Để tháo gỡ vướng mắc cho các Bộ, ngành và địa phương khi thực hiện các dự án, nhiệm vụ quy hoạch sử dụng vốn đầu tư công theo các quy định mới, Bộ Tài chính đã chủ động kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính hướng dẫn thanh toán cho các dự án này.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<
Kể từ ngày 01/01/2019 khi Luật Quy hoạch có hiệu lực, chi phí lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch trong hệ thống quy hoạch quốc gia sẽ được sử dụng từ nguồn vốn đầu tư công theo quy định của pháp luật về đầu tư công. Trước năm 2019, kinh phí này do ngân sách nhà nước đảm bảo từ nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế, do vậy các nội dung tại Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 hiện hành không quy định về bố trí vốn cho dự án, nhiệm vụ quy hoạch, trong khi đó, Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 đến ngày 01/01/2020 mới có hiệu lực thi hành.

Theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ phân công, căn cứ quy định tại Luật Đầu tư công, Bộ Tài chính đang rà soát các quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư công để sửa đổi, thay thế các Thông tư quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công, bao gồm các nội dung quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư công bố trí cho công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch theo quy định của Luật Quy hoạch và Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14.
Trong thời gian văn bản quy phạm pháp luật nêu trên chưa được ban hành, trước mắt, để tháo gỡ vướng mắc cho các Bộ, ngành và địa phương khi thực hiện các dự án, nhiệm vụ quy hoạch sử dụng vốn đầu tư công theo các quy định mới, bên cạnh việc đề nghị Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương nghiên cứu, hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương về điều kiện, thủ tục bố trí vốn đầu tư cho các dự án, nhiệm vụ quy hoạch theo đúng quy định để các đơn vị có căn cứ triển khai ngay trong năm 2019, Bộ Tài chính đã chủ động nghiên cứu, báo cáo, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về việc giao Bộ Tài chính hướng dẫn thanh toán cho các dự án này sau khi được bố trí vốn đầu tư công với một số nội dung chính như sau:
Thứ nhất, việc quản lý, thanh toán vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước bố trí cho các dự án, nhiệm vụ quy hoạch trong hệ thống quy hoạch quốc gia được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính về quản lý, thanh toán vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước (hiện nay được quy định tại các Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016; số 108/TT-BTC ngày 30/6/2016 và số 52/2018/TT-BTC ngày 24/5/2018).
Thứ hai, riêng đối với nội dung hồ sơ tạm ứng, thanh toán: đến nay, pháp luật về đầu tư công chưa có nội dung quy định điều kiện bố trí vốn cho công tác quy hoạch. Đồng thời, Chính phủ cũng chưa ban hành Nghị định hướng dẫn Luật Quy hoạch làm căn cứ để Bộ Tài chính hướng dẫn các nội dung về hồ sơ tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước bố trí các nhiệm vụ, dự án quy hoạch trong hệ thống quy hoạch quốc gia. Vì vậy, để tránh vướng mắc trong việc tạm ứng, thanh toán các nhiệm vụ, dự án quy hoạch được bố trí kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước năm 2019, đề nghị các chủ đầu tư căn cứ hồ sơ tạm ứng, thanh toán được quy định tại gạch đầu dòng thứ nhất và thứ 2 điểm d mục 2 Chương II Thông tư số 24/2008/TT-BTC ngày 14/3/2008 của Bộ Tài chính để kiểm soát thanh toán cho đơn vị.
Thứ ba, các nhiệm vụ, dự án quy hoạch sử dụng nguồn vốn đầu tư công phải thực hiện chế độ báo cáo bổ sung vào các mẫu biểu tại Thông tư số 82/2017/TT-BTC ngày 15/8/2017 của Bộ Tài chính quy định về chế độ và biểu mẫu báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ. Kết thúc năm kế hoạch, việc quyết toán nguồn ngân sách nhà nước bố trí cho các nhiệm vụ, dự án quy hoạch được tổng hợp vào số liệu quyết toán vốn đầu tư theo quy định về quyết toán ngân sách nhà nước tại Thông tư số 85/2017/TT-BTC ngày 15/8/2017 của Bộ Tài chính quy định việc quyết toán tình hình sử dụng vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước hàng năm.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu, khẩn trương hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương để triển khai thực hiện ngay trong năm 2019.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Để triển khai yêu cầu của Chính phủ, Bộ Tài chính đối với cải cách hiện đại hóa hải quan, với trọng tâm là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và công nghệ của cách mạng 4.0 trong công tác quản lý nhà nước về hải quan nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp, Tổng cục Hải quan đang tập trung nguồn lực xây dựng tài liệu khung Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Hải quan.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ông Hoàng Việt Cường – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan trình bày tham luận tại Hội nghị trực tuyến phổ biến, quán triệt Quyết định số 844/QĐ-BTC.
Ngày 12/9, Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị trực tuyến phổ biến, quán triệt Quyết định số 844/QĐ-BTC ngày 21/5/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch hàn động của Bộ Tài chính triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng 2025. Chia sẻ tại Hội nghị, ông Hoàng Việt Cường – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan cho biết, với mục tiêu nỗ lực triển khai Chính phủ điện tử, ngày 22/7/2019, Tổng cục Hải quan đã ban hành văn bản số 4688/TCHQ-CNTT phân công các đơn vị trong ngành triển khai danh mục nhiệm vụ theo Quyết định số 844/QĐ-BTC ngày 21/5/2019 của Bộ Tài chính và đã đạt được một số kết quả cụ thể.
Đến nay, Tổng cục Hải quan đã cung cấp 172/192 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, chiếm 90% tổng số thủ tục hành chính triển khai tại 100% Chi cục Hải quan và Cục Hải quan tỉnh thành phố. Trong số đó có 163 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cho phép tiếp nhận, xử lý hồ sơ, thanh toán thuế, phí, lệ phí và trả kết quả hoàn toàn thông qua mạng internet. Các thủ tục hành chính cốt lõi như thông quan hàng hóa, thu thuế xuất nhập khẩu đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4.
Được giao là Cơ quan thường trực của Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại, trong thời gian vừa qua, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với các Bộ, ngành đẩy mạnh triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN. Hiện đã có 13 Bộ, ngành tham gia với 174 thủ tục hành chính được triển khai trên Cơ chế một cửa quốc gia. Việt Nam đã thực hiện trao đổi Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D bản điện tử với 6 nước: Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan,Brunei và Campuchia.
Đến hết năm 2019, Tổng cục Hải quan tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành khẩn trương hoàn thành kế hoạch triển khai các thủ tục hành chính năm 2019 theo Quyết định số 1254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, phối hợp với các Bộ, ngành chuẩn bị để thời gian tới sẽ triển khai trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN (với Indonesia và Thái Lan) và chứng nhận kiểm dịch thực vật (với Indonesia); triển khai trao đổi thông tin C/O với Liên minh Kinh tế Á-Âu...
Trong thời gian tới, Tổng cục Hải quan sẽ xây dựng và triển khai đề án tổng thể về xây dựng và phát triển hệ thống CNTT tập trung phục vụ triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN.
Ông Hoàng Việt Cường cho biết, để cải cách hiện đại hóa hải quan, với trọng tâm là đẩy mạnh ứng dụng CNTT và công nghệ của cách mạng 4.0 nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan, và phù hợp với khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam và Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Tài chính, Tổng cục Hải quan đang tập trung nguồn lực xây dựng tài liệu khung Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Hải quan.
Nhận thức việc tiếp cận và chủ động ứng dụng những công nghệ mới nhất của cuộc cách mạng 4.0 là chìa khóa để tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa hải quan, Tổng cục Hải quan đã chủ động nghiên cứu, xây dựng và triển khai kế hoạch ứng dụng công nghệ của cách mạng 4.0. Đó là ứng dụng công nghệ internet kết nối vạn vật (IoT) trong quản lý, giám sát hải quan. Trước mắt, Tổng cục Hải quan sẽ tập trung triển khai hệ thống định vị điện tử giúp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng container. Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan phấn đấu đến năm 2025 hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu trên cơ sở kết nối với trang thiết bị thông minh nhận dạng hình ảnh và ứng dụng phân tích dữ liệu lớn.
Tổng cục Hải quan sẽ xây dựng và triển khai hệ thống quản lý doanh nghiệp trên nền tảng phân tích dữ liệu lớn (BI) phục vụ công tác quản lý hiệu quả doanh nghiệp xuất, nhập khẩu. Tổng cục Hải quan cũng sẽ xây dựng nền tảng công nghệ di động, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ ảo hóa, từng bước ứng dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) trong triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và quốc tế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nhằm hoàn thiện môi trường làm việc điện tử trong ngành Hải quan.
Cũng theo ông Hoàng Việt Cường, trong thời gian qua, Tổng cục Hải quan đã tập trung nguồn lực xây dựng tài liệu tái thiết kế quy trình nghiệp vụ của ngành hải quan để phù hợp với tình hình mới, tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp, tăng cường năng lực quản lý hải quan, nâng cao mức độ tự động hóa trong các hệ thống CNTT. Trên cơ sở tài liệu tái thiết kế quy trình nghiệp vụ, Tổng cục Hải quan đang xây dựng Đề án tái thiết kế tổng thể hệ thống CNTT ngành Hải quan. Việc triển khai thành công Đề án này sẽ là động lực vô cùng quan trọng đối với xây dựng Chính phủ điện tử ngành Hải quan trong thời gian tới.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Năm 2018, ước tính có hàng trăm triệu bao thuốc lá lậu hiện diện tại thị trường Việt Nam, chiếm gần 20% lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước, gây thất thu lớn cho ngân sách.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Tổng cục Hải quan cho biết, tháng 8, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt gần 25,9 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng 7 trước đó. Trong khi kim ngạch nhập khẩu đạt gần 22,5 tỷ USD, giảm 2,1% so với tháng trước.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Như vậy, trong tháng 8, nước ta xuất siêu tới 3,4 tỷ USD, giúp con số thặng dư thương mại tiếp tục được nâng lên hơn 5 tỷ USD, tính lũy kế từ đầu năm.
Cụ thể, hết tháng 8, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 171,3 tỷ USD, trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu là 165,9 tỷ USD, như vậy con số xuất siêu của Việt Nam là 5,4 tỷ USD.
Đáng chú ý, kết quả xuất nhập khẩu trong tháng 8 và kim ngạch xuất siêu tăng mạnh so với ước tính được các nhà chuyên môn đưa ra là thặng dư thương mại trong tháng 8 chỉ là 1,7 tỷ USD và tính chung trong 8 tháng đầu năm cả nước xuất siêu hơn 3,4 tỷ USD.
Hàng loạt nhóm hàng xuất khẩu chủ lực có mức tăng ấn tượng. Trong đó có tới 5 nhóm đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên.
Ấn tượng nhất là điện thoại và linh kiện với kim ngạch hơn 5,9 tỷ USD, tăng tới 48,1% so với tháng 7 trước đó. Đây được xem là thời điểm có mức tăng trưởng ấn tượng nhật của mặt hàng xuất khẩu chủ lực này kể từ đầu năm 2019.
Các mặt hàng xuất khẩu “tỷ USD” khác trong tháng 8 là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt gần 3,6 tỷ USD; dệt may đạt gần 3,4 tỷ USD; giày dép gần 1,6 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng hơn 1,6 tỷ USD.
Với tổng kim ngạch hơn 16 tỷ USD, riêng 5 nhóm hàng chủ lực nêu trên chiếm đến khoảng 62% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước trong tháng 8.
Ở lĩnh vực nhập khẩu, tháng 8 có 3 nhóm hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên gồm: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với kim ngạch gần 5 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng gần 3,2 tỷ USD; điện thoại và linh kiện hơn 1,7 tỷ USD.
Sau 8 tháng, quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt hơn 337 tỷ USD. Để cán mốc 500 tỷ USD, 4 tháng cuối, cả nước cần đạt kim ngạch 163 tỷ USD, tương đương gần 41 tỷ USD/tháng. Đây là điều rất khả thi bởi bình quân 8 tháng qua, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 42 tỷ USD/tháng, trong khi theo quy luật những tháng cuối năm kim ngạch xuất nhập khẩu thường đạt cao hơn.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Thời gian qua, ngành Hải quan đã không ngừng tăng cường cải cách dịch vụ công trực tuyến; đẩy mạnh triển khai cải cách một cửa quốc gia, một cửa ASEAN; ứng dụng công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0 trong thực hiện nhiệm vụ, bước đầu mang lại nhiều kết quả tích cực. Qua đó, phát triển tài chính điện tử hướng tới tài chính số nhằm góp phần triển khai thành công Chính phủ điện tử.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

90% tổng số thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến
Nhằm phục vụ người dân và doanh nghiệp (DN) ngày càng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu triển khai các Nghị quyết của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là Nghị quyết số 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, thời gian vừa qua, Tổng cục Hải quan đã có nhiều nỗ lực triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến.
Đến nay, Tổng cục Hải quan đã cung cấp 172/192 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, chiếm 90% tổng số thủ tục hành chính triển khai tại 100% Chi cục Hải quan và Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Trong số đó có 163 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cho phép tiếp nhận, xử lý hồ sơ, thanh toán thuế, phí, lệ phí và trả kết quả hoàn toàn thông qua mạng internet. Các thủ tục hành chính cốt lõi như thông quan hàng hóa, thu thuế xuất nhập khẩu đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, mức độ cao nhất theo phân loại của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Trong năm 2019, Tổng cục Hải quan đã nâng cấp 2 dịch vụ công trực tuyến từ mức độ 1 lên mức độ 4, chuẩn bị nâng cấp 6 dịch vụ công trực tuyến từ mức độ 3 lên mức độ 4 theo đúng kế hoạch ban hành tại Quyết định số 2204/QĐ-BTC ngày 21/11/2018. Đồng thời, hiện Tổng cục Hải quan đang chuẩn bị cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cho 12 thủ tục hành chính mới ban hành.
