu chúng ta cứ nghĩ 1 chiều rằng tính toán lại là thay đổi số liệu tính toán, là thay đổi phương pháp tính toán hoặc có ý kiến cho rằng đấy là xào số liệu tôi nghĩ rằng như thế là không đúng. Chúng ta phải thực sự khách quan, thực sự khoa học để thấy được bức tranh của kinh tế Việt Nam.
Đặc biệt sắp tới chúng ta xác định chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2030 và phương hướng nhiệm vụ đến năm 2025 thì những con số này là rất cần thiết. Cần thiết để chúng ta có cách nhìn: ta đang ở đâu, có đúng như thế không, để xác định được điều kiện để cải thiện. Quan trọng nhất là phải được chia sẻ dữ liệu lớn” - chuyên gia kinh tế Ngô Văn Điểm nói.
Đó cũng là nhận định của chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong khi tổng sản phẩm trong nước - chỉ tiêu GDP - là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh kết quả sản xuất cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế - phản ánh mối quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối thu nhập, sử dụng hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân; phản ánh quy mô, tiềm lực kinh tế của 1 quốc gia. Đây là cơ sở tính toán các chỉ tiêu kinh tế quan trọng như tăng trưởng kinh tế, GDP bình quân đầu người, năng suất lao động hay tỉ lệ nợ công và nhiều chỉ tiêu quan trọng khác.
“Trong đợt tổng điều tra vừa qua xuất hiện những thông tin mới nhất là danh sách của 76.000 doanh nghiệp có các doanh nghiệp của bộ quốc phòng và bộ công an. Rõ rằng đây là 1 lực lượng kinh tế lớn, chưa được đưa vào. Thứ nữa là trong quá trình chúng ta áp dụng các phương pháp đo lường GDP, chúng ta mới chỉ áp dụng phương pháp sản xuất theo quý, cùng lắm theo năm còn theo 5 năm lại theo phương pháp thu nhập. Thế thì theo thông lệ quốc tế thì áp dụng phương pháp sản xuất cho thời gian dài là điều cần thiết và đây cũng là 1 điểm mới.
Xuất phát từ những yêu cầu đó, việc đánh giá lại GDP là cần thiết và việc này xuất hiện 2 vấn đề mới là áp dụng phương pháp sản xuất cho toàn bộ quá trình đánh giá, 2 là đưa vào 1 phần nền kinh tế chưa được quan sát giúp GDP tăng trưởng trên dưới 25%, rõ ràng đây là 1 điểm mừng. Bản thân chúng tôi dù chưa công bố số liệu này nhưng GDP thực của Việt Nam còn cao hơn GDP đã được công bố bởi còn phải tính tới cả các bộ phận kinh tế chưa được quan sát hay kinh tế ngầm” - chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong nêu ý kiến.
Dự kiến, 12/9 tới, Tổng cục Thống kê chính thức công bố kết quả này – kết quả thực hiện Đề án đánh giá lại quy mô GDP sau khi đã trình Chính phủ xem xét.
Sáng 10/9, tại trụ sở Bộ Tài chính, Thứ trưởng Trần Xuân Hà có buổi tiếp và làm việc với ông Robert Kaproth – Trợ lý Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ cùng đoàn công tác. Tham dự buổi tiếp có đại diện Lãnh đạo một số đơn vị chức năng thuộc Bộ Tài chính.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thứ trưởng Trần Xuân Hà chào mừng Robert Kaproth cùng đoàn sang thăm và làm việc với Bộ Tài chinh
Chào mừng ông Robert Kaproth – Trợ lý Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ cùng đoàn công tác sang thăm và làm việc với Bộ Tài chính Việt Nam, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho rằng đây là cơ hội tốt để hai bên trao đổi, chia sẻ những vấn đề cùng quan tâm về triển vọng kinh tế song phương và khu vực, triển vọng kinh tế vĩ mô và tài chính ở Việt Nam; Những ưu tiên của mỗi bên trong tiến trình Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC tập trung vào nợ bền vững và minh bạch trong tài chính cơ sở hạ tầng; cũng như tiềm năng hợp tác tài chính song phương giữa Việt Nam – Hoa Kỳ.
Tại buổi tiếp, chia sẻ về Tiến trình hợp tác APEC, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết: Tiến trình Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC năm 2017 được tổ chức tại Việt Nam. Tại Hội nghị này, Việt Nam đã đưa ra một số chủ đề về phát triển kinh tế vĩ mô, các yếu tố của nền kinh tế mà các quốc gia thành viên quan tâm như: Vấn đề tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng, tài chính với rủi ro thiên tai, tài chính bao trùm, thuế quốc tế, vấn đề về chống sói mòn cơ sở thuế của OECD... Việt Nam hoan nghênh khi Hội nghị Bộ trưởng APEC 2018 đã tiếp tục đưa các chủ đề này vào trong chương trình nghị sự và được thảo luận ở các góc độ khác nhau dựa trên các chủ đề đó.

Thứ trưởng Trần Xuân Hà tại buổi tiếp
Thứ trưởng cho biết thêm: Năm 2019, dưới sự chủ trì của Chile, Hội nghị Bộ trưởng APEC 2019 đưa ra các chủ đề chính: Thúc đẩy hội nhập thị trường tài chính thông qua kinh tế số; Tài chính bao trùm thu hẹp khoảng cách bằng số hóa; Quản lý tài chính rủi ro thiên tai, giảm nhẹ tổn thất và tăng khả năng chống chịu; Tăng cường hợp tác thuế quốc tế và minh bạch thuế. Trong các vấn đề này đều có những kế thừa của các Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC trước đó.
Về vấn đề quản lý nợ công và nợ Chính phủ, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho rằng: Việt Nam đang hướng tới quản lý chặt chẽ, minh bạch thông qua cải thiện quy định pháp luật như Luật PPP, nội dung rõ ràng hơn các cam kết của nhà đầu tư. Thứ trưởng mong muốn Hoa Kỳ tiếp tục cập nhật thông tin, thảo luận các chủ đề này.
Liên quan tới công tác chuẩn bị Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN 2020, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết, hiện nay Bộ Tài chính đã xây dựng đề án để trình Chính phủ xem xét quyết định.
