Trong tháng 8, chỉ có một phiên đấu giá trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), nhưng đã thu về 219 tỷ đồng cho Nhà nước.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

HNX cho biết, trong tháng 8/2019, chỉ diễn ra 1 phiên đấu giá duy nhất, đó là phiên đấu giá thoái vốn của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tại Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực (EVNFINANCE).
Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường vẫn còn nhiều khó khăn, kết quả vẫn tương đối khả quan. Theo đó, số lượng cổ phần trúng giá đạt 16 triệu cổ phần, tương ứng với tỷ lệ thành công đạt gần 87% với giá đấu thành công bình quân đạt 13.480 đồng/cổ phần, thu