Ngoài ra, Cổng thông tin điện tử hải quan cũng đã cung cấp nhiều dịch vụ trực tuyến khác để hỗ trợ người dân và DN trong việc tiếp cận thông tin, tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện thủ tục hải quan.
Với những nỗ lực và kết quả đạt được, vừa qua, Tổng cục Hải quan đã được Hội Truyền thông số Việt Nam trao Giải thưởng Cơ quan Nhà nước chuyển đổi số xuất sắc năm 2019.
Tiếp tục mở rộng Cơ chế một cửa ASEAN
Với vai trò Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và tạo thuận lợi thương mại (Ủy ban 1899), Tổng cục Hải quan đã tập trung đôn đốc các bộ, ngành triển khai Kế hoạch hành động của Chính phủ thúc đẩy NSW, ASW, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018-2020.
Đến nay, đã có 13 bộ, ngành tham gia với 174 thủ tục hành chính được triển khai trên NSW. Việt Nam cũng đã thực hiện trao đổi Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu D bản điện tử (e-C/O form D) với 06 nước: Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Brunei và Campuchia.
Đến hết năm 2019, Tổng cục Hải quan tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành khẩn trương hoàn thành kế hoạch triển khai các thủ tục hành chính năm 2019 (hoàn thành mục tiêu triển khai bổ sung 61 thủ tục hành chính). Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành chuẩn bị để thời gian tới triển khai trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN (với Indonesia và Thái Lan) và chứng nhận kiểm dịch thực vật (với Indonesia); Triển khai trao đổi thông tin C/O với Liên minh Kinh tế Á-Âu...
Ứng dụng thành tựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0
Với mục tiêu triển khai kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Hải quan và ứng dụng thành tựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0, thời gian qua, Tổng cục Hải quan đã tập trung xây dựng tài liệu tái thiết kế quy trình nghiệp vụ của ngành để phù hợp với tình hình mới, tạo thuận lợi hơn nữa cho DN; Tăng cường năng lực quản lý hải quan, nâng cao mức độ tự động hóa trong các hệ thống CNTT.
Hiện, Tổng cục Hải quan đang xây dựng Đề án tái thiết kế tổng thể hệ thống CNTT ngành Hải quan. Tới đây, sẽ tập trung xây dựng và triển khai đề án tổng thể về xây dựng và phát triển hệ thống CNTT phục vụ triển khai NSW, ASW.
Bên cạnh đó, nhận thức việc tiếp cận và chủ động ứng dụng những thành tựu công nghệ mới nhất của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là chìa khóa để tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa hải quan, Tổng cục Hải quan đã chủ động nghiên cứu, xây dựng và triển khai kế hoạch ứng dụng công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0 với các nội dung ứng dụng công nghệ internet kết nối vạn vật (IoT) trong quản lý, giám sát hải quan.
Tới đây, toàn Ngành sẽ tập trung triển khai hệ thống định vị điện tử giúp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng container. Đồng thời, phấn đấu đến năm 2025 hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu trên cơ sở kết nối với trang thiết bị thông minh nhận dạng hình ảnh và ứng dụng phân tích dữ liệu lớn.
Việc triển khai thành công Đề án tái thiết kế tổng thể hệ thống CNTT ngành Hải quan sẽ là động lực vô cùng quan trọng đối với xây dựng Chính phủ điện tử ngành Hải quan trong thời gian tới.
|
Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/8/2019 đã tiếp nhận và xử lý 8,56/8,71 triệu tờ khai hải quan điện tử (chiếm tỷ lệ 99,39%);Số kim ngạch xuất nhập khẩu bằng phương thức điện tử đạt 336,99 tỷ USD/337,37 tỷ USD (chiếm tỷ lệ 99,89.%); Số tiền thuế, phí thu bằng phương thức điện tử là 219.904/233.920 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 94% số thu của Tổng cục Hải quan). |
Với tiến độ giải ngân như 3 năm trở lại đây thì việc sử dụng hết số kế hoạch vốn còn lại năm 2020 là không khả thi. Trong bối cảnh đó, Bộ Tài chính kiến nghị nhiều giải pháp thúc đẩy giải ngân đầu tư công trong những tháng cuối năm.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Lo không sử dụng hết số kế hoạch vốn còn lại năm 2020
Báo cáo của Bộ Tài chính tại hội nghị trực tuyến "Tiếp tục thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài năm 2019" tổ chức sáng 13/9/2019 cho biết, tình hình giải ngân vốn đầu tư công nói chung và vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài trong một số năm gần đầy và năm 2019 là rất chậm.
Trong 3 năm 2016-2018, tổng số vốn đầu tư từ nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài đã thực hiện là 137.176 tỷ đồng, đạt 74,53% dự toán được Quốc hội giao. Theo thống kê của Bộ Tài chính, ước giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước 8 tháng đầu năm 2019 khoảng 6.286,316 tỷ đồng, đạt 37,92% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 41,39 so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Thống kê sơ bộ cho thấy, tổng số vốn đầu tư công đã thực hiện giai đoạn 2016-2018 mới đạt 137.176 tỷ đồng. Trường hợp năm 2019 số giải ngân thực tế đạt tối đa bằng số kế hoạch (60.000 tỷ đồng) thì số kế hoạch còn lại cho năm 2020 là 162.824 tỷ đồng.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, với tiến độ giải ngân như 3 năm trở lại đây thì việc sử dụng hết số kế hoạch vốn còn lại năm 2020 là không khả thi, trong đó vướng mắc lớn hiện nay là việc giao kế hoạch chậm và không phù hợp với tiến độ thực hiện dự án, quy trình điều chỉnh, bổ sung kế hoạch vốn dài và phức tạp.
Đồng bộ nhiều giải pháp trong những tháng cuối năm
Trong bối cảnh đó, để thúc đẩy khối lượng giải ngân trong các tháng cuối năm 2019 nhằm đạt kế hoạch vốn đề ra, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 1042/CĐ-TTg và chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi, Bộ Tài chính đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ kiến nghị các nhóm biện pháp đối với những vướng mắc hiện nay.
Theo đó, về giải pháp chung, hiện nay, Quốc hội đã thông qua Luật bổ sung, sửa đổi một số điều của Luật Đầu tư công, do vậy, Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tư khẩn trương phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng Nghị định mới về quản lý vốn ODA và vay ưu đãi thay thế Nghị định số 132/2018/NĐ-CP và Nghị định số 16/2016/NĐ-CP theo hướng tập trung vào một đầu mối công tác quản lý nợ công; rà soát để đơn giản hóa các thủ tục hành chính bao gồm quy trình bổ sung kế hoạch vốn hàng năm, cơ chế điều chỉnh, điều chuyển kế hoạch vốn cũng như cơ chế hạch toán và chuyển nguồn đối với vốn vay ODA, vay ưu đãi.
Bộ Tài chính cũng đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ ngành và địa phương rà soát tổng thể việc thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn đến năm 2020 để kịp thời điều chỉnh và phân bổ vốn cho các dự án đang thiếu vốn nhằm đảm bảo hoàn thành việc giải ngân nguồn vốn đầu tư công trung hạn đã được Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao trong giai đoạn 2016-2020 theo đúng Nghị quyết số 71/2018/QH14 của Quốc hội, đảm bảo trong phạm vi 02 triệu tỷ đồng, giảm vốn vay trong nước tương ứng với việc tăng vốn nước ngoài.
Về những giải pháp cụ thể, Bộ Tài chính cũng đã có những kiến nghị đối với các cơ quan liên quan. Theo đó, về vấn đề giao kế hoạch vốn, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc giao đủ kế hoạch 60.000 tỷ đồng vốn nước ngoài năm 2019. Trên cơ sở đó, các Bộ chủ quản, cơ quan tài chính các cấp hoàn thành việc giao, nhập và phê duyệt trên TABMIS để các dự án có cơ sở giải ngân hết kế hoạch vốn trong thời gian còn lại của năm 2019. Đối với các dự án không thể giải ngân hết kế hoạch trong năm 2019, cho phép các Bộ, ngành và địa phương được đưa phần vốn chưa sử dụng hết vào kế hoạch năm 2020 nhằm đảm bảo triển khai liên tục để hoàn thành dứt điểm các dự án đang triển khai.
Đối với vấn đề điều chỉnh kế hoạch vốn, để giúp các dự án có thể nhanh chóng triển khai theo đúng tiến độ trong khi cơ chế điều chỉnh kế hoạch vốn chưa được sửa đổi, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện việc rà soát và báo cáo ngay các cấp có thẩm quyền để thực hiện việc điều chuyển các nguồn vốn giữa các dự án cho phù hợp với nhu cầu giải ngân thực tế, đặc biệt là đối với các dự án điều chuyển, điều chỉnh nội bộ trong kế hoạch của các Bộ, ngành địa phương đã được bố trí nhưng không vượt kế hoạch.
Đối với các Bộ chủ quản và địa phương, trong khâu thực thi, cơ quan chủ quản chủ động cùng các cơ quan có liên quan giải quyết các vướng mắc về đấu thầu mua sắm, thuế, giải phóng mặt bằng; đôn đốc các chủ dự án khẩn trương hoàn hiện hồ sơ để ký kết hợp đồng cho vay lại; khi có khối lượng hoàn thành cần làm ngay thủ tục kiểm soát chi, gửi đơn rút vốn để Bộ Tài chính kịp thời gửi nhà tài trợ; theo dõi sát tiến độ từng dự án để kịp thời có đề xuất điều chuyển, điều chỉnh kế hoạch vốn cho phù hợp.
Với các dự án có thay đổi về chủ trương đầu tư, các Bộ chủ quản và địa phương làm thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ ít nhất 6 tháng trước ngày kết thúc dự án; đối với đề nghị gia hạn rút vốn tại hiệp định vay nước ngoài, cơ quan chủ quản cần gửi Bộ Tài chính ít nhất trước 3 tháng để thực hiện đàm phán với nhà tài trợ và báo cáo cấp có thẩm quyền theo đúng quy định.
Đối với cơ quan cho vay lại, đặc biệt là Ngân hàng Phát triển Việt Nam phối hợp với các cơ quan chủ quản và chủ dự án tháo gỡ các vướng mắc về thẩm định cho vay lại, thẩm định tài sản đảm bảo, ký hợp đồng cho vay lại. Đối với vướng mắc của các dự án cho vay lại qua Ngân hàng này, Bộ Tài chính đề xuất tổ chức các buổi làm việc với các bên có liên quan để tháo gỡ các vướng mắc cụ thể của từng dự án.
Về phần mình, với chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính cho biết, trong quá trình đánh giá 01 năm triển khai Luật Quản lý nợ công, Bộ sẽ đồng thời rà soát và đánh giá việc thực hiện các Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý nợ công trong đó có Nghị định số 97/2018/NĐ-CP về cho vay lại vốn vay ODA và vay nước ngoài của Chính phủ.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính tiếp tục tổ chức tuyên truyền để thực hiện nghiêm Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 29/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài trong tình hình mới cho chi đầu tư phát triển, không vay cho chi thường xuyên.
Bộ Tài chính cũng sẽ chỉ đạo Kho bạc Nhà nước khẩn trương triển khai Nghị định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước ngay sau khi Chính phủ ký ban hành. Tiếp tục rà soát quy trình kiểm soát chi, xử lý đơn rút vốn tại Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước để đảm bảo đúng thời hạn quy định; Không để tồn đọng hồ sơ mà không có lý do; đôn đốc chủ đầu tư làm thủ tục kiểm soát chi trong 04 ngày kể từ khi có khối lượng hoàn thành, không để tồn đọng đến cuối năm...
Thống kê sơ bộ cho thấy, tổng số vốn đầu tư công đã thực hiện giai đoạn 2016-2018 mới đạt 137.176 tỷ đồng. Trường hợp năm 2019 số giải ngân thực tế đạt tối đa bằng số kế hoạch (60.000 tỷ đồng) thì số kế hoạch còn lại cho năm 2020 là 162.824 tỷ đồng.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Sáng 17/9, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã cho ý kiến về Dự thảo Nghị định quy định thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá quá cảnh thông qua Hệ thống quá cảnh Hải quan ASEAN để thực hiện Nghị định thư 7 về Hệ thống quá cảnh hải quan.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Áp dụng cơ chế ưu tiên với doanh nghiệp quá cảnh hàng hoá
Theo tờ trình của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày tại phiên họp, Hiệp định khung ASEAN về tạo thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh được các nước thành viên ASEAN ký kết vào ngày 16/12/1998 đã quy định việc xây dựng và ký kết các Nghị định thư có liên quan, trong đó có Nghị định thư 7 về chế độ quá cảnh hải quan.
Năm 2017, UBTVQH đã có kết luận nhất trí về sự cần thiết phê duyệt Nghị định thư 7, giao Chính phủ tiến hành thủ tục phê duyệt theo Luật Điều ước quốc tế. Trong đó, đề nghị Chính phủ chủ động xác định thời điểm phê duyệt Nghị định thư 7 phù hợp với tiến độ phê duyệt của các nước ASEAN khác và đảm bảo lợi ích quốc gia và nhất trí không áp dụng toàn bộ Nghị định thư, mà chỉ thực hiện thông qua nội luật hóa vào quy định của pháp luật Việt Nam.
Cơ sở của việc xây dựng dự thảo Nghị định là để triển khai thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa quá cảnh thông qua Hệ thống quá cảnh hải quan ASEAN (gọi tắt là Hệ thống ACTS) là cần thiết để tạo cơ sở pháp lý để triển khai áp dụng hiện đại hóa hải quan đối với hàng hóa quá cảnh giữa các nước ASEAN trong đó có Việt Nam, giảm thủ tục giấy tờ trong việc thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa quá cảnh; nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các DN tham gia hoạt động quá cảnh hàng hóa, tạo thuận lợi và thúc đẩy hoạt động quá cảnh hàng hoá, phát huy lợi thế vị trí địa lý của Việt Nam; và đảm bảo cam kết của Việt Nam khi tham gia phê duyệt Nghị định thư 7.