“Hiện Việt Nam đang phối hợp với các quốc gia thành viên lựa chọn chủ đề cho phù hợp. Bên cạnh đó, các Bộ trưởng Tài chính khu vực cũng đã đánh giá tình hình hợp tác về tài chính thời gian qua trên các lĩnh vực: Hợp tác phát triển thị trường vốn; tự do thị trường tiền tệ, tự do hóa tài sản vốn, kế toán, kiểm toán, thuế, hải quan, bảo hiểm. Với vai trò chủ trì Tiến trình ASEAN năm 2020, Việt Nam đang phối hợp với các nước ASEAN để lựa chọn các chủ đề cho phù hợp với điều kiện của tất cả các quốc gia trong khu vực”. Thứ trưởng Trần Xuân Hà nhấn mạnh.
Thứ trưởng cho rằng, quan hệ của các nước thành viên APEC cũng như ASEAN đang ngày càng chặt chẽ hơn. Những kết quả của các Tiến trình được các nước thành viên quan tâm và triển khai vào hoạt động quản lý của mình. Điều này khẳng định, nếu có chủ đề tốt và sự phối hợp chặt chẽ giữa các quốc gia sẽ góp phần tích cực trong cải cách quản lý của mỗi nước đem lại hiệu quả tích cực.

Toàn cảnh buổi tiếp
Chia sẻ về tình hình hợp tác tài chính song phương giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, Thứ trưởng Trần Xuân Hà ghi nhận và đánh giá cao sự hỗ trợ kỹ thuật của Bộ Tài chính Hoa Kỳ trong thời gian qua. Thông tin về dự thảo đề xuất khung hợp tác song phương giữa Bộ Tài chính hai nước, Thứ trưởng cho biết, hiện Bộ Tài chính Việt Nam đang tham vấn nội bộ, trong đó đưa ra lĩnh vực hợp tác phát triển thị trường nợ có tính thanh khoản cao hơn, hình thành công cụ tài trợ, huy động thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia vào đầu tư cơ sở hạ tầng; phối hợp hoàn thiện thể chế chính sách cho các dự án về cơ sở hạ tầng để đáp ứng chuẩn mực cho thị trường tài chính cho các dự án này; Các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật phát triển thị trường tài chính, thị trường vốn, phân tích nghĩa vụ dự phòng của Chính phủ. Thứ trưởng tin tưởng mối quan hệ hợp tác giữa Bộ Tài chính hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ sẽ ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả thiết thực hơn nữa trong thời gian tới.
Phát biểu tại buổi tiếp, Trợ lý Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Robert Kaproth mong muốn tiếp tục sẽ thúc đẩy thảo luận chủ đề này nhằm phát triển huy động vốn cho cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo bền vững nợ công và chất lượng các dự án đạt hiệu quả cao. Hoa Kỳ sẵn sàng trao đổi với các quốc gia thành viên APEC về hợp tác đầu tư cho cơ sở hạ tầng theo 03 cách: thúc đẩy thông lệ tốt trong đầu tư cơ sở hạ tầng; hỗ trợ kỹ thuật đối với nền kinh tế mới nổi, thu nhập thấp; chú trọng những kinh nghiệm làm tốt của các nước thành viên với nhau.

Ông Robert Kaproth phát biểu tại buổi tiếp
Liên quan đến nội dung này, Trợ lý Robert Kaproth dẫn chứng, Việt Nam đã có nhiều kết quả tốt thời gian qua điển hình là việc giảm tỷ lệ nợ công/GDP. Do đó, trong các nước thành viên APEC, Việt Nam không chỉ học hỏi các quốc gia khác mà còn có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình cho các nước thành viên. Ông Robert Kaproth bày tỏ sự vui mừng khi Việt Nam quan tâm ủng hộ chủ đề này.
Về hợp tác song phương giữa hai bên, ông Robert Kaproth mong muốn sẽ sớm nhận được những kết quả tham vấn nội bộ của Bộ Tài chính Việt Nam, cũng như đẩy mạnh hoạt động hợp tác hỗ trợ kỹ thuật trong các lĩnh vực quản lý ngân sách, quản lý tiền mặt kho bạc, huy động vốn cho phát triển hạ tầng và năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới./.
Sáng ngày 12/9/2019, Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị trực tuyến phổ biến Kế hoạch hành động của Bộ Tài chính triển khai nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng 2025. Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai tham dự và chỉ đạo hội nghị.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ứng dụng sâu, rộng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ tài chính
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cho biết, trong giai đoạn vừa qua, ngành Tài chính đã có những bước phát triển nhanh và vững chắc, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để đạt được những thành tựu đó, phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của hệ thống tin học và thống kê ngành Tài chính.
Đến nay, công nghệ thông tin đã được ứng dụng sâu, rộng vào hầu hết các hoạt động nghiệp vụ tài chính, trở thành "mạch máu" không thể thiếu trong các hoạt động nghiệp vụ như: quản lý điều hành ngân sách nhà nước; quản lý thu-chi ngân sách nhà nước; thanh toán điện tử và quản lý trái phiếu Chính phủ; triển khai thuế điện tử, hải quan điện tử, cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN; quản lý nợ công; quản lý giá, tài sản công; quản lý, giám sát thị trường tài chính; dự trữ nhà nước... cùng các nhiệm vụ quản lý nội Ngành.
Thứ trưởng Vũ Thị Mai nhấn mạnh, phát triển công nghệ thông tin được xác định là công cụ hữu hiệu để thực hiện 3 đột phá chiến lược trong phát triển đất nước, là chìa khóa mở ra cánh cửa để Việt Nam bước vào giai đoạn mới. Trên tinh thần đó, ngày 7/3/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020.
Triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp tại Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ, ngày 21/5/2019, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 844/QĐ-BTC ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tài chính triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng 2025.

Ông Nguyễn Thành Phúc - Cục trưởng Cục Tin học hóa (Bộ Thông tin và Truyền thông) khẳng định, Bộ Tài chính là Bộ tiên phong trong triển khai nghiêm túc, bài bản các chủ trương mới của Chính phủ về Chính phủ điện tử.
Đó là sự kiện quan trọng trong ứng dụng công nghệ thông tin để đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công của Bộ Tài chính, đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, phát triển Tài chính điện tử dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở hướng tới Tài chính số.
Để đảm bảo triển khai thành công ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Tài chính theo định hướng của Đảng và Chính phủ và theo Kế hoạch hành động của Bộ Tài chính, Thứ trưởng đề nghị tất cả các đơn vị trong ngành Tài chính cần coi việc phát triển Tài chính điện tử hướng tới Tài chính số là nhiệm vụ then chốt của sự nghiệp hiện đại hoá.
Đặc biệt, Thứ trưởng nhấn mạnh vai trò của thủ trưởng, lãnh đạo các đơn vị, cán bộ của đơn vị nghiệp vụ. Nếu nghiệp vụ không đưa ra yêu cầu thì công nghệ thông tin không thể đáp ứng được. Muốn đưa ra yêu cầu thì phải hiểu chuyển đổi số, cách mạng công nghệ 4.0 là gì và công nghệ thông tin có thể đáp ứng được gì cho nghiệp vụ.
Quan trọng nhất, theo Thứ trưởng Vũ Thị Mai, chuyển đổi số không cần nhiều cơ sở vật chất mà cái cần chính là thay đổi tư duy, "đó là thay đổi về nhận thức và sự hiểu biết về Chính phủ điện tử, Chính phủ số và cuộc Cách mạng Công nghệ 4.0. Chúng ta cần quán triệt và nhận thức đầy đủ, từ đó mới có thể làm thay đổi được." - Thứ trưởng nhấn mạnh.
Xác định các mục tiêu cụ thể
Chia sẻ thêm về Quyết định số 844/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Nguyễn Đại Trí - Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính cho biết, Quyết định số 844/QĐ-BTC đề ra nhiều tiêu chí cụ thể về dịch vụ công.
Theo đó, giai đoạn 2019 – 2020, hoàn thiện khung pháp lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tăng cường thuê dịch vụ công nghệ thông tin tại Bộ Tài chính; ban hành các văn bản quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu trong ngành Tài chính, các quy định, quy chế về quản lý, vận hành các hệ thống công nghệ thông tin ngành Tài chính.
Mục tiêu tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tài chính đạt từ 20% trở lên; tích hợp 30% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của Bộ Tài chính với Cổng Dịch vụ công quốc gia; 100% hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện thông qua Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử Bộ Tài chính.

Ông Nguyễn Đại Trí - Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính chia sẻ thêm về Quyết định số 844/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Đến năm 2020, ngành Tài chính phấn đấu tối thiểu 30% dịch vụ công trực tuyến thực hiện ở mức độ 4; 100% dịch vụ công được hỗ trợ giải đáp thắc mắc cho người dân, doanh nghiệp; công khai mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến; 20% dịch vụ công trực tuyến sử dụng chữ ký số trên nền tảng di động để thực hiện thủ tục hành chính; 50% dịch vụ công trực tuyến xử lý bằng hồ sơ điện tử; 20% thông tin của người dân được tự động nhập vào biểu mẫu trực tuyến; 50% dịch vụ công trực tuyến sử dụng dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp...
Trong giai đoạn 2021-2025, Bộ Tài chính sẽ tích hợp 50% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của Bộ Tài chính với Cổng Dịch vụ công quốc gia; tỷ lệ hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đạt từ 50% trở lên; 80% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; 90% hồ sơ công việc tại Bộ Tài chính được xử lý trên môi trường mạng...
Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe ông Nguyễn Thế Trung - Thành viên Tổ công tác giúp việc Chủ tích Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử trình bày các định hướng triển khai xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử; đại diện lãnh đạo Cục Tin học và Thống kê tài chính giới thiệu về Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Tài chính và Kiến trúc cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính; đại diện lãnh đạo Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước, Sở Tài chính địa phương chia sẻ về việc triển khai Chính phủ điện tử trong từng lĩnh vực…
08 nội dung trọng tâm
Xác định năm 2019 là năm bứt phá trong xây dựng Chính phủ điện tử, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cho rằng, việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ bó hẹp trong phạm vi một hệ thống, một ngành và phải đồng bộ, phục vụ những nhiệm vụ chung của Chính phủ, các Bộ ngành khác, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Theo đó, Thứ trưởng đề nghị toàn ngành Tài chính tập trung thực hiện 08 nội dung trọng tâm trong năm 2019 và các năm tiếp theo, cụ thể:
Một là, tập trung triển khai các nhiệm vụ giao Bộ Tài chính chủ trì thực hiện tại Nghị quyết số 17/NQ-CP: Hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính trong năm 2022, tiếp tục phát triển, hoàn thiện đến năm 2025; Hoàn thiện xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành quan trọng của ngành tài chính về thuế, hải quan, kho bạc, hoàn thành trong năm 2019; Nghiên cứu, đề xuất, xây dựng và triển khai Hệ thống thông tin Ngân sách và Kế toán nhà nước số trong giai đoạn 2019 - 2020; thực hiện xây dựng và triển khai trong giai đoạn 2021 - 2025; Nghiên cứu, đề xuất giải pháp huy động nguồn lực để triển khai các dự án xây dựng Chính phủ điện tử.

Toàn cảnh hội nghị
Hai là, triển khai kết nối liên thông gửi, nhận văn bản điện tử, xây dựng cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử của Bộ Tài chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 theo danh mục Thủ tướng đã ban hành và khả năng sẵn sàng kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Ba là, xây dựng các hệ thống ứng dụng cốt lõi và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo công nghệ hiện đại của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 phục vụ công tác chỉ đạo, quản lý và điều hành của các cấp trong ngành Tài chính.
Bốn là, xây dựng, khai thác, sử dụng hiệu quả các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nội bộ ngành Tài chính, ưu tiên các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính, nâng cao năng suất hiệu quả công việc.
Năm là, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin trong ngành theo các công nghệ hiện đại (điện toán đám mây ngành Tài chính) phù hợp với yêu cầu triển khai trong từng giai đoạn.
Sáu là, đảm bảo an ninh an toàn cho hoạt động của các hệ thống thông tin ngành Tài chính trên các phương diện: thể chế, phương án kỹ thuật và quản lý vận hành.