Việc xây dựng dự thảo Nghị định nhằm thực hiện các chỉ đạo về cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ dần đạt được mục tiêu ngang bằng các nước ASEAN 4 theo Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP. Tăng cường quản lý rủi ro trong các khâu nghiệp vụ hải quan; đảm bảo rõ ràng, cụ thể, minh bạch trong từng nội dung quy định, thống nhất thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hoá quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam cũng như hàng hóa quá cảnh từ Việt Nam quá cảnh qua các nước trong ASEAN;
Đồng thời, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung và tương thích với các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực hải quan; củng cố cơ sở pháp lý về thủ tục hải quan đối với hàng quá cảnh ASEAN để đảm bảo quản lý về hải quan, tăng cường hoạt động phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Tại dự thảo Nghị định, bên cạnh những nội dung cơ bản, còn có một số nội dung chưa được quy định trong pháp luật hiện hành là cơ chế bảo lãnh, cơ chế ưu tiên mà Chính phủ trình xin ý kiến UBTVQH. Cụ thể, về cơ chế bảo lãnh, để được thực hiện quá cảnh hàng hóa theo Nghị định thư thì hàng hóa phải được đặt dưới chế độ bảo lãnh, đặt cọc tiền thuế. Nội dung này là quy định mới so với pháp luật hiện hành, do vậy tại dự thảo Nghị định đã quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến bảo lãnh thuế đối với hàng hóa quá cảnh, tổ chức bảo lãnh, cơ chế hỗ trợ trong việc thu hồi nợ thuế, các tình huống phát sinh/bất khả kháng, cơ chế xử lý vì pháp luật về thuế hiện hành đang quy định hàng hóa quá cảnh thuộc đối tượng không chịu thuế.
Về cơ chế ưu tiên, theo quy định hiện hành chế độ doanh nghiệp ưu tiên chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, chưa quy định với doanh nghiệp thực hiện quá cảnh hàng hóa. Để phù hợp với Nghị định thư 7, tại dự thảo Nghị định đã quy định về điều kiện, quy định việc công nhận, thu hồi, đình chỉ cũng như các nội dung được ưu tiên trong quá trình làm thủ tục hải quan (tương tự với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá) để làm cơ sở triển khai thực hiện.
Từng bước hiện đại hoá lĩnh vực hải quan
Thẩm tra các nội dung, các ý kiến trong Uỷ ban Tài chính ngân sách và Uỷ ban Pháp luật cơ bản thống nhất với các nội dung Chính phủ trình, bao gồm cả các vấn đề về cơ chế bảo lãnh, đặt cọc, chế độ ưu tiên. Tuy nhiên, các cơ quan này cũng đề nghị Chính phủ hoàn thiện các quy định trên theo hướng chặt chẽ, đảm bảo chủ quyền, lợi ích quốc gia.
Tại phiên họp, giải trình thêm về một số vấn đề các thành viên UBTVQH đặt ra, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng khẳng định thủ tục hải quan đóng vai trò rất quan trọng. Các năm gần đây, kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đều cao gấp đôi GDP. Do đó, nếu thủ tục hải quan trở thành nút thắt sẽ ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy những năm qua, Bộ Tài chính đã rất chú trọng, tập trung cải cách thủ tục hải quan, góp phần tạo thuận lợi thương mại, thúc đẩy sản xuất và kinh tế trong nước. Gần đây, Bộ cũng đã đề xuất nhiều giải pháp thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, kiến nghị cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành, vốn đang là khâu rất tắc.
Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, hiện nay chúng ta đã hiện đại hoá được một bước với lĩnh vực này, đặc biệt là sau khi tiếp nhận dự án của Nhật Bản VNACCS/VCIS. Theo đó, ngành hải quan đã chú trọng đào tạo nhân lực, thực hiện giám sát trực tiếp đến từng luồng đi hàng hoá, hoạt động của từng cán bộ, nhân viên trong phạm vi làm việc. Đồng thời, việc hiện đại hoá được gắn liền với hậu kiểm, kiểm soát rủi ro, tăng cường soi chiếu.
Trong công tác chống buôn lậu, ngành hải quan đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng, đạt thành tích lớn trong các vụ phát hiện, bắt giữ hàng nhập lậu, đặc biệt cả trong những vụ án ma tuý lớn. Nhấn mạnh sự phối hợp tổng thể trong chống buôn lậu, Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu rõ đã hội nhập phải tạo điều kiện, tăng cường kiểm tra kiểm soát bằng nhiều khâu, nhiều biện pháp khác nhau.
Trả lời ý kiến của Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển về việc có nên thí điểm các nội dung này trước khi thực hiện toàn diện, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết trong nhiều tháng qua, các chuyên gia đã đến Việt Nam để đào tạo về vận hành hệ thống. Hệ thống điện tử này chạy song song với hệ thống hiện hành của Việt Nam. Đến khâu cuối cùng là kết nối hai hệ thống này với nhau. Đây cũng là cách các nước vừa qua đã làm thí điểm. “Hiện nay đã đào tạo, đã kết nối hệ thống rồi, thì có thể cũng phải có giai đoạn chạy thử, nhưng cơ bản chúng tôi cho rằng khi tổ chức thực hiện dự án này khả thi cao”, Bộ trưởng Bộ Tài chính nói.
Sau khi thảo luận và lắng nghe ý kiến giải trình, UBTVQH nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị định của Chính phủ để luật hoá Nghị định thư 7 phù hợp điều ước quốc tế đã ký kết. Nghị định ban hành phải đảm bảo nguyên tắc như kết luận trước đó của UBTVQH. Về các cơ chế bảo lãnh, đặt cọc, ưu tiên, UBTVQH cũng cơ bản nhất trí về nguyên tắc, nhưng đề nghị Chính phủ rà soát lại về mặt quy định.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thị trường tín dụng trong "cơn lốc" phát hành TPDN
Việc các doanh nghiệp (DN) ồ ạt phát hành TPDN để hút vốn yừ đầu năm đến nay cho thấy sự phát triển của thị trường TPDN ở chừng mực nào đó là tín hiệu tích cực cho thị trường vốn Việt Nam.
Thông qua phát hành TPDN, các DN đã giải quyết được bài toán vốn của mình, giảm bớt áp lực cho vay của các ngân hàng thương mại, hỗ trợ ngân hàng huy động vốn trái phiếu để tăng vốn cấp 2...
Trong đó, khoảng 2/3 TPDN được phát hành bởi các ngân hàng và các DN bất động sản. Quy mô thị trường TPDN tới hết tháng 6-2019 có mức vốn hóa bằng 10,22% GDP, vượt mục tiêu đặt ra là 7% GDP vào năm 2020. Điều này cho thấy thị trường TPDN dần khẳng định vai trò trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả cho DN.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, lãi suất TPDN của một số đợt phát hành gần đây khá cao, lên đến 12% - 14%/năm. Thậm chí, có DN bất động sản phát hành trái phiếu lãi suất tới 14,5%/năm. Trong khi đó, nhà đầu tư thường chỉ quan tâm tới lãi suất, kỳ hạn và tên DN phát hành trái phiếu, chứ không có các tiêu chuẩn để tham khảo trước khi quyết định đầu tư.
Như vậy, điều đáng quan ngại là cuộc đua lãi suất của các tổ chức phát hành đang ngày một “nóng”, nếu không được kiểm soát tốt sẽ gây nhiều rủi ro cho nhà đầu tư, ảnh hưởng tới thị trường tín dụng và cân đối vĩ mô.

Đại diện Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) cho rằng, các DN muốn phát hành trái phiếu thành công phải cân nhắc rất nhiều yếu tố, cũng như phải thỏa mãn các điều kiện tại Nghị định 163/2018 quy định về phát hành TPDN, cũng như cung - cầu, “khẩu vị” của nhà đầu tư trên thị trường.
Mặt khác, tình trạng huy động trái phiếu với lãi suất cao sẽ ảnh hưởng tới việc điều hành, quản lý thị trường đã được Chính phủ đặt mục tiêu từ trước. Do đó, các cơ quan chức năng cần theo dõi, để nếu xuất hiện dấu hiệu bất thường thì có giải pháp xử lý. Tuy nhiên, đừng siết chặt mà nên để thị trường vận hành theo cơ chế của nó.
Một vấn đề khác cần đặt ra, hiện thị trường vẫn thiếu định chế tài chính trung gian làm cầu nối giữa người bán và người mua, mà cụ thể ở đây là các tổ chức, trung tâm xếp hạng tín nhiệm DN. Do đó, các tổ chức phát hành TPDN hầu như chưa được xếp hạng tín nhiệm, nên tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư cá nhân không đủ thông tin phân tích rủi ro.
Trong khi đó, 70% DN phát hành TPDN sử dụng tài sản và tài sản hình thành từ nguồn hình thành trái phiếu nhưng chưa được định giá bởi tổ chức định giá độc lập và khó xác minh các tranh chấp pháp lý.
Ngoài ra, hiện hầu hết TPDN trên thị trường được bán theo phương thức phát hành riêng lẻ, lên đến 93% - 95%, chỉ có khoảng 3% - 5% là phát hành đại chúng. Do đó, theo các chuyên gia, thị trường TPDN sẽ bền vững hơn nếu mở rộng phát hành cho đại chúng, chứ không chỉ tập trung ở một số DN, ngân hàng.
Để làm được điều này, cần yêu cầu các tổ chức phát hành TPDN tăng mức độ minh bạch, đồng thời phát triển xếp hạng tín nhiệm DN đối với DN phát hành trái phiếu, chỉ những DN được xếp loại tốt mới được cho phép phát hành TPDN.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Đó là quan điểm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp sáng ngày 17/9 về việc xem xét và cho ý kiến Tờ trình của Chính phủ đối với dự thảo Nghị định quy định thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá quá cảnh thông qua Hệ thống quá cảnh Hải quan ASEAN.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, văn bản này nhằm tạo cơ sở pháp lý để triển khai áp dụng hiện đại hóa hải quan đối với hàng hóa quá cảnh giữa các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam; giảm thủ tục giấy tờ trong việc thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa quá cảnh.
Khi được ban hành, Nghị định này cũng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tham gia hoạt động quá cảnh hàng hóa, đồng thời đảm bảo cam kết của Việt Nam khi tham gia phê duyệt Nghị định thư 7 về Hệ thống quá cảnh hải quan ASEAN.
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cũng cho biết, thực hiện thủ tục theo quy định của Nghị định thư 7 sẽ thực hiện thủ tục hải quan điện tử trên một hệ thống duy nhất từ nước xuất phát đến nước quá cảnh và đến nước cuối cùng là điểm đích của hành trình quá cảnh, góp phần giảm chi phí và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động quá cảnh hàng hóa giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN”
“Chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp với Ủy ban Tài chính Ngân sách để hoàn thiện bước cuối cùng, trình Chính phủ ban hành”, Bộ trưởng Bộ Tài chính cam kết.
Áp dụng doanh nghiệp ưu tiên trong hoạt động quá cảnh hàng hóa
Theo quy định của Luật Hải quan và Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/04/2018 của Chính phủ sửa đổi bổ sung Nghị định số 08/2015/NĐ-CP thì chế độ doanh nghiệp ưu tiên chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, chưa quy định đối với doanh nghiệp thực quá cảnh hàng hóa.
Để phù hợp với Nghị định thư 7 mà Việt Nam đã ký kết, phê duyệt, tại dự thảo Nghị định đã quy định nội dung liên quan đến doanh nghiệp ưu tiên cụ thể: quy định về điều kiện, quy định việc công nhận, thu hồi, đình chỉ cũng như các nội dung được ưu tiên trong quá trình làm thủ tục hải quan để làm cơ sở triển khai thực hiện (các nội dung ưu tiên tương tự như đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa). Việc bổ sung doanh nghiệp ưu tiên quá cảnh đảm bảo phù hợp với Phần 4 Phụ lục kỹ thuật của Hiệp định.
Thời điểm hiệu lực phải phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế
Cho ý kiến về vấn đề này, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng nhấn mạnh yêu cầu một mặt đảm bảo tính kết nối thông suốt của ngành Hải quan Việt Nam với các nước khác, nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo tính an toàn của hệ thống thông tin, đảm bảo quyền lợi của quốc gia, của tổ chức và cá nhân Việt Nam và đặc biệt là không để tội phạm lợi dụng biến nước ta thành điểm trung chuyển hàng hoá cấm.
Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng yêu cầu, một mặt đảm bảo tính kết nối thông suốt của ngành Hải quan Việt Nam với các nước khác, nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo tính an toàn của hệ thống thông tin, đảm bảo quyền lợi của quốc gia, của tổ chức và cá nhân Việt Nam và đặc biệt là không để tội phạm lợi dụng biến nước ta thành điểm trung chuyển hàng hóa cấm.
Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cũng lưu ý, việc ban hành Nghị định thuộc thẩm quyền của Chính phủ, vì thế, Chính phủ cần chủ động xây dựng và quyết định thời điểm có hiệu lực căn cứ vào pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam có tham gia.
Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Nguyễn Văn Giàu đồng ý với ý kiến trên và nhận xét, tình hình buôn lậu qua biên giới hiện đang diễn biến khá nghiêm trọng, nhất là đối với các mặt hàng như gỗ và ma túy. Xuất phát từ nhận định này, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại đề nghị cân nhắc kỹ những tiêu chí cho doanh nghiệp ưu tiên được quy định trong Nghị định.
Tuy nhiên, có 2 nội dung quan trọng chưa được quy định trong pháp luật Việt Nam cần cân nhắc là chế độ bảo lãnh và đặt cọc tiền thuế cho hàng hoá quá cảnh và cơ chế doanh nghiệp ưu tiên.
Trước đó, cơ quan thẩm tra (Ủy ban Tài chính Ngân sách) đã thể hiện quan điểm đồng tình với nội dung dự thảo.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Hiện tại nhiều ngân hàng đã đưa ra mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên trên 8%/năm với các kỳ hạn dài, đây là mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Do vậy, người dân càng có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc “chọn mặt gửi vàng”.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo nhận định của các chuyên gia thì có 3 nguyên nhân chính khiến lãi suất huy động tăng mạnh trong những ngày gần đây.
Cụ thể, thứ nhất là trong bối cảnh tín dụng trung dài hạn tại Việt Nam vẫn đang chiếm tỷ trọng cao (bình quân khoảng 50% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng), nên việc các ngân hàng tăng lãi suất huy động (trung, dài hạn) sẽ giúp ngân hàng có thêm nguồn vốn để tiếp tục tăng trưởng tín dụng từ nay đến cuối năm.
Tiếp theo là để đáp ứng các yêu cầu về hệ số an toàn vốn theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và cuối cùng là nhằm đáp ứng tốt hơn các quy định của Ngân hàng Nhà nước về giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn.
Ngoài ra, còn có thể kể thêm 1 tác nhân nữa khiến lãi suất huy động tại các ngân hàng tăng mạnh đó là việc một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu với lãi suất lên tới 12-13%/năm. Vậy nên, việc tăng lãi suất huy động của các ngân hàng cũng có thể hiểu là giúp các ngân hàng gia tăng tính cạnh tranh trong huy động vốn trên thị trường.

Lãi suất tiền gửi của các ngân hàng ngày 17-09-2019
Chiếu theo biểu lãi suất của từng ngân hàng, nếu người dân có nhu cầu gửi tiền tiết kiệm với kỳ hạn ngắn dưới 3 tháng thì những ngân hàng cỡ vừa và nhỏ đang là lựa chọn hợp lý khi có mặt bằng lãi suất huy động lên tới 5,5%/năm, như ABBank, HDBank, Sacombank hay SeABank. Còn nhóm ngân hàng lớn Vietcombank, Vietinbank, Agribank và BIDV lại chỉ huy động lãi suất tiền gửi kỳ hạn này ở mức dưới 5%/năm.
Đối với kỳ hạn 6-12 tháng, ABBank đang là ngân hàng có lãi suất huy động cao nhất, lên tới 8,5%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, xếp sau là TPBank với mức lãi suất 8,2%/năm.
Là ngân hàng nhỏ, NCB hiện cũng niêm yết mức lãi suất tiền gửi 6-12 tháng lên tới 8%/năm, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung. Một số ngân hàng cũng niêm yết lãi suất tiền gửi kỳ hạn này trên 7% mỗi năm là VIB, SCB, KienLongbank.
Đáng lưu ý, không chỉ có các Ngân hàng TMCP tư nhân tham gia rầm rộ trong cuộc đua lãi suất, mà cả các “ông lớn” như BIDV hay VietinBank cũng đều niêm yết lãi suất tiền gửi 12 tháng ở mức 7%/năm, tăng tới 0,2% so với trước đó (đầu tháng 8/2019).
Còn với kỳ hạn 24 tháng, ngoài Bản Việt đưa ra mức lãi suất huy động lên tới 8,6%/năm, NamABank cũng đang đưa ra mức lãi suất huy động lên tới 8,45%/năm. Tuy nhiên, để hưởng lãi suất này, khách hàng phải đáp ứng yêu cầu gửi với lượng tiền trên 500 tỷ đồng, đối với khoản tiền gửi dưới 500 tỷ gửi kỳ hạn 24 tháng lãi cuối kỳ sẽ áp dụng theo lãi suất của kỳ hạn 23 tháng lãi cuối kỳ.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Tại Việt Nam, chính sách thuế đã có nhiều thay đổi liên quan tới việc sửa đổi chính sách thuế và cải cách quản lý thuế. Việc sửa đổi chính sách thuế nhằm mục đích hướng tới việc giảm chi phí tuân thủ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ quy định về thuế.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Những nhận định trên được nhiều chuyên gia đưa ra tại Hội thảo “Thích ứng tốt hơn với hệ thống quản lý thuế nghiêm ngặt được thúc đẩy bởi số hóa” do EY Việt Nam phối hợp với Câu lạc bộ CFO Việt Nam tổ chức mới đây. Hội thảo giúp các doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát và thấu đáo hơn trong việc xây dựng kế hoạch thuế và quản trị rủi ro, từ đó nâng cao hơn hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Theo các chuyên gia của EY Việt Nam, doanh nghiệp đang kinh doanh trong một môi trường thuế chịu ảnh hưởng bởi nhiều tác động từ chiến tranh thương mại, bất ổn chính trị, biến động của nền kinh tế thế giới đến những phát triển vượt trội về công nghệ.
Trên thế giới, đứng trước bối cảnh gia tăng các xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn, các quốc gia đang sử dụng thuế quan như một vũ khí chủ yếu để tái lập thương mại công bằng, tạo ra áp lực trực tiếp khiến các doanh nghiệp phải sắp xếp lại chuỗi giá trị, chuỗi cung toàn cầu.
Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt ra thách thức mới cho các nước trong việc thu thuế nền kinh tế số.
Tại Việt Nam, chính sách thuế đã có nhiều thay đổi liên quan tới việc sửa đổi chính sách thuế và cải cách quản lý thuế. Việc sửa đổi chính sách thuế nhằm mục đích hướng tới việc giảm chi phí tuân thủ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ quy định về thuế.
Nhiều chuyên gia có cùng nhận định về tác động của môi trường kinh doanh toàn cầu, cùng nhiều quy định, hướng dẫn mới liên quan tới nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp được ban hành thời gian qua đã và đang có tác động lớn đến nhiều mặt hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Giải đáp những ý kiến thắc mắc của các doanh nghiệp liên quan tới việc tuân thủ những quy định mới, đặc biệt là vấn đề về hoá đơn điện tử, giao dịch liên kết và thuế thu nhập cá nhân, các chuyên gia EY Việt Nam đã chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong việc xử lý các vướng mắc về thuế cho doanh nghiệp cũng như cách thức doanh nghiệp chủ động quản trị các rủi ro về thuế, đồng thời chuẩn bị tốt nhất cho các cuộc thanh kiểm tra của cơ quan thuế.
Theo chuyên gia của EY Consulting Việt Nam, công tác thanh tra chắc chắn sẽ hiệu quả hơn dưới sự hỗ trợ của phương thức điện tử. Việc công tác quản lý thuế của cơ quan thuế ngày càng hiệu quả, yêu cầu tuân thủ đối với các doanh nghiệp cũng ngày càng trở nên thiết yếu để tránh hậu quả phạt thuế, truy thu thuế.
Luật Quản lý thuế sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày 13/6/2019, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2020, đưa ra nhiều quy định mới liên quan tới việc thực hiện và quản lý thuế trên nền tảng internet. Luật Thuế đưa ra quy định đầu tiên về hóa đơn điện tử, yêu cầu người bán hàng, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua. Trong trường hợp người bán sử dụng máy tính tiền, người bán đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.
Luật thuế cũng lần đầu đưa ra các quy định quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử. Các nhà cung cấp ở nước ngoài, không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, nhưng có hoạt động thương mại điện tử, phải có nghĩa vụ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế tại Việt Nam.
Ngoài ra, ngân hàng thương mại có trách nhiệm trong việc khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử có phát sinh thu nhập từ Việt Nam.
Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Quang Toàn - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Tổng cục Thuế cho biết, một số nội dung trong Luật Quản lý thuế sửa đổi ngành Thuế phải triển khai để khi luật có hiệu lực có thể áp dụng ngay đó là tất cả các giao dịch giữa cơ quan thuế và người nộp thuế sẽ được thực hiện bằng phương thức điện tử. Khi các ứng dụng này được triển khai sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, đồng thời giảm được chi phí, cũng như các thủ tục liên quan đến thuế thu nhập cá nhân...
Luật cũng có quy định về quản lý thuế trên nền tảng Công nghệ thông tin, quản lý thuế đối với thương mại điện tử, chuyển giá và rủi ro… do đó, ngành Thuế đang tích cực mở rộng các dịch vụ điện tử và các doanh nghiệp cũng cần nắm rõ những thay đổi này để thích ứng tốt khi Luật có hiệu lực thi hành.
Bên cạnh xu hướng sửa đổi chính sách thuế và cải cách quản lý thuế, hoạt động thanh tra, kiểm tra trong ngành Thuế sẽ ngày một hiệu quả hơn.
Trong thời gian tới, Thanh tra ngành Thuế sẽ tập trung thực hiện thanh tra các doanh nghiệp có khả năng có số thu điều tiết ngân sách Trung ương lớn, tăng cường thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế, chú trọng thanh tra các doanh nghiệp có giao dịch liên kết, có dấu hiệu chuyển giá.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xem xét sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung quan trọng liên quan đến 8 nhóm chính sách lớn của Luật Đất đai 2013.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Sau 5 năm triển khai thi hành Luật Đất đai 2013, công tác quản lý, quy hoạch, sử dụng đất vẫn còn nhiều bất cập do Luật này và các Luật khác có liên quan còn mâu thuẫn, chồng chéo, dẫn tới không rõ trách nhiệm quản lý, gây khó khăn cho tổ chức thực hiện.
Quốc hội, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai. Trong đó, dự kiến xem xét sửa đổi, bổ sung 8 nhóm chính sách lớn liên quan đến việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất; quản lý, sử dụng đất của các dự án bất động sản nghỉ dưỡng…
Các chuyên gia cho rằng, việc thi hành Luật Đất đai năm 2013 thời điểm hiện nay đang bộc lộ nhiều khiếm khuyết, nếu sớm được đưa vào thực hiện sẽ giúp cho thị trường bất động sản có thêm cơ hội phát triển theo quy luật của thị trường.
GS Đặng Hùng Võ - Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ rõ, Luật này đang lạc hậu so với những đổi mới đáng kể trong những luật ban hành từ năm 2014 trở đi như: Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quy hoạch...
"Luật Đất đai năm 2013 đang thể hiện nhiều bất cập, xung đột, không thể thực thi trên thực tế. Đây là những nguyên nhân gây ra nhiều sai phạm trong thực thi pháp luật, làm thất thoát giá trị đất công, nhiều cán bộ quản lý đất đai ở địa phương rơi vào vòng lao lý” – ông Võ nhấn mạnh.
Ông Võ dẫn chứng, Luật Đất đai năm 2013 đưa ra giải pháp xử lý các dự án "treo" bằng cách cho gia hạn thêm 24 tháng nữa mà vẫn bị "treo" thì nhà nước thu hồi đất và "tịch thu" mọi giá trị đã đầu tư trên đất.

Việc thu hồi đất là phù hợp Hiến pháp vì chủ đầu tư vi phạm pháp luật về đất đai nhưng tài sản đã đầu tư trên đất không hề vi phạm pháp luật về đầu tư nên việc này có biểu hiện vi phạm quy định của Hiến pháp về việc nhà nước bảo hộ tài sản hợp pháp của các doanh nghiệp và không thực hiện quốc hữu hóa.
Trên thực tế, số lượng dự án "treo" rất nhiều nhưng không được xử lý vì nhiều lý do, trong đó có việc do pháp luật thiếu phù hợp. Đây chính là một nội dung phải sửa gấp để giải quyết tình trạng dự án "treo" rất phổ biến hiện nay.
"Theo đó, cần sửa Luật Đất đai năm 2013 bằng cách loại bỏ điểm i khoản 1 ra khỏi điều 64 và bổ sung một điều mới có nội dung xử lý các dự án "treo" dựa trên xử phạt bằng công cụ tài chính” - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phân tích.
Tương tự, ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch Hiệp hội bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA) cho rằng rất cần thiết nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vào Luật Đất đai năm 2013.
“Tôi nhận thấy Luật Đất đai đang áp dụng có những khuyết điểm như hệ thống pháp luật chưa đồng bộ trong quá trình triển khai. Điểm yếu nhất là công tác thực thi pháp luật và quy định về các điều kiện, cơ chế thực thi pháp luật của hệ thống các văn bản dưới luật, thủ tục hành chính còn rườm rà, bất cập, trách nhiệm và năng lực thi hành công vụ của một số cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước còn yếu" – ông Châu nói.
Theo ông Châu, nhìn toàn diện, người triển khai các nghị định và thông tư cần bám sát, hướng dẫn chi tiết hơn đối với người dân, doanh nghiệp. Bỏ bớt lưu trữ giấy tờ, cần quản lý theo 4.0 như các nước trên thế giới đang áp dụng.
Góp ý về Luật Đất đai năm 2013, ông Nguyễn Văn Đực - Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Hội Xây dựng Việt Nam cũng cho rằng, Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải có kết quả kiểm tra thực địa.
Tuy nhiên, hồ sơ giao đất, cho thuê đất… không có văn bản nào để trên cơ sở đó xác định chủ đầu tư có đủ năng lực tài chính thực hiện dự án. Chưa kể đến việc năng lực tài chính của chủ đầu tư có thể có biến động trong thời gian dự án chưa được quyết định chủ trương đầu tư hay giao sản phẩm cho khách hàng.
Theo Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, từ đầu năm 2019 đến nay, thị trường bất động sản có dấu hiệu “chững” lại, mà nguyên nhân chính liên quan đến những khuôn khổ pháp lý. Theo đó, hàng loạt các dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư có dấu hiệu vi phạm đều bị thanh tra toàn diện. Vì vậy, rất nhiều dự án đang triển khai cũng phải dừng lại để phục công tác thanh tra.
Hơn lúc nào hết, sửa đổi gấp Luật Đất đai 2013 là nội dung cần thiết. Việc sửa đổi cũng cần công khai hóa trên cơ sở tiếp nhận ý kiến chuyên gia, người dân, doanh nghiệp.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Đà Nẵng nên thực hiện các chính sách bình ổn thị trường, chống đầu cơ, sốt ảo trên thị trường bất động sản. Nếu dìm giá mà không đưa ra được các biện pháp cụ thể dễ dẫn đến chính quyền can thiệp vào thị trường; giá bất động sản hãy để thị trường quyết định
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thị trường bất động sản (BĐS) Đà Nẵng đã trải qua nhiều giai đoạn giá lên xuống thất thường, thậm chí nhiều nhà đầu tư (NĐT) đã phải ôm “trái đắng” khi là người cuối cùng hứng chịu các cơn sốt đất đã đi qua.