Bảy là, đảm bảo điều kiện, năng lực (về hạ tầng kỹ thuật công nghệ, về nhân sự triển khai) đồng bộ, thống nhất tại các cơ quan trung ương và các cơ quan tài chính địa phương đáp ứng yêu cầu triển khai ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động nghiệp vụ tài chính.
Tám là, đổi mới công tác quản lý đầu tư, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ngành Tài chính đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện đại hóa Ngành.
"Phát huy kết quả đã đạt được, tin tưởng rằng ứng dụng công nghệ thông tin ngành Tài chính trong giai đoạn 2019-2020, định hướng 2025 sẽ có những bước chuyển mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mục tiêu đã đề ra." - Thứ trưởng Vũ Thị Mai nhấn mạnh.
Đánh giá cao việc Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị phổ biến Kế hoạch hành động của Bộ Tài chính triển khai nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng 2025, ông Nguyễn Thành Phúc - Cục trưởng Cục Tin học hóa (Bộ Thông tin và truyền thông) cho rằng, Thứ trưởng Vũ Thị Mai đã chỉ đạo, quán triệt cụ thể quan điểm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về triển khai Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số giúp làm thay đổi nhận thức của cán bộ các cấp trong ngành Tài chính từ Trung ương đến địa phương trong việc triển khai Chính phủ điện tử.
Khẳng định Bộ Tài chính là Bộ tiên phong trong triển khai nghiêm túc, bài bản các chủ trương mới của Chính phủ, luôn hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đặt ra về triển khai Chính phủ điện tử, ông Phúc cho biết, Bộ Thông tin và truyền thông cam kết sẽ đồng hành cùng Bộ Tài chính trong triển khai nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng 2025 của Bộ.
Sáng 12/9, Hội nghị toàn quốc về Phát triển bền vững 2019 với chủ đề “Vì một thập niên phát triển bền vững hơn” đã khai mạc tại Hà Nội. Kinh tế tuần hoàn, phát triển nguồn vốn con người và hợp tác công tư để phát triển bền vững là 3 vấn đề trọng tâm được thảo luận tại hội nghị.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Hội nghị năm nay được đặt trong bối cảnh 10 năm tới (2020-2030). Đây là thời điểm quan trọng được coi là “nước rút” để Việt Nam hoàn thành Chương trình nghị sự 2030 vì sự Phát triển bền vững. Những kiến nghị từ hội nghị được kỳ vọng sẽ là đầu vào giá trị, đóng góp tích cực nội dung xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030, với tầm nhìn và chính sách mới, để đưa đất nước bước vào một thập niên Phát triển bền vững hơn.
Hội nghị do Hội đồng Quốc gia về Phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Ngân hàng Thế giới tổ chức, với sự tham gia chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp nhằm mục đích chia sẻ các giải pháp thiết thực, hiệu quả để phát triển nguồn vốn con người, xây dựng một nền kinh tế phi phát thải (CE), thúc đẩy các mô hình kinh tế bền vững giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân.
Những giải pháp được chia sẻ tại Hội nghị lần này được kỳ vọng sẽ là đầu vào giá trị, đóng góp tích cực cho nội dung Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2021-2030 với tầm nhìn và chính sách mới nhằm đưa đất nước tiến xa hơn tới một thập kỷ phát triển bền vững hơn. Trong khuôn khổ hội nghị diễn ra 3 phiên thảo luận chuyên đề:
Phát triển nền kinh tế tuần hoàn trong thập kỷ 2020-2030 với mô hình tăng trưởng liên ngành ưu việt và sự cải biến trong nguyên lý thiết kế, sử dụng nguyên vật liệu;
Quan hệ đối tác công tư: Nhu cầu thực tiễn và định hướng chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển bền vững;
Nguồn vốn nhân lực: Chỉ số vốn con người, vai trò lãnh đạo bền vững và điều phối cấp Nhà nước trong dài hạn.

Báo cáo nhấn mạnh, để thu hút tốt hơn nguồn lực của khối kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế xã hội cũng như giúp thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) cần có các giải pháp thúc đẩy quan hệ đối tác công tư (PPP) mạnh mẽ hơn nữa; cũng như sớm ban hành Luật Đầu tư theo hình thức PPP để thay đổi mô hình PPP như hiện nay.
Bộ Tài chính đánh giá thương mại điện tử (TMĐT) phát triển là xu hướng tất yếu, do đó nhà nước cần có các quy định cụ thể để thực hiện việc quản lý.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo một nghiên cứu của Google và Temasek (Singapore), thị trường thương mại điện tử Đông Nam Á được dự đoán sẽ chạm mốc 102 tỷ USD vào năm 2025.
Trong bối cảnh ngày càng có nhiều người tiêu dùng tin tưởng và lựa chọn hình thức mua sắm trực tuyến vì sự tiện lợi mà nó mang đến, các nhà đầu tư trong lĩnh vực e-commerce cũng mạnh dạn hơn trong việc tìm kiếm và đầu tư vào những tiềm năng mới. Tại Đông Nam Á, mạng xã hội TMĐT thậm chí đã bùng nổ trước khi làn sóng TMĐT lên ngôi. Từ lâu, các hội nhóm trên Facebook đã trở thành diễn đàn mua bán của nhiều người dùng khi mà Facebook Marketplace còn chưa được giới thiệu.
Tại Việt Nam, trong năm qua, thị trường TMĐT có nhiều chuyển động sôi nổi, các hoạt động kinh doanh, buôn bán thông qua mạng trực tuyến không hề có dấu hiệu dừng lại mà được dự đoán sẽ tiếp tục bùng nổ trong các năm tới. Theo số liệu công bố của Statista (Hãng nghiên cứu thị trường của Đức), năm 2018, doanh thu TMĐT Việt Nam đạt 2,269 tỷ USD và nằm trong top 6 nền TMĐT phát triển nhất năm 2018.
Còn theo một báo cáo của diễn đàn The LEADER , Việt Nam, Thái Lan và Malaysia là những thị trường TMĐT có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới.