Nguồn đất đai cạn kiệt
Tại một cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng, ông Trương Quang Nghĩa, Bí thư Thành ủy TP. Đà Nẵng, nhấn mạnh các ngân hàng cho vay BĐS có khả năng rủi ro rất lớn.
“Đà Nẵng đang chủ trương dìm bằng được giá xuống, không để nổi phình phình chỉ nuôi mấy ông mua đi bán lại, người dân không được gì”, ông Nghĩa nhấn mạnh.
Theo ông Nghĩa, Đà Nẵng “còn quỹ đất còn lại làm của để dành, chứ cứ đưa 1 miếng đất bán ra được 1 đồng bạc thì mất 20 đồng để giải quyết vấn đề khác, trong khi Đà Nẵng không có nhu cầu thật”.
Trước đó, tại hội thảo chung về quy hoạch Đà Nẵng, nhiều chuyên gia khẳng định quỹ đất của Đà Nẵng phần lớn đã có chủ và nếu thực hiện đúng theo quy hoạch hiện nay thì đến năm 2045, thành phố hết đất, cần phải đánh giá lại cách sử dụng đất của Đà Nẵng.
Theo đánh giá của đơn vị tư vấn, hiện Đà Nẵng chỉ còn khoảng 14% diện tích để phát triển đô thị, nhưng thực ra 14% đó là đất tương đối khó cho xây dựng do gần sông nước, hay ngập lụt…
Thống kê của các đơn vị tư vấn BĐS thời gian gần đây cho thấy giá nhà đất tại Đà Nẵng tăng khá mạnh, để lại nhiều hệ luỵ cho thị trường và các NĐT.
Trong vài năm trở lại đây, Đà Nẵng liên tục là tâm điểm của các cơn sốt đất. Nhiều NĐT bất chấp rủi ro lao vào các cơn sốt đất với hy vọng có thể lướt sóng để kiếm lời. Tuy nhiên, khi các cơn sốt đất qua đi, giá BĐS lao dốc, nhiều người đầu tư đã bị mắc cạn.
Bên cạnh đó, các cơn sốt đất ảo với hoạt động phân lô bán nền cũng để lại nhiều hệ lụy thị trường. Hoạt động đầu tư này đơn thuần chỉ là mua đi bán lại, không những không mang lại cho thị trường những BĐS thực sự có giá trị mà còn khiến cho các NĐT thực khi đến phát triển dự án, giá đất đã ở mức quá cao, không đủ sức đầu tư. Mặt khác, công tác giải phóng mặt bằng của các dự án này cũng rất phức tạp do hệ luỵ của việc phân lô bán nền trước đó.
Tuy nhiên, việc chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý có thể dùng các biện pháp hành chính để can thiệp, dìm giá BĐS hay không vẫn là một vấn đề gây tranh cãi lớn trong giới chuyên gia và dư luận.

Đà Nẵng nên quản lý BĐS bằng các chính sách, còn giá hãy để thị trường quyết định
Tuân thủ quy luật thị trường
Thị trường BĐS là thị trường hàng hóa khá đặc thù, chịu nhiều tác động từ các chính sách pháp luật, quy định của Nhà nước. Song, nó vẫn tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định của quy luật kinh tế thị trường.
Ông Nguyễn Đức Lập, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đào tạo BĐS, cho rằng phát biểu của Bí thư Thành ủy Đà Nẵng về việc “dìm giá BĐS” có thể là việc thành phố sẽ thực hiện các chính sách bình ổn, chống đầu cơ trên thị trường BĐS.
Nhìn lại giai đoạn vừa qua cho thấy, Đà Nẵng đã có chỉ đạo các cơ quan ban ngành quyết liệt chống đầu cơ, bình ổn thị trường. Điển hình như việc UBND huyện Hoà Vang ra thông báo về việc thành phố chưa có chủ trương xây dựng trường đua ngựa và lên quận tại địa phương này; thành phố chủ trương xóa sổ các ki ốt môi giới BĐS trái phép; truyền thông kịp thời những thông tin không chính xác, những văn bản giả mạo về quy hoạch để nhằm lũng đoạn thị trường…
Ở góc nhìn chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Đình Ánh cho rằng muốn dìm giá BĐS, TP. Đà Nẵng cần phải đánh giá lại thị trường BĐS có hiện tượng bong bóng đầu cơ hay không? Tăng giá do những nguyên nhân nào? Bởi có nơi tăng giá ăn theo quy hoạch, có nơi giới đầu cơ găm hàng vào đó để đẩy giá lên.
Theo ông Nguyễn Đức Lập, để có những biện pháp giữ ổn định thị trường, Đà Nẵng cần phải quyết liệt hơn nữa mới có thể hy vọng về một thị trường BĐS minh bạch, cung thật, cầu thật.
Theo đó, thành phố cần công khai sớm, kịp thời tất cả đồ án quy hoạch, định hướng quy hoạch cho mọi người dân được biết. Đồng thời, công khai danh mục dự án đầu tư, dự án kêu gọi đấu giá, đấu thầu hàng năm, tiến độ thực hiện và cam kết thực hiện các dự án để minh bạch nguồn cung, chống ém cung, cung nhỏ giọt để “làm giá” BĐS.
Thành phố cần quản lý chặt vùng giải tỏa để tránh “chạy sổ”, xây nhà, tách thửa trái phép làm tăng tổng mức đầu tư, từ đó làm tăng giá BĐS. Bên cạnh đó, thành phố cần hạn chế, tiến đến cấm phê duyệt dự án phân lô, bán nền. Đồng thời, kiểm soát chặt việc mua bán, huy động vốn sai phép đối với các dự án BĐS hình thành trong tương lai.
“Còn giá BĐS hãy để thị trường quyết định như những giá trị vốn có đã được tích lũy lâu dài trong giai đoạn phát triển vừa qua”, ông Lập nhấn mạnh.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
8 tháng đầu năm 2019, ước tính tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp (DN) được chào bán là hơn 129.000 tỷ đồng và tỷ lệ phát hành thành công toàn thị trường là 90,8%, tương đương gần 118.000 tỷ đồng. Trong đó, ngân hàng phát hành hơn 56.000 tỷ đồng trái phiếu, chiếm gần một nửa tổng giá trị trái phiếu phát hành của thị trường.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ngân hàng sở hữu chéo trái phiếu của nhau?
Có 12 ngân hàng thương mại đã phát hành thành công trái phiếu với tỷ lệ lên đến 99,6%, khoảng 56.000 tỷ đồng trong 8 tháng năm 2019. Cụ thể, 11 ngân hàng phát hành thành công 100%, chỉ có Seabank còn 2 lô không bán hết.
Trong số này, 5 ngân hàng có lượng trái phiếu phát hành lớn nhất (chiếm hơn 80% tổng giá trị trái phiếu) là VPBank với 13.860 tỷ đồng (trong đó có 300 triệu USD trái phiếu quốc tế), HDBank 11.600 tỷ đồng, ACB 7.850 tỷ đồng, VIB 6.450 tỷ đồng và LienVietPost Bank 6.100 tỷ đồng. Đa số trái phiếu ngân hàng thương mại kỳ hạn 2 - 3 năm, có lãi suất ở mức 6,5% - 7,3%/năm.
Đáng lưu ý, có đến 40% trái phiếu ngân hàng phát hành được công ty chứng khoán mua vào. Tuy nhiên, theo Công ty Chứng khoán SSI, lượng trái phiếu mà các công ty chứng khoán mua quá lớn so với quy mô vốn của mình, bản thân các công ty chứng khoán cũng phải huy động trái phiếu để tăng vốn nên khả năng cao công ty chứng khoán chỉ là trung gian.
Hơn nữa, với lãi suất trung bình ở mức 6,72%/năm, chỉ tương đương lãi suất huy động của ngân hàng thương mại lớn - tức nhóm có lãi suất huy động thấp nhất, thì trái phiếu của các ngân hàng thương mại hầu hết không hấp dẫn với nhà đầu tư thông thường. Đối tượng mua chủ yếu là công ty chứng khoán trực thuộc các ngân hàng, nên có khả năng lớn là các công ty chứng khoán “mua giùm” các ngân hàng.
Thực tế báo cáo tài chính của 18 ngân hàng thương mại trên thị trường cho thấy, 6 tháng đầu năm 2019, lượng trái phiếu của các tổ chức tín dụng mà ngân hàng thương mại nắm giữ tăng thêm khoảng 56.000 tỷ đồng. Do đó, rất có thể các ngân hàng thương mại đã sở hữu chéo trái phiếu của nhau. Mục đích là để gia tăng nguồn huy động, nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn nhằm đáp ứng yêu cầu giảm tỷ trọng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng Nhà nước.
Nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường trái phiếu
Với tiềm lực tài chính tốt, các ngân hàng thương mại đang đóng vai trò là nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường trái phiếu. Không chỉ sở hữu trái phiếu của ngân hàng khác, các ngân hàng thương mại cũng đầu tư vào trái phiếu của các tổ chức kinh tế nhằm đa dạng hình thức đầu tư, cũng như giải ngân vốn cho DN. Theo báo cáo bán niên năm 2019 của 12 ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường, tính đến cuối tháng 6/2019, tổng dư nợ chứng khoán gồm trái phiếu những tổ chức kinh tế mà các ngân hàng nắm giữ có giá trị hơn 178.000 tỷ đồng, tăng 2% so với cuối 2018.
Một số ngân hàng thương mại có xu hướng đầu tư vào trái phiếu của các tổ chức kinh tế mạnh, như MBBank có dư nợ trái phiếu các tổ chức kinh tế tăng gần 79% so với cuối năm 2018, TBBank tăng hơn 25%... Các ngân hàng có tỷ trọng đầu tư vào trái phiếu tổ chức kinh tế lớn nhất là Techcombank với 60.700 tỷ đồng, MBBank là 15.600 tỷ đồng… không ít các trái phiếu mà các ngân hàng này mua là trái phiếu do các DN bất động sản và DN xây dựng phát hành.
Thống kê cũng cho thấy, trong tổng số 36.876 tỷ đồng trái phiếu bất động sản được phát hành trên thị trường trong 6 tháng qua, các ngân hàng đã mua hơn 20%. Việc mở rộng đầu tư quá nhanh thông qua mua trái phiếu các DN nhất là trong lĩnh vực bất động sản sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì là loại hình kinh doanh có nhu cầu vốn lớn và đang tăng trưởng chậm lại.
Một chuyên gia tài chính nhận định, việc ngân hàng “ôm” trái phiếu DN là câu chuyện diễn ra nhiều năm nay và đây được dự đoán là cách để giải quyết bài toán vốn đối với những DN hết hạn mức, tài sản thế chấp được vay tiền từ ngân hàng. Đặc biệt, nếu số dư đầu tư trái phiếu xây dựng, bất động sản của ngân hàng lớn trong khi thị trường này chưa phục hồi vững chắc, thì rủi ro luôn hiện hữu. Do đó, việc rà soát, kiểm soát các ngân hàng đầu tư trái phiếu DN là cần thiết.
Thực tế cho thấy, so với cho vay, việc mua trái phiếu DN sẽ giúp các ngân hàng thương mại linh hoạt hơn vì có thể bán lại một phần trái phiếu này cho các tổ chức, quỹ đầu tư và khách hàng cá nhân, khi cần điều chỉnh khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán.
Tuy nhiên, một số ngân hàng cũng sử dụng công cụ trái phiếu DN, thông qua các giao dịch tài chính phức tạp để cơ cấu lại nợ của tổ chức phát hành hoặc mục đích khác. Trước tình trạng này, mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản gửi đến các ngân hàng thương mại yêu cầu tăng cường kiểm soát hoạt động đầu tư trái phiếu DN và cho biết sẽ xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế các rủi ro tiềm ẩn.
Trong khoảng gần 129.000 tỷ đồng trái phiếu chào bán nói trên, trái phiếu do ngân hàng phát hành chiếm 45%, bất động sản 24%, du lịch và giải trí 10,4%, xây dựng 7,5%, công ty chứng khoán 3,9%... Tuy nhiên, nhiều công ty trong lĩnh vực du lịch có phát hành trái phiếu là để đầu tư bất động sản khu du lịch, nghỉ dưỡng.
(Nguồn: Công ty Chứng khoán Rồng Việt)
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Việt Nam sẽ chính thức thực hiện mô hình kinh tế chia sẻ và khẳng định không thể “chậm chân” trong việc chiếm lĩnh thị phần “miếng bánh” 335 tỷ USD.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo nghiên cứu của công ty kiểm toán Pricewaterhouse Coopers Việt Nam (PwC), chỉ riêng 5 lĩnh vực là du lịch, vận tải, tài chính, nhân lực và dịch vụ video trực tuyến ca nhạc, khi ứng dụng mô hình này làm tăng doanh thu toàn cầu từ 15 tỷ USD năm 2014 và dự báo lên 335 tỷ USD năm 2025.
Phát triển bùng nổ
Giá trị lớn nhất của mô hìnhkinh tế chia sẻ là tác động lên hầu hết các lĩnh vực kinh doanh truyền thống, buộc thay đổi và cạnh tranh, tiết giảm chi phí và tận dụng tối đa các nguồn lực.
Ở Việt Nam, dù mới phát triển nhưng kinh tế chia sẻ đang phát triển nhanh chóng cùng với sự phổ biến của smartphone tại một số đô thị những năm gần đây. Nổi bật là 3 loại hình dịch vụ là vận tải trực tuyến; dịch vụ chia sẻ phòng nghỉ và cho vay ngang hàng (P2P lending). Một số dịch vụ khác cũng bắt đầu xuất hiện như chia sẻ chỗ làm, gửi xe, chia sẻ nhân lực…
Điều này có thể nhìn thấy khi hàng loạt mô hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực vận chuyển xuất hiện tại Việt Nam gần đây như: GoViet, Bee hay Grab… đang bành trướng và dần chiếm lĩnh thị trường, khiến các mô hình taxi truyền thống khó cạnh tranh nhờ sức mạnh công nghệ và internet.
Trong lĩnh vực du lịch, mô hình chia sẻ phòng lưu trú cũng đang thu hút được sự tham gia của nhiều startup với dịch vụ cho thuê phòng trực tuyến tại Việt Nam như Luxstay, Homestay…
Theo số liệu của Grant Thomton, năm 2016, dịch vụ này chỉ có 6.500 căn hộ nhưng tới năm 2017 đã tăng lên 16.000 căn, gấp 2,5 lần, chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Khảo sát gần đây của công ty Nielsen cho thấy cứ 4 người Việt Nam được hỏi thì có 3 người cho biết họ thích ý tưởng về mô hình kinh doanh này; 76% cho biết sẵn sàng tận dụng các sản phẩm và dịch vụ chia sẻ…
Kết quả khảo sát của Facebook và Morning Consult cũng ghi nhận 77% doanh nghiệp nhỏ trên Facebook cho biết sử dụng ứng dụng nền tảng này để tăng doanh số bán hàng và khoảng 76% doanh nghiệp nhỏ có thể tuyển dụng nhân viên thông qua ứng dụng Facebook. Hiện có khoảng 78 triệu người dùng Facebook trên thế giới có kết nối với doanh nghiệp Việt Nam.
Chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú, nguyên Phó Giám đốc Sở Thương mại Hà Nội, cho rằng kinh tế chia sẻ sẽ giúp thị trường cạnh tranh hơn và loại hình dịch vụ đa dạng hơn, mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng, đồng thời mở ra cơ hội đầu tư, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động. Kinh tế chia sẻ cũng sẽ giúp tiết kiệm tài nguyên, tận dụng tối đa công suất tài sản dư thừa, cũng như thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở Việt Nam…
Hoàn thiện khung pháp lý
Dù chứng tỏ được sự ưu việt, tính hấp dẫn, nhưng sự nở rộ của các mô hình kinh tế chia sẻ đang cho thấy mối lo ngại về cạnh tranh không bình đẳng.
Ông Vũ Vinh Phú cảnh báo bên cạnh mặt tích cực, mô hình kinh tế chia sẻ cũng tạo ra nhiều thách thức lớn, chứa đựng rủi ro và các hệ lụy xã hội không mong muốn. Đơn cử như trong dịch vụ chia sẻ phương tiện giao thông, thách thức dễ nhận thấy nhất là áp lực cạnh tranh rất lớn giữa taxi công nghệvới các hãng taxi truyền thống.
Phân tích thêm về mặt trái của nền kinh tế chia sẻ, ông Phú cho rằng nhiều người vẫn chưa có tư duy về chia sẻ, vẫn vì lợi ích cá nhân và cục bộ, chưa lo cho lợi ích lâu dài. Các doanh nghiệp cho đến nay đều chưa được trang bị kiến thức cơ bản về nền kinh tế đặc thù để nhận thức một cách tự giác theo tư duy tiên tiến.
Nếu xuất phát từ tính cấu kết cộng đồng yếu và kỷ luật thị trường kém bền vững sẽ làm cho sự phát triển kinh tế chia sẻ ở Việt Nam khó phát triển nhanh và bền vững. Đơn cử như việc kết nối giữa khách hàng và tài xế Grab, khi hệ thống vận hành hiệu quả thì về nguyên tắc, lợi ích của các bên đều tăng lên. Tuy nhiên, nếu chỉ vì lợi ích cá nhân, người lái xe sẽ thoả thuận với khách hàng và tắt ứng dụng gọi xe để “cưa đôi” phần phí đáng lẽ Grab sẽ được hưởng.
Thạc sĩ Nguyễn Phan Anh, Giảng viên Đại học Thương mại, cũng cho rằng sự phát triển của mô hình nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam được đánh giá là khá nhanh, có chuyển biến tích cực và hiệu quả nhất định giúp khách hàng có thêm sự lựa chọn tốt hơn và rẻ hơn, giúp cho thị trường có động lực đổi mới phát triển. Tuy nhiên cũng kèm mối lo ngại về sự cạnh tranh không bình đẳng, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời và đúng đắn, thì lối mòn về những cuộc biểu tình phản đối Uber hay làn sóng tiềm ẩn phản đối kinh tế chia sẻ giống như nhiều quốc gia trên thế giới sẽ tiếp tục diễn ra.
Theo các chuyên gia, câu chuyện quản lý nền kinh tế chia sẻ không chỉ làm đau đầu các nhà quản lý trong nước, mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng bối rối. Do đó, cần xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh để tận dụng lợi ích mà mô hình kinh tế này đem lại, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước.
Song song với đó, cần tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa mô hình kinh tế chia sẻ và kinh tế truyền thống theo hướng rà soát, bãi bỏ các quy định về điều kiện kinh doanh không phù hợp với lĩnh vực kinh doanh truyền thống để thích nghi với sự đa dạng và phát triển nhanh của nền kinh tế số, trong đó có kinh tế chia sẻ.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Ngay trong ngày đầu khai mạc, các gian hàng của Việt Nam đã thu hút được đông đảo khách hàng Nga tới tham quan, tìm hiểu thông tin hợp tác.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ngày 17/9, tại khu Triển lãm những thành tựu nền kinh tế quốc dân (VDNKh) ở thủ đô Moskva, Liên bang Nga, Hội chợ Textillegprom 2019 đã chính thức khai mạc.
Hội chợ hàng đầu về công nghiệp dệt may của Nga năm nay thu hút hơn 2.000 công ty tham gia triển lãm hàng hóa trên một diện tích 25.000m2, trong đó có các công ty của Việt Nam.
Dự kiến sẽ có khoảng 35.000 khách, bao gồm cả các khách hàng và chuyên gia trong ngành công nghiệp tới tham quan.
Tham gia đoàn doanh nghiệp tới tìm kiếm cơ hội làm ăn tại Nga lần này có đại diện tám doanh nghiệp trong ngành dệt may Việt Nam bao gồm Tổng Công ty May 10, Tổng Công ty May Đồng Nai, Công ty TNHH May mặc Quế Lâm, Công ty TNHH Trí Đức, Công ty CP Châu Sơn Toàn Cầu, Công ty TNHH May Nguồn Lực, Công ty TNHH Lâm Quang và Công ty TNHH May Quảng Bích.
Tại Hội chợ Textillegprom 2019, các công ty Việt Nam đã mang tới trưng bày một số mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh như áo jacket, quần áo bò, quần áo ngủ cũng như đồ trẻ em và nhiều mặt hàng khác để giới thiệu tới thị trường Nga.
Ngay trong ngày đầu khai mạc, các gian hàng của Việt Nam đã thu hút được đông đảo khách hàng Nga tới tham quan, tìm hiểu thông tin hợp tác.

Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết, đây là lần thứ ba VITAS tổ chức đưa các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội chợ dệt may ở Nga.
Ông nhấn mạnh: "Sau ba lần tham gia hội chợ ở Nga, tôi cho rằng những chương trình xúc tiến thương mại của ngành dệt may Việt Nam từ trước đến nay đã mang lại những hiệu quả tích cực, các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận khách hàng và đã có rất nhiều doanh nghiệp đã ký được những đơn hàng thông qua những hội chợ như thế này. Chúng tôi cũng hy vọng lần này các doanh nghiệp sẽ thành công trong việc đó."
Theo ông Trương Văn Cẩm, việc tổ chức đoàn doanh nghiệp tham gia các hội chợ ở những thị trường lớn nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp xúc với các thị trường tiềm năng, kết nối với khách hàng và giới thiệu những sản phẩm, thế mạnh của mình để có thể khai thác tốt các thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp đang hướng tới.
Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam tham gia trưng bày giới thiệu sản phẩm tại hội chợ lần này đều có các khách hàng Nga và đang tiếp tục tìm kiếm các khách hàng mới.
Đánh giá về hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại này, chị Võ Hoàng Quyên, công ty TNHH May Nguồn lực chia sẻ: "Công ty TNHH May Nguồn lực chuyên sản xuất các sản phẩm quần áo Jean và kaki. Từ sáu năm qua, chúng tôi đã có những khách hàng Nga và mỗi tháng xuất khẩu sang thị trường này trung bình khoảng 50.000 sản phẩm. Đây là lần thứ ba công ty tôi tham gia hội chợ dệt may tại Nga. Việc tham gia hội chợ mang lại hiệu quả rất tích cực cho công ty chúng tôi. Mỗi lần tham gia hội chợ, chúng tôi lại có thêm ít nhất từ ba tới bốn khách hàng mới."
Trả lời phỏng vấn của phóng viên, ông Dương Hoàng Minh, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Liên bang Nga khẳng định, kể từ khi Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU), trong đó Nga là một thành viên chủ chốt, có hiệu lực năm 2016, kim ngạch xuất khẩu nói chung từ Việt Nam sang Liên bang Nga đã có sự tăng trưởng tích cực.
Trong đó, ngành dệt may năm 2018 đạt kim ngạch xuất khẩu 179,9 triệu USD, tăng gần 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong 7 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may sang Nga đạt mức tăng trưởng ấn tượng, đạt 154,2 triệu USD, tăng hơn 60% so với cùng kỳ năm trước.
Ông Dương Hoàng Minh cho biết, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp dệt may đã tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm chuyên ngành, tăng cường công tác xúc tiến thương mại, nắm bắt cơ hội, gặp gỡ khách hàng ở đây.
Qua tìm hiểu, làm việc với các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội chợ lần này, phần lớn các doanh nghiệp cũng đã có khách hàng ở Nga rồi.
Tuy nhiên, hiện mỗi năm kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Nga chỉ đạt khoảng 180 triệu USD, chiếm chưa đầy 3% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Nga, ước khoảng 8 tỷ USD/năm.
Bởi vậy, các doanh nghiệp cần tăng cường việc tìm hiểu thị trường, tiếp xúc khách hàng nhiều hơn nữa. Đồng thời, ngoài việc tham dự triển lãm, các doanh nghiệp có thể tổ chức đoàn riêng trực tiếp sang Nga để gặp gỡ các đối tác, trao đổi tìm kiếm cơ hội làm ăn.
Hội chợ Textillegprom 2019 kéo dài đến ngày 20/9, sau đó đoàn Việt Nam tiếp tục đi khảo sát, tìm kiếm đối tác tại thành phố Moskva và St. Petersburg đến ngày 25/9.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Trong những tháng cuối năm 2019, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với động lực chính là các nhóm ngành truyền thống như dệt may, giày dép và đồ gỗ... Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Xuất khẩu hưởng nhiều yếu tố tích cực
Theo Bộ Công Thương, hoạt động xuất khẩu sẽ được tiếp sức với nhiều yếu tố thuận lợi. Cụ thể, những tháng cuối năm sẽ là giai đoạn cao điểm cho các doanh nghiệp tập trung sản xuất, đặc biệt là nhóm hàng điện tử tiêu dùng (điện thoại, tivi,..) khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Các dòng sản phẩm điện thoại của Samsung dự kiến ra mắt vào quý III/2019 sẽ hỗ trợ cho ngành sản xuất điện thoại và linh kiện trong khi giai đoạn Lễ Tạ ơn và Giáng sinh (quý IV) là cao điểm cho mua sắm tiêu dùng.
Kim ngạch xuất khẩu trong quý III/2019 dự báo có xu hướng cao hơn so với quý II/2019 do nhiều mặt hàng bước vào thời kỳ cao điểm xuất khẩu. Theo chu kỳ, xuất khẩu hàng hóa thường tăng cao trong những tháng cuối năm do đây là thời kỳ cao điểm cho mua sắm tiêu dùng trong các dịp Lễ tết.
Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ dự báo tiếp tục tăng trưởng tích cực khi các nhà nhập khẩu Mỹ đẩy mạnh tìm kiếm hàng hóa thay thế hàng Trung Quốc và các cơ sở sản xuất mới sau khi dịch chuyển đầu tư.
Nếu doanh nghiệp Việt Nam trong các ngành hàng như máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, thủy sản, đồ gỗ, nội thất… nhanh nhạy, chủ động thông tin, tìm ra những lợi thế để khai thác, tranh thủ cơ hội để vươn lên, chiếm lĩnh thị phần, tăng khả năng cạnh tranh, đáp ứng được tiêu chuẩn, nhu cầu và tăng khả năng xuất khẩu, thì sẽ nắm bắt cơ hội tốt hơn.
Ngược lại, với thị trường trong nước, các ngành hàng như thép, da giầy, dệt may, nông sản, hàng điện tử,… sẽ chịu thêm áp lực cạnh tranh khi các mặt hàng này có thể dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam để tránh thuế.
Yếu tố thuận lợi cũng đến khi Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa công bố kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ 13 (POR 13) về thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam vào Mỹ. Theo đó, 31 doanh nghiệp của Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế 0%. Trong danh sách có rất nhiều doanh nghiệp lớn như Minh Phú, CP Việt Nam, Camimex...
Bộ Công Thương nhận định, mức thuế 0% này không chỉ có tác động ngắn hạn mà còn mở ra khả năng bứt phá xuất khẩu sang thị trường Mỹ, kỳ vọng các đơn hàng sẽ nhiều hơn trong thời gian tới. Bởi Mỹ là một thị trường nhập khẩu tôm lớn của Việt Nam và cũng là thị trường khó tính với những quy tắc khắt khe. Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu tôm của Mỹ từ Việt Nam đang tăng dần do tồn kho giảm trong khi Mỹ cũng đang giảm nhập khẩu từ Ấn Độ, Thái Lan và giảm mạnh nhập khẩu từ Trung Quốc.
Nhiều yếu tố cản đà tăng trưởng
Tuy nhiên, cùng với những yếu tố tích cực kể trên, trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro gia tăng, cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang leo thang kết hợp với sự xung đột thương mại giữa Nhật Bản và Hàn Quốc cũng làm gia tăng những lo ngại về sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu, xuất khẩu hàng hóa trong ngắn hạn khó có thể tăng mạnh như năm 2017 và 2018.
Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc diễn biến khó lường với mức độ ngày càng gia tăng. Ngày 23/8/2019, căng thẳng thương mại giữa hai nước được đẩy lên nấc cao mới khi Trung Quốc tuyên bố sẽ áp mức thuế 5 hoặc 10% đối với 75 tỷ USD hàng hóa Mỹ (hiệu lực từ ngày 1/9 và 15/12/2019). Ngoài ra, đối với hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Mỹ là ô tô và phụ tùng ô tô, Trung Quốc sẽ áp thêm thuế lần lượt là 25% và 5%, từ 15/12/2019.
Ngay lập tức, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố đáp trả bằng cách sẽ nâng mức thuế lên 30% (thay vì mức đang áp dụng 25%) đối với 250 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc (hiệu lực từ ngày 1/10/2019) và sẽ áp mức thuế 15% đối với 300 tỷ USD hàng hóa còn lại từ Trung Quốc từ 1/9/2019 (thay cho mức 10% như kế hoạch trước đó; trong đó có một số mặt hàng sẽ bị áp thuế từ 15/12/2019). Đồng thời, Mỹ cũng tuyên bố có kế hoạch có thể rút các doanh nghiệp Mỹ ra khỏi Trung Quốc.
Ngoài ra, các tổ chức quốc tế (như IMF, WB...) đều cảnh báo căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc đang khiến tăng trưởng kinh tế thế giới, Trung Quốc và Mỹ bị chậm lại và có thể suy giảm mạnh. Trong khi đó, các nền kinh tế khác bị chịu nhiều ảnh hưởng vì cả hai đều là đối tác kinh tế quan trọng của nhiều nước.
Ngày 27/8, Ngân hàng trung ương Trung Quốc tiếp tục giảm giá đồng Nhân dân tệ (NDT) xuống mức thấp chưa từng có (7,0810 NDT đổi 1 USD). Sau khi tỷ giá tham chiếu được PBOC công bố, đồng NDT được giao dịch trên thị trường quốc tế ở mức thấp hơn nhiều so với phiên liền trước, xuống mức 7,1576 NDT đổi 1 USD, thấp nhất trong vòng 11 năm qua.
Hoạt động phá giá đồng NDT được chính quyền Bắc Kinh thực hiện sau khi tổng thống Mỹ Donald Trump dồn dập tuyên bố các mức thuế mới cao hơn sẽ áp lên hàng hóa Trung Quốc nhập vào Mỹ. Một đồng NDT yếu hơn sẽ phần nào giúp giảm bớt những thiệt hại do thuế quan Mỹ gây ra. Điều này sẽ ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng như khả năng gia tăng nhập siêu từ thị trường này trong thời gian tới. Trong trường hợp này, giá hàng hóa xuất từ Việt Nam sang Trung Quốc sẽ cao hơn, gây khó khăn cho việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.
Ngoài ra, xuất khẩu nông sản được dự báo sẽ còn đối mặt với nhiều thách thức, khiến khu vực nông, lâm thủy sản khó có thể đạt mức tăng trưởng cao như cùng kỳ do: Ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 dự báo giảm và các nước trên thế giới có xu hướng quay lại tập trung đầu tư cho phát triển nông nghiệp; Các mặt hàng nông sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu, khiến cho giá giảm sâu; trong khi đó, các nước nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Trong các diễn biến chung gần đây tiếp tục ghi nhận thêm căng thẳng thương mại giữa Nhật Bản và Hàn Quốc xung quanh việc Nhật Bản ra quyết định hạn chế xuất khẩu 3 loại nguyên liệu được sử dụng để chế tạo chất bán dẫn và các loại màn hình sang Hàn Quốc vào ngày 1/7/2019.
Đối với Việt Nam, quyết định hạn chế xuất khẩu các vật liệu công nghệ cao của Nhật Bản đối với Hàn Quốc không chỉ ảnh hưởng đến các công ty sản xuất chất bán dẫn, chip và màn hình tại Hàn Quốc mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến các cơ sở sản xuất, nhà máy thuộc các công ty này tại các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.
Bộ Công Thương đang tiếp tục bám sát theo dõi tình hình căng thẳng thương mại Nhật Bản - Hàn Quốc trong thời gian tới để có sự phối hợp trong điều hành, xử lý các vấn đề có tác động tới Việt Nam. Từ đó quyết tâm đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở mức 6 - 8% so với cùng kỳ như đã đề ra.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Tại Việt Nam, ngân hàng điện tử đang phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm được các tung ra thị trường, trong đó có sản phẩm tiết kiệm trực tuyến (online). Thay vì phải đến quầy giao dịch, khách hàng có thể thực hiện các thao tác từ mở sổ tiết kiệm, kiểm tra thông tin lãi suất, gửi tiền, tất toán,… trên các thiết bị điện tử có kết nối internet mọi lúc, mọi nơi.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Phổ biến, tiện lợi…
Dịch vụ tiết kiệm online đã được các ngân hàng triển khai từ năm 2009 nhằm phục vụ những cá nhân bận rộn. Với hình thức tiết kiệm trực tuyến này, người dùng chỉ cần thực hiện các thao tác đơn giản qua Internet banking, mobile banking của các ngân hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày để chuyển những khoản tiền nhàn rỗi, tích lũy từ tài khoản tiền gửi thanh toán sang tài khoản tiết kiệm. Khách hàng có thể tất toán sổ tiết kiệm bất cứ thời gian nào khi cần tiền mặt, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ.
Đồng thời khách hàng cũng có thể truy cập Internet banking, mobile banking để kiểm tra xem tài khoản tiết kiệm đã được ghi nhận vào hệ thống chưa, và kiểm tra số dư, tiền lãi bất cứ khi nào.
Gửi online sẽ giúp không chỉ khách hàng có nhiều tiện lợi mà còn giúp ngân hàng tiết giảm được thời gian, nhân sự trong ở phòng giao dịch. Vì vậy hầu hết các ngân hàng đều khuyến khích khách hàng gửi tiết kiệm online để mang lại lợi ích nhiều hơn cho cả hai bên.
…nhưng có an toàn?
Tuy nhiên, cũng còn khá nhiều người lo ngại về tính an toàn của hình thức gửi tiết kiệm này. Chẳng hạn như gửi tiết kiệm online thì không có sổ vật lý hay chứng từ làm "bằng chứng", làm sao biết được tiền gửi đang an toàn trong sổ tiết kiệm của mình...?
Về vấn đề này, lãnh đạo các ngân hàng cho biết, gửi tiết kiệm trực tuyến thậm chí còn an toàn hơn cả gửi tiền tại quầy. Bởi lẽ lệnh giao dịch được thực hiện bởi chính khách hàng và nhân viên ngân hàng không thể can thiệp được. Hơn nữa, khi thực hiện giao dịch gửi tiền online, hệ thống của ngân hàng đã xác thực người dùng nhiều lớp và gửi thông tin xác thực cho khách hàng qua tin nhắn điện thoại, qua email, token hoặc nhận diện bằng vân tay, khuôn mặt... Thông tin xác thực này không thể giả mạo được và không hề có sự can thiệp của con người, mà tự sinh từ hệ thống và được lưu vết trên hệ thống.
Các chuyên gia cũng cho rằng, người dùng dịch vụ tiền gửi oline không cần lo lắng về tính pháp lý. Bởi những thông tin xác thực cho khách hàng qua tin nhắn điện thoại, qua email... được xem là những chứng từ điện tử hợp lệ và có giá trị pháp lý đối với hình thức gửi tiền trực tuyến.
Để người dùng thực sự tin tưởng, các ngân hàng đều có những giải pháp trong vấn đề bảo mật và an toàn đối với dịch vụ gửi tiết kiệm online. Khi có bất kì một biến động nào liên quan đến tài khoản gửi tiết kiệm, ngay lập tức hệ thống của các ngân hàng sẽ gửi tin nhắn thông báo về số điện thoại khách hàng đăng kí.
Chẳng hạn như giao dịch gửi tiền online tại Vietcombank, VIB, VPBank, Techcombank hiện nay, khách hàng sẽ được chứng thực bằng biên lai xác nhận giao dịch gửi tiền có kỳ hạn gửi vào hòm thư điện tử của khách hàng. Trên tài khoản, ngân hàng cũng có danh mục riêng cho các giao dịch online để khách hàng theo dõi xem tiền đã vào hệ thống hay chưa. Khi tất toán sổ tiết kiệm khách hàng cũng phải nhập mã OTP bằng tin nhắn hoặc mã sinh ra từ Smart OTP – là phương thức bảo mật an toàn cao hơn so với tin nhắn do được sinh ra duy nhất cho từng giao dịch.
Hay mới đây, SCB là ngân hàng tiên phong trong việc cho phép khách hàng gửi tiết kiệm online qua email khách hàng và tra cứu thông tin bằng cách quét mã QR trên sổ online. Ngân hàng cũng điều chỉnh giao diện màn hình eBanking, giúp khách hàng chủ động lựa chọn tính năng nhận sổ tiết kiệm online qua email bất kỳ lúc nào.
Tuy nhiên, theo khuyến cáo của các ngân hàng, để tuyệt đối an toàn khi giao dịch trực tuyến thì khách hàng cần bảo quản điện thoại di động, email và các mật khẩu đăng nhập một cách chặt chẽ. Trường hợp thất lạc điện thoại hay bị rò rỉ thông tin..., cần thực hiện thay đổi hoặc báo ngân hàng khẩn cấp.
Mẹo gửi tiết kiệm để hưởng lãi cao nhất
Với những người thu nhập thấp, không sẵn khoản tiền lớn thì gửi góp trực tuyến là cách để tích cóp tiền khá phù hợp cho kế hoạch chi tiêu.
Đồng thời tiết kiệm online cũng đang là lựa chọn của nhiều bạn trẻ bởi rất phù hợp với những người không có sẵn khoản tiền tiết kiệm lớn nhưng lại có thu nhập ổn định hàng tháng. Đây là cách giúp người dùng dễ dàng tích cóp tiền hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm cho những kế hoạch chi tiêu như tiền học, tiền mua xe hay xây sửa nhà cửa...
Nắm bắt nhu cầu này, hiện nay, rất nhiều ngân hàng đã cung cấp khá đa dạng các hình thức gửi tiết kiệm trực tuyến với mức lãi suất hấp dẫn, cao hơn hẳn so với gửi tiết kiệm tại quầy, phổ biến từ 0,1 – 0,3%, thậm chí có nơi lên 0,4 – 0,5%. Theo lý giải của các ngân hàng, việc điều chỉnh lãi suất online cao hơn do ngân hàng không phải mất chi phí vận hành ở quầy giao dịch.
Và với sự chênh lệch này, nhiều ngân hàng đã niêm yết lãi suất tiền gửi online lên tới 8%-8,7%/năm. Chẳng hạn như Eximbank niêm yết mức lãi suất là 8,5%/năm cho kỳ hạn 24-36 tháng; Nam Á Bank niêm yết mức lãi suất 8%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 8,7% cho kỳ hạn 36 tháng; VIB có mức lãi suất dao động từ 7,5% đến 8%/năm cho kỳ hạn 18-36 tháng tùy theo số tiền gửi hay SCB có lãi suất bậc thang theo kỳ hạn và số tiền gửi với lãi suất là 8,76%/năm.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Theo mục tiêu kiểm toán được Tổng Kiểm toán Nhà nước giao, có 3 nội dung nổi bật mà đoàn kiểm toán cần thực hiện đối với cuộc kiểm toán Chuyên đề xác định giá trị DN CPH, bao gồm: quy hoạch xây dựng; phê duyệt phương án sử dụng đất khi CPH của các cơ quan ban ngành; việc thực hiện phương án sử dụng đất khi CPH.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tại buổi tập huấn “Đề cương kiểm toán việc quản lý, sử dụng đất trong quá trình cổ phần hóa (CPH) và sau CPH của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giai đoạn 2011-2017” vừa được Kiểm toán Nhà nước (KTNN) tổ chức, ông Khương Tiến Hùng - Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành VI - đã chia sẻ một số vướng mắc và hướng giải quyết khi thực hiện kiểm toán những nội dung liên quan đến lĩnh vực đất đai của DN CPH.
Doanh nghiệp cố giữ đất để chờ cơ hội chuyển đổi mục đích sử dụng
Quá trình kiểm toán thời gian qua cho thấy, trong vấn đề quy hoạch xây dựng, sai phạm về việc sử dụng đất không phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đang diễn ra rất phổ biến. Hiện nay, các DN của địa phương thường có vốn và quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, nhưng quỹ đất và giá trị đất lại rất lớn. Khi CPH, chỉ một số DN rất nghiêm túc trong việc rà soát phương án sử dụng đất, trả lại đất cho Nhà nước, còn lại phần lớn DN sẽ đưa ra phương án sử dụng không phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo quy định của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và Nghị định số 126/2017/NĐ-CP chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, nếu DN sử dụng đất không đúng, không phù hợp với phương án sắp xếp CPH thì phải trả lại Nhà nước để sử dụng cho mục đích khác. Điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước có thể thu hồi đất nếu DN chuyển đổi sai mục đích, bởi vậy, phương án sử dụng đất rất quan trọng.
Khi kiểm toán, đoàn kiểm toán căn cứ vào ba điểm tựa để kết luận, đó là: quy hoạch kế hoạch; phương án sử dụng đất theo các quy định về sắp xếp cổ phần hóa DNNN; yếu tố phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị. Theo đó, đoàn kiểm toán sẽ đánh giá: hiện trạng của DN có cần thiết sử dụng khu đất hay không; trong tương lai, việc mở rộng quy mô, kế hoạch, quy hoạch sản xuất kinh doanh trên diện tích đất này có phù hợp hay không. Thực tế, đoàn kiểm toán nhận thấy, nhiều DN vẫn giữ đất để chờ cơ hội chuyển đổi, kêu gọi đầu tư nhưng không phải để sản xuất kinh doanh. Nếu như đoàn kiểm toán chỉ căn cứ vào phê duyệt của cơ quan nhà nước trong giai đoạn trước mà bỏ qua bước đánh giá lại các phê duyệt này thì sẽ không đạt được mục tiêu của cuộc kiểm toán.