Cùng với sự phát triển này, thị trường hàng hóa thông qua TMĐT cũng đang mở rộng sang các thị trường mới. Điển hình là Thái Lan (+104%), Malaysia (+88%) và Việt Nam (+69%), nơi mà TMĐT chỉ mới ở giai đoạn đầu nhưng đã ghi nhận những mức tăng trưởng đáng kể.
Tuy nhiên, mặt trái của việc bùng nổ như vũ báo của TMĐT là đang thiếu sự kiểm soát. Hiện nay, giao dịch TMĐT qua biên giới đang rất dễ dàng, không chỉ với doanh nghiệp mà cả cá nhân.
Ví dụ như, chỉ cần có tài khoản và thẻ thanh toán quốc tế, người mua có thể chọn mua bất kỳ món hàng nào trên các trang như Amazon, Alibaba… với chi phí khá hợp lý và thời gian vận chuyển chỉ 5-15 ngày.
Bên cạnh đó, người mua hàng còn có thể đặt lệnh mua hàng trực tiếp từ nước ngoài ngay trên các trang TMĐT trong nước như Lazada, Shopee… thông qua dịch vụ liên kết do các trang này cung cấp. Nhiều trang web bán hàng tổng hợp của nước ngoài hoặc website riêng của các nhãn hiệu hàng hóa trên thế giới cũng cho phép mua hàng và thanh toán trực tiếp qua thẻ thanh toán quốc tế.
Trên thực tế đã phát sinh nhiều tình huống đòi hỏi cần có quy định quản lý nghiêm ngặt. Bộ Tài chính khẳng định "Khi TMĐT qua biên giới phát triển mạnh mẽ, các cơ quan quản lý nhà nước phải đối mặt với các vấn đề như thiếu thông tin, khai báo không chính xác; Khó ngăn chặn các lô hàng cấm; Hàng hạn chế nhập khẩu, xuất khẩu; Hàng buôn lậu do số lượng hàng hóa gửi nhỏ lẻ trong khi chất lượng thông tin; Dữ liệu trước về hàng hóa không có nhiều; Khó kiểm soát chống gian lận về phân loại và xuất xứ hàng hóa để được hưởng các mức thuế suất ưu đãi đặc biệt…".
Bộ Tài chính đánh giá TMĐT phát triển là xu hướng tất yếu, do đó nhà nước cần có các quy định cụ thể để thực hiện việc quản lý.
Trước đó, nhằm có chế tài quản lý TMĐT, đã có hàng loạt quy định được xây dựng trong Luật Giao dịch TMĐT, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, Luật An ninh mạng, Luật Quản lý thuế… Tuy nhiên, các quy định này chưa đầy đủ, đồng bộ nên các bên tham gia hoạt động TMĐT, các cơ quan quản lý nhà nước còn gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện.
Trước tình hình đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến Dự thảo Đề án quản lý hoạt động TMĐT đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng ngành này trung bình 25%-30%/năm và có khả năng đứng thứ 3 Đông Nam Á vào năm 2025.
Tại Dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất một số giải pháp như cần quy định chủ hàng hóa gửi kho ngoại quan phải cung cấp thông tin về hàng hóa và người bán hàng; cần quy định cụ thể về chấp nhận trị giá mua bán qua TMĐT là trị giá thực của giao dịch để thực hiện tính thuế với điều kiện các thông tin về việc mua bán được gửi đến hệ thống quản lý chung...
Mục tiêu của Đề án là đưa ra các giải pháp quản lý hoạt động TMĐT đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhằm: Đảm bảo việc quản lý toàn diện của nhà nước trong lĩnh vực TMĐT. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo việc kiểm soát chặt chẽ, đúng quy định pháp luật tránh lợi dụng hoạt động TMĐT để trốn thuế, vi phạm các chính sách mặt hàng, sở hữu trí tuệ, xuất xứ, vận chuyển hàng cấm vào Việt Nam và ngược lại.
Đối tượng điều chỉnh của Đề án gồm: Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến hoạt động TMĐT (cơ quan hải quan, cơ quan thuế, cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ quan quản lý hoạt động TMĐT); người mua hàng (tổ chức, cá nhân); người bán hàng; chủ các sàn giao dịch TMĐT; Các doanh nghiệp thực hiện vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Doanh nghiệp là đại lý cho các sàn giao dịch TMĐT; website TMĐT bán hàng; Doanh nghiệp là đại lý làm thủ tục hải quan…
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Trong thời gian qua, những nỗ lực cải cách, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các nghiệp vụ của ngành Tài chính đã được cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước đánh giá cao. Tuy nhiên, yêu cầu về tiếp tục đổi mới công tác hoàn thiện kiến trúc điện tử ngành Tài chính vẫn là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách trong bối cảnh nền kinh tế số. Vì vậy, việc nghiên cứu để đổi mới quy trình, nghiệp vụ ngành Tài chính phù hợp với mô hình kinh tế số cần phải được thực hiện thường xuyên và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị trong Ngành.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Chuyển đổi kinh tế số ở tầm quốc gia hay trong ngành Tài chính nói riêng là yêu cầu bức thiết và tuân theo xu thế chung toàn cầu. Trong những năm qua, Bộ Tài chính đã từng bước chuẩn bị tốt các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết cho quá trình chuyển đổi cũng như tạo dựng được các nền tảng kinh tế số bước đầu như xây dựng được hạ tầng liên kết, băng thông, bảo mật, đội ngũ nguồn nhân lực... Đặc biệt, Bộ Tài chính đã đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiệp vụ nhằm xây dựng chính phủ điện tử ngành Tài chính. Theo đó, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành các Nghị định số 27/2007/NĐ-CP, Nghị định số 156/2016/NĐ-CP, Nghị định số 165/2018/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính, cùng với việc xây dựng các Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đã và đang xây dựng các văn bản liên quan đến lĩnh vực dịch vụ công, thống kê tài chính, tạo nền tảng cho xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê, công khai ngân sách, hướng đến hoàn thiện cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho việc triển khai xây dựng, phát triển kinh tế số trong lĩnh vực tài chính; Ứng dụng chuyên ngành, ứng dụng dịch vụ công trực tuyến; Chuyển đổi về nền tảng tích hợp, chia sẻ, liên thông dữ liệu... Trong ứng dụng thực tiễn, tính đến hết năm 2018, tổng số thủ tục hành chính tại Bộ Tài chính đã triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến là 946 thủ tục, trong đó bao gồm: 264 dịch vụ công trực tuyến mức độ 1; 335 dịch vụ công trực tuyến mức độ 2; 85 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 246 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4...