Mang quyền được thuê đất của Nhà nước đi góp vốn
Đối với mục tiêu kiểm toán liên quan đến các vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chúng tôi thấy rằng, đa số quỹ đất của DN CPH là đất thuê của Nhà nước trả tiền hằng năm, nên theo quy định sẽ không được tính vào giá trị DN.
DN thuê đất theo mục đích sử dụng, bởi thế sẽ không có gì đáng nói nếu như quỹ đất này không phải là “đất vàng”. Hiện nay, ngay cả khi không sử dụng, DN vẫn không trả lại đất cho Nhà nước mà tiếp quản và chờ cơ hội, trước đây sử dụng thế nào thì sau khi CPH cũng như vậy.
Tất nhiên, trong quá trình đó, DN sẽ chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bởi lợi thế về quyền sử dụng đất sẽ chỉ xuất hiện khi có sự chuyển đổi. Đối với riêng vấn đề này, đoàn kiểm toán đã phát hiện một số bất cập:
Thứ nhất, các DNNN thực hiện góp vốn thành lập công ty liên doanh, liên kết để triển khai các dự án bất động sản, đây là cách để DNNN lách luật đối với quy định không được đầu tư ngoài ngành.
Thứ hai, DN không có đủ khả năng tài chính cũng như kinh nghiệm để triển khai các dự án bất động sản, nên hầu hết đất đai sẽ là phần tài sản được mang ra để liên doanh, liên kết, thực hiện các dự án. Luật hiện hành quy định, DN không được dùng đất thuê để góp vốn liên doanh, liên kết, bởi vậy, các DN đã biến tướng bằng nhiều cách gọi khác nhau, như: góp vốn bằng lợi thế quyền thuê đất, lợi thế mặt bằng, hoặc gọi là thương quyền… Nhưng tựu trung lại, tất cả đều là quyền được thuê đất của Nhà nước mang đi góp vốn.
Thứ ba, hiện nay, không có luật nào quy định việc DN góp bao lâu thì được thoái vốn, do đó, các DN lợi dụng điều này để bán đất thông qua hình thức góp vốn sau đó thoái vốn ngay. Đoàn kiểm toán chưa phát hiện ra tình trạng này tại các DN của địa phương, nhưng đối với các DN của T.Ư, các tập đoàn, tổng công ty thì hầu hết đều đã tiến hành thoái vốn rất nhanh, trong khoảng từ 3 tháng đến 3 năm.
Xử lý thế nào với nguồn thu từ lợi thế quyền thuê đất?
Trong quá trình kiểm toán, đoàn kiểm toán cũng đã phát hiện một loại nguồn thu rất lớn do các nhà đầu tư trả cho DN mang đất đi liên doanh liên kết, với các tên gọi như: chi phí hỗ trợ, chi phí di dời, chi phí bồi thường… Tuy nhiên, về bản chất, đây chính là tiền thỏa thuận giữa các bên để có lợi thế quyền thuê đất. Mặc dù khoản tiền này rất lớn, lên đến 200 - 300 tỷ đồng, nhưng không có luật nào quy định về vấn đề này, thậm chí Luật Đất đai cũng chưa thừa nhận việc quản lý lợi thế quyền thuê đất của Nhà nước. Bởi vậy, sau khi kiểm toán, đoàn kiểm toán đã gặp một số vướng mắc khi đưa ra kiến nghị.
Trên thực tế, các DN đã phản ứng và tranh luận về kiến nghị của KTNN, vì hiện pháp luật không có quy định nào liên quan đến việc quản lý lợi thế quyền thuê đất của Nhà nước, mỗi DN hạch toán một kiểu khác nhau, khiến đoàn kiểm toán xử lý rất khó khăn. Cụ thể như: một số DN đưa nội dung này vào phần tăng vốn DNNN khi CPH, có DN lại đưa vào tăng tài khoản thu về NSNN, cũng có DN nhập vào khoản thu nhập bất thường của DN để nộp thuế xong thì chia quỹ…
Hiện nay, khi khoản tiền này xuất hiện, UBND TP. Hà Nội đã chỉ đạo Sở Tài chính thu về NSNN, nhưng thực tế, điều này chỉ thực hiện được đối với các DN địa phương, còn với các tập đoàn, tổng công ty thì khoản tiền đó đã không thể thu hồi. Đoàn kiểm toán xác định: đây chính là lợi thế quyền thuê đất và thuộc vào lợi ích của Nhà nước, do vậy, KTNN vẫn phải kiến nghị thu về NSNN.
Một vấn đề nữa liên quan đến việc thu hồi khoản tiền từ lợi thế quyền thuê đất, đó là: nếu khoản tiền xuất hiện trong giai đoạn DN đang CPH thì việc kiến nghị thu về NSNN rất đơn giản, nhưng nếu sau khi chuyển đổi thành công ty cổ phần DN mới nhận được số tiền này thì kiến nghị thu hồi của KTNN sẽ gây tranh cãi. Đối với tình huống này, có một số trường hợp xảy ra: Một là, nếu DN đã ký hợp đồng hợp tác liên doanh với nhà đầu tư và đã nhận tiền trong giai đoạn còn là DNNN thì KTNN sẽ phải kiến nghị thu hồi nộp NSNN số tiền này;
Hai là, DNNN đã ký hợp đồng hợp tác nhưng đến giai đoạn trở thành công ty cổ phần thì tiền mới về. Với trường hợp này, đoàn kiểm toán đánh giá: dù tiền về ở giai đoạn sau, nhưng nguồn gốc lại từ giai đoạn trước, tức là lợi ích của Nhà nước. Công ty cổ phần không tạo ra khoản tiền này;
Ba là, DN đã chuyển thành công ty cổ phần, hợp đồng liên doanh đã ký nhưng tiền chưa về, hợp đồng cũng chưa thực hiện, chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mới là “đặt gạch giữ chỗ”. Trường hợp này, đoàn kiểm toán chỉ kiến nghị UBND theo dõi.
Ngoài ra, còn một trường hợp nữa, đó là DN đã được UBND thành phố cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhưng mới chỉ dừng ở chủ trương, chưa chuyển đổi (có trường hợp chủ trương đã có từ 10 năm trước). KTNN đã kiến nghị xem xét lại các chủ trương này để xử lý dứt điểm, tránh tình trạng DN chỉ quây đất không thực hiện dự án mà Nhà nước cũng không thu hồi được.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Là chủ đề chính của Diễn đàn Tài chính Việt Nam 2019 do Bộ Tài chính (Viện Chiến lược và Chính sách tài chính) tổ chức ngày 19/9/2019 tại Quảng Ninh với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác kỹ thuật của Đức, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc tại Việt Nam. Đây là diễn đàn thường niên do Bộ Tài chính tổ chức từ năm 2017.
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế là xu hướng, mục tiêu và được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đây cũng là chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước xuyên suốt, được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020. Tháng 10/2011, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI đã đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh.
Tiếp đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương Đảng Khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, trong đó có chủ trương quan trọng là: “Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm”.
Cùng đó, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 09/11/2016 về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020 trong đó yêu cầu từng bước cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng tích cực tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng chi thường xuyên. Chính phủ thông qua Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/02/2017 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ, đồng thời quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức quán triệt và thực hiện các chủ trương, chính sách về cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.
Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, diễn đàn diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động. Nhiều chuyên gia trên thế giới nhận định còn nhiều khó khăn, thách thức, dự báo trong 5-10 năm tới kinh tế có dấu hiệu suy giảm. Trong bối cảnh đó, nền kinh tế trong nước cũng chịu những tác động. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu về đổi mới mô hình tăng trưởng, thay đổi cơ cấu nền kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền tài chính quốc gia, nhờ đó, nhờ đó GDP đạt mức tăng trưởng trung bình 6,35% cho giai đoạn 5 năm qua.
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt nam vẫn đối mặt với không ít thách thức, khó khăn, trong đó, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho rằng, lợi thế hiện nay của Việt Nam là dân số vàng và tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở nguồn vốn, tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên, theo dự báo, đến năm 2028- 2030 sẽ không còn mô hình này nữa, trong bối cảnh đó, việc cải cách chính sách tài chính nhằm tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam vô cùng quan trọng.
Trong bối cảnh đó, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn đề nghị tại diễn đàn này, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cùng đánh giá lại thực trạng hiện nay của chính sách tài chính của Việt Nam trong đóng góp cho tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế, từ đó chỉ ra được những thách thức tồn tại của chính sách đó, cụ thể cần tập trung những vấn đề sau:
Thứ nhất, đóng góp về chính sách động viên, nâng cao quản trị hiệu quả của tài chính công; giải pháp để chặn đứng tình trạng kém hiệu quả, lãng phí của quản lý sử dụng đầu tư công, tài chính công; đổi mới thể chế chính sách để thúc đẩy dịch vụ công quan trọng cho cộng đồng dân cư và nền kinh tế; chính sách liên quan đến phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền, giữa người dân và doanh nghiệp.
Thứ hai, cần có những giải pháp để thực hiện mục tiêu phát triển khu vực kinh tế tư nhân, với yêu cầu khu vực này không chỉ đóng góp 10% trong GDP mà phải từ 20-25%. Đồng thời, phấn đấu trong 10 năm tới, có 6-10 doanh nghiệp tư nhân trong Top 500 của thế giới. Có như vậy, mới đưa khu vực doanh nghiệp tư nhân trở thành trụ cột, đưa nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Thứ ba, cần có đánh giá để sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính công, đẩy mạnh đổi mới sắp xếp lại DNNN, vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê, việc sắp xếp lại, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa thực chất, số lượng doanh nghiệp sắp xếp lại giảm rất lớn lên đến 90%, nhưng số lượng quy mô vốn thoái mới được 10%.
Thứ tư, mục tiêu phát triển thị trường vốn, phải giải quyết các vấn đề bất cập, như: Thị trường chứng khoán dường như phát triển khá nhưng trái phiếu doanh nghiệp dường như quá nhỏ bé, trên 9% so với GDP, nhỏ so với dư nợ tín dụng 132%...; Huy động nguồn lực của kinh tế tư nhân trong hợp tác công tư, đầu tư phát triển hạ tầng đạt nhiều kết quả nhưng vẫn còn nhiều tồn tại...
Thứ năm, chúng ta đang sống trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, vậy giải pháp về tài chính- ngân sách phải làm gì để thúc đẩy phát triển lĩnh vực này, những đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực, sử dụng ngân sách đầu tư cho giáo dục; sử dụng nguồn lực của xã hội để thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo...
Thứ sáu, còn nhiều quan điểm đưa ra về tăng trưởng, vậy giải pháp về tài chính - ngân sách phải sửa đổi những nội dung gì để thúc đẩy tăng trưởng, chẳng hạn, cần có quy hoạch như thế nào phù hợp với chiến lược phát triển để đưa đô thị thực sự trở thành động lực trong 10 năm tới.
Thứ bảy, cơ chế chính sách tài chính – ngân sách phải thay đổi gì để góp phần thúc đẩy nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế Việt Nam trên cơ sở thay đổi cơ cấu lại nền kinh tế.
"Thành công của Diễn đàn Tài chính Việt Nam năm 2019 sẽ là động lực quan trọng để tiếp tục mở rộng không gian khoa học của ngành Tài chính, tạo tiền đề cho những sáng kiến mới về các vấn đề về kinh tế - tài chính lớn của quốc gia". Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh.
Tại sự kiện này, ông Sebastian Paust - Tham tán thứ nhất, Trưởng Bộ phận Hợp tác phát triển, Đại sứ quán Cộng hòa Liên bang Đức tại Việt Nam đánh giá cao những vấn đề mà Bộ Tài chính Việt Nam đang hướng tới, qua đó cũng cho thấy tầm quan trọng của chính sách tài chính đối với phát triển kinh tế nói chung và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế nói riêng.
Đối với Việt Nam, ông Sebastian Paust cho rằng, ngân sách nhà nước cần phải đảm bảo được nguyên tắc cân bằng và "tránh câu chuyện làm tăng các khoản vay". Việt Nam có thể giải quyết vấn đề này thông qua việc đưa ra các chính sách tài chính để cân bằng. Tuy nhiên, các chính sách này cần phải giảm bớt các khoản nợ nhưng không làm ảnh hưởng, hoặc làm giảm các khoản đầu tư của Chính phủ đối với các vùng, các dự án cần đầu tư cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, nợ công cũng cần được xem xét ở mức nào cho phù hợp, đưa ra chính sách phù hợp, theo hướng gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững trong tương lai...
|
Diễn đàn Tài chính Việt Nam 2019 quy tụ khoảng 300 đại biểu là đại diện lãnh đạo cơ quan trung ương; các bộ, ngành; các tổ chức quốc tế (Cơ quan hợp tác kỹ thuật của Đức, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á, Cơ quan Phụ nữ Liên Hợp quốc, Quỹ Nhi đồng trẻ em tại Việt Nam…); các cơ quan nghiên cứu, viện khoa học và trường đại học; các chuyên gia, nhà khoa học; khối doanh nghiệp... Tại diễn đàn này, các đại biểu cùng thảo luận, chia sẻ các nghiên cứu, các quan điểm để hình thành một hệ thống các luận cứ khoa học cho việc đề xuất, kiến nghị các giải pháp cải cách chính sách tài chính mang tính đột phá nhằm tìm kiếm động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam trong các chính sách tài chính, hướng đến phát triển nhanh, toàn diện và bền vững. Diễn đàn diễn ra hai phiên thảo luận, gồm: Phiên 1 - Cải cách chính sách tài chính đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam do GS.,TS. Nguyễn Công Nghiệp - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính điều hành và Phiên 2 - Cải cách chính sách tài chính thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam do GS., TS. Sử Đình Thành – Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh điều hành. |
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Page 16 of 17