Để tiếp tục phát huy vai trò của Chính phủ kiến tạo trong bối cảnh số, ngày 07/03/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến năm 2025. Thực hiện Nghị quyết này, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-BTC ngày 21/5/2019 ban hành chương trình hành động của Bộ Tài chính triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử, trong đó xác định mục tiêu tổng quát hướng đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ngành Tài chính và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; dựa trên dữ liệu lớn và dữ liệu mở hướng tới Tài chính số với mục tiêu lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; tạo nền tảng cho ngành Tài chính tiếp cận, nắm vai trò chủ động, kiến tạo và đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền Tài chính số hiện đại tại Việt Nam.
Theo Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính), với những mục tiêu mà Quyết định số 844/QĐ-BTC của Bộ Tài chính đề ra cho từng giai đoạn để xây dựng môi trường công nghệ số cho thấy cần phải có những định hướng nghiệp vụ ngành Tài chính phù hợp với mô hình kinh tế số. Cụ thể:
Thứ nhất, xây dựng Chính phủ điện tử gắn với Chiến lược ngành Tài chính, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện Chiến lược ngành Tài chính giai đoạn 2021-2030. Thực hiện chuyển đổi quy trình hành chính và dịch vụ công, tái cấu trúc toàn diện các nghiệp vụ trong ngành theo mô hình kinh tế số nhằm một mặt duy trì an ninh, an toàn tài chính; mặt khác nâng cao sự thuận tiện, khả năng tiếp cận và chất lượng tương tác với người dân, doanh nghiệp...
Thứ hai, tập trung xây dựng hệ thống quản lý tích hợp Tài chính quốc gia hướng đến kết nối, hợp nhất cơ sở dữ liệu của 07 nhóm dòng nghiệp vụ ngành Tài chính chủ đạo gồm: Quản lý nghiệp vụ tài chính nhà nước; quản lý thị trường tài chính; quản lý nhà nước về hải quan; quản lý nhà nước về thuế; thanh tra; nhóm nghiệp vụ khác và hoạt động nội ngành; thông tin, báo cáo ra bên ngoài. Đây là nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện để tạo sự thuận lợi trong việc cung cấp, trao đổi thông tin, dữ liệu cho nội ngành trong việc thanh tra, quản lý, giám sát, điều hành, nghiên cứu và xây dựng chính sách. Đồng thời, cung cấp các dịch vụ công hoàn hảo, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, giảm thiểu thời gian thực hiện, tạo môi trường công nghệ số thân thiện, dễ sử dụng và đáp ứng mức độ hài lòng của cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân...
Thứ ba, tăng cường và hướng đến sử dụng chung cơ sở dữ liệu toàn ngành, kết nối giữa các nhóm nghiệp vụ ngành Tài chính trong phạm vi hẹp là Bộ Tài chính, và mở rộng toàn ngành Tài chính đến các địa phương. Từng bước tích hợp, đồng bộ các ứng dụng, phần hành công nghệ của từng nghiêp vụ ngành vào tổng thể chung...
Cũng theo Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, để thực hiện được những định hướng trên, cần thiết phải được triển khai có lộ trình tái cấu trúc từng bộ phận, từng nghiệp vụ. Đồng thời, cần có các điều kiện để thực hiện, trong đó: cần từng bước hoàn thiện khung pháp luật để 7 nhóm nghiệp vụ ngành Tài chính được hoạt động trong môi trường kinh tế số; xây dựng chi tiết, cụ thể các mô-đun công nghệ trong từng nhóm nghiệp vụ ngành Tài chính; chuẩn bị nguồn lực về tài chính, con người thực hiện và con người ứng dụng có đủ kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin...
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Đó là yêu cầu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp của Thường trực Chính phủ ngày 12/9, về các dự án giao thông vận tải (GTVT), trong đó tập trung thảo luận một số vấn đề trong lĩnh vực hàng không, cao tốc đường bộ, đường sắt đô thị…
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tại cuộc họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu ngành GTVT phải chủ động hơn nữa, tập trung hơn nữa trong việc giải quyết các thủ tục, vướng mắc; tập trung chỉ đạo hoàn thành tốt các dự án, chương trình, nhất là hệ thống đường bộ cao tốc, sân bay và các lĩnh vực khác.
Thủ tướng chỉ đạo ngành GTVT, các đơn vị trực thuộc Bộ GTVT phải tổ chức công việc theo đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định, đơn vị nào không hoàn thành cần xử lý nghiêm. Thủ tướng cũng cho rằng, có sự trì trệ trong xử lý một số lĩnh vực, vì vậy Bộ GTVT cần phân công trách nhiệm rõ ràng hơn, giao công việc có thời hạn rõ hơn, tìm ra nguyên nhân chậm trễ để khắc phục. Cần phân biệt việc gì Nhà nước làm, việc gì xã hội hóa để phát huy nguồn lực tổng hợp, phát triển ngành GTVT.
Về các kiến nghị của Bộ GTVT đối với một số dự án, vấn đề cụ thể, Thủ tướng nhắc lại yêu cầu bảo đảm đúng tiến độ với dự án cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận: cơ bản thông xe vào năm 2020 và khánh thành vào năm 2021.
Về vấn đề khai thác bay của các cảng hàng không, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm hoạt động bình thường, an toàn ở tất cả các sân bay; chủ động khắc phục những bất cập hiện nay ở các sân bay lớn.

Bộ GTVT chỉ đạo các đơn vị có liên quan bảo đảm hoạt động bình thường của 2 sân bay Tân Sơn Nhất và Nội Bài, không để xảy ra vấn đề ảnh hưởng đến an toàn bay. Với việc quá tải tại sân bay Tân Sơn Nhất, Thủ tướng yêu cầu phải thường xuyên chỉ đạo xử lý.
Về vướng mắc trong triển khai dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội, do Bộ GTVT quản lý, Thủ tướng yêu cầu Bộ GTVT thúc đẩy giải quyết, chủ trì xử lý những vấn đề đặt ra, đồng thời nhấn mạnh việc sớm đưa tuyến đường sắt Cát Linh - Hà Đông vào hoạt động.
Các tuyến đường sắt đô thị còn lại ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, Bộ GTVT rà soát lại, chủ trì giải quyết vấn đề về tiến độ, kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng về hệ thống các tuyến đường sắt này.
Về triển khai hệ thống thu phí không dừng, Thủ tướng yêu cầu, chậm nhất đến ngày 31/12/2019, các trạm BOT phải triển khai.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 73/2019/NĐ-CP quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo đó, Nghị định 73/2019/NĐ-CP quy định quản lý các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin như: Dự án ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước; Các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Đối với dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước, thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công và các quy định về quản lý chi phí, quản lý chất lượng tại Mục 2 Chương II của Nghị định này.
Đối với dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước (dự án thuê), trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công và các quy định về quản lý chi phí, quản lý chất lượng tại Mục 3 Chương II của Nghị định này.
Trường hợp dự án có sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin chưa sẵn có trên thị trường, nếu cần thiết, chủ đầu tư xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền để lựa chọn các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, đề xuất giải pháp, phương án kỹ thuật, công nghệ; xây dựng, thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ. Các tổ chức, cá nhân nói trên chịu mọi chi phí phát sinh (nếu có). Sau khi thử nghiệm thành công, xác định được giải pháp kỹ thuật, công nghệ, chi phí, chủ đầu tư tiến hành các thủ tục đầu tư theo quy định.
Trường hợp dự án trong lĩnh vực khác có hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin, việc quản lý chi phí, quản lý chất lượng hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin đó thực hiện theo quy định tại Nghị định này. Nghị định nêu rõ: Chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức được giao trực tiếp quản lý dự án ứng dụng công nghệ thông tin.
Cụ thể, đơn vị quản lý, sử dụng sản phẩm của dự án hoặc đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin làm chủ đầu tư. Đối với bộ, cơ quan Trung ương, UBND các cấp đồng thời làm chủ đầu tư. Ban quản lý dự án do bộ, cơ quan Trung ương, UBND các cấp thành lập làm chủ đầu tư nếu Ban quản lý dự án đó có tư cách pháp nhân và có đủ điều kiện tổ chức triển khai thực hiện dự án. Đối với dự án sử dụng vốn hỗn hợp, chủ đầu tư do các thành viên góp vốn thỏa thuận cử ra hoặc là đại diện của bên có tỷ lệ vốn góp cao nhất.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước. Nghị định quy định về quản lý thực hiện hoạt động đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin và hoạt động thuê dịch vụ công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Nghị định cũng quy định cụ thể thẩm quyền thẩm định, phê duyệt kế hoạch thuê dịch vụ theo yêu cầu riêng, việc lập kế hoạch thuê, dự toán thuê dịch vụ theo yêu cầu riêng, thẩm định, phê duyệt kế hoạch thuê...
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Nhiều nền kinh tế trên thế giới đang phát đi tín hiệu hạ lãi suất, nhưng Việt Nam chưa có những động thái tương tự vì nhiều lý do.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Lãi suất huy động phải thực dương
Lãi suất thực được tính bằng cách lấy lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát.
Hiện lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,2 - 1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5 - 5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,5 - 6,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,6 - 7,5%/năm.
Trước đó, giai đoạn 2014 - 2018, lãi suất huy động thực của Việt Nam luôn được đảm bảo dương, một phần là do tư duy điều hành cũng như tâm lý của người gửi tiền.
Theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế đánh giá, tương quan giữa lãi suất huy động (theo yêu cầu của người gửi tiền) với tỷ lệ lạm phát của Việt Nam là cùng chiều và mật thiết hơn so với các nước khu vực.
Lãi suất huy động thực tại các quốc gia trong khu vực và cùng mức thu nhập ở mức rất thấp, thậm chí có nhiều năm ở mức “âm”.
Lãi suất huy động thực trung bình của Việt Nam trong giai đoạn này ở mức 2,58%/năm, thấp hơn so với Indonesia là 3,26%/năm, Myanmar là 2,61%/năm, nhưng cao hơn nhiều so với Trung Quốc 0,03%/năm; Hàn Quốc 0,41%/năm; Malaysia 1,3%/năm.
Các quốc gia khác như Thái Lan, Singapore, Philippines thậm chí có lãi suất huy động thực âm.
“Lãi suất huy động thực duy trì ở mức cao chủ yếu do mức lãi suất yêu cầu của người gửi tiền trên cơ sở lạm phát kỳ vọng và so sánh giữa nắm giữ tiền Việt và ngoại tệ. Theo đó, với mức lạm phát kiểm soát của Việt Nam trong năm được xác định ở mức 3 - 4% cùng với mức mất giá VND được kỳ vọng ở mức 2 - 3% đã khiến mức lãi suất huy động danh nghĩa yêu cầu của người gửi tiền khó thấp hơn 5%/năm. Lãi suất huy động cao dẫn đến lãi suất đi vay tại Việt Nam cũng cao hơn so với các nước khác trong khu vực”, TS. Lực nhận định.
Số liệu của Ngân hàng Thế giới giai đoạn 2014 - 2018 cho biết, khi so sánh Việt Nam với một số nước trong khu vực, có thể thấy lãi suất cho vay thực của Việt Nam (tính bằng nội tệ) ở mức trung bình cao 4,96%/năm so với mức bình quân của 10 quốc gia là 4,39%/năm.
Mặc dù so với nhóm các nước có cùng mức thu nhập lãi suất cho vay là 7,35%/năm, mức lãi suất cho vay thực của Việt Nam dù không quá cao, song vẫn là điều nhiều doanh nghiệp băn khoăn.
Thanh khoản thị trường liên ngân hàng VND được duy trì tương đối ổn định trong phần lớn thời gian của tháng 8 trước khi đột ngột trở nên căng thẳng vào giai đoạn tuần cuối tháng.
Sau động thái giảm lãi suất tín phiếu vào cuối tháng 7 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất đã được duy trì ở mức 2,9 - 3,1%/năm với kỳ hạn qua đêm tới 1 tuần trong khoảng 3 tuần đầu và sau đó đã bất ngờ tăng mạnh 1,5%/năm lên mức khoảng 4,5%/năm chỉ trong 1 tuần cuối cùng của tháng 8.
Diễn biến trên đã tác động khiến lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần tăng nhẹ 0,1% so với bình quân tháng trước, lên mức 3,3%/năm, nhưng vẫn thấp hơn khoảng 0,8% so với cùng kỳ năm 2018.
Yếu tố tác động khiến lãi suất đột ngột tăng mạnh vào cuối tháng 8 được Nhóm Nghiên cứu, Ban Kinh doanh vốn và tiền tệ BIDV cho biết, chủ yếu là do đặc thù phân tán của thị trường VND liên ngân hàng khi nguồn cung tập trung vào một số ngân hàng thương mại và khi các ngân hàng này hạn chế nguồn cung dễ khiến cho thị trường có xu hướng khan thanh khoản cục bộ vào một số thời điểm nhất định.
Tình hình chênh lệch huy động vốn và tín dụng VND được duy trì tương đối ổn định kể từ tháng 7. Tính từ đầu năm, tốc độ tăng trưởng huy động vốn và tín dụng lần lượt ở mức 7,52%/năm và 7,82%/năm.
Số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại tại thời điểm cuối tháng 8 về cơ bản vẫn ở mức cao và tương đương so với cùng kỳ tháng trước.
Tuy vậy, việc lượng tiền trên bị điều chỉnh giảm vào thời điểm cuối tháng khi nguồn cung từ các ngân hàng thương mại lớn bị sụt giảm trong ngắn hạn đã có tác động cộng hưởng lên tâm lý thị trường và đẩy mạnh lãi suất kỳ hạn 1 tuần lên sát mức lãi suất OMO.
Giám đốc tài chính một ngân hàng thương mại cổ phần dự báo, thanh khoản thị trường liên ngân hàng trong tháng 9 có xu hướng hạ nhiệt so với mức cuối tháng 8, tuy nhiên có thể sẽ căng thẳng trở lại vào thời điểm kết thúc quý III.
Chênh lệch huy động vốn - tín dụng được dự báo tiếp tục duy trì ổn định so với mức cuối tháng 8, có thể sẽ giảm nhẹ khoảng 5.000 - 10.000 tỷ đồng khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động cho vay vào cuối quý III.
Thông thường, nhu cầu vốn của các ngân hàng thương mại sẽ có xu hướng tăng lên vào các thời điểm cuối tháng, quý nhằm cải thiện các chỉ số an toàn tài chính và tác động tới diễn biến lãi suất trên thị trường.
Mặt bằng lãi suất dự kiến dao động trong biên độ tương đối rộng, khoảng 3 - 4%/năm cho kỳ hạn qua đêm đến 1 tuần. Lãi suất bình quân dự kiến vào khoảng 3,5 - 3,7%/năm với kỳ hạn 1 tuần và khoảng 4,2 - 4,4%/năm kỳ hạn 3 tháng.
Ba nhóm giải pháp để giảm lãi suất
Theo khuyến nghị của TS. Lực, có ba nhóm giải pháp để giảm lãi suất. Thứ nhất, tăng cường kiểm soát lạm phát ở mức thấp, ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó, giải pháp quan trọng là cần sớm thay đổi cách thức đặt mục tiêu lạm phát.
Hiện nay, Quốc hội, Chính phủ công bố chỉ tiêu lạm phát hàng năm ở một mức nhất định (năm 2018, 2019 là dưới 4%). Cách xác định mục tiêu cứng như vậy dễ phát tín hiệu sai cho nền kinh tế khi hiểu thành lạm phát mục tiêu ở mức 4%.
Thay vào đó, các cơ quan quản lý nên công bố mức lạm phát mục tiêu và lạm phát kiểm soát. Khi đó, thị trường và người dân sẽ tiếp nhận tín hiệu chính xác hơn.
Ngoài ra, cần truyền thông mạnh mẽ và rõ ràng ý nghĩa của các chỉ tiêu này đối với nền kinh tế.
Ðồng thời, phối hợp chính sách (nhất là giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và chính sách giá cả) tiếp tục phát huy và làm tốt hơn nữa, nhất là trong khâu phát hành trái phiếu chính phủ, khâu trung hòa lượng tiền từ cổ phần hóa, thoái vốn và điều chỉnh giá dịch vụ công do Nhà nước quản lý.
Hai là, để giảm mức độ rủi ro của nền kinh tế và tổ chức, doanh nghiệp, từ những khuyến nghị của các tổ chức định hạng quốc tế và thực trạng doanh nghiệp hiện nay, Việt Nam nên tập trung thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia một cách thực chất, lâu bền.
Các định hướng, mục tiêu này được các tổ chức định hạng quốc tế đánh giá cao và thực tế những năm qua đã mang lại kết quả rõ nét, nhưng khâu thực thi ở cấp dưới còn bất cập.
Bên cạnh đó, đẩy nhanh tái cơ cấu nền kinh tế, đảm bảo phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, các tổ chức, thị trường then chốt lành mạnh hơn;
Đồng thời, tăng các gối đệm, tăng khả năng chống chịu cú sốc bên ngoài; trong đó cần tập trung đẩy nhanh xử lý nợ xấu, tái cơ cấu ngân sách nhà nước (giảm mạnh chi thường xuyên, tăng chi đầu tư phát triển) qua đó giảm thâm hụt ngân sách, kiểm soát vay nợ nước ngoài, tiếp tục tăng dự trữ ngoại hối, đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, có chiến lược thu hút lựa chọn FDI phù hợp; tăng năng lực tài chính, quản lý rủi ro của doanh nghiệp…
Ba là, để giảm chi phí giao dịch của nền kinh tế, có nhiều việc cần làm, nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy minh bạch hóa thông tin, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và thay đổi cơ chế tiền lương của công chức, viên chức là những biện pháp mạnh góp phần đẩy lùi tham nhũng và chi phí không chính thức.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Page 15 of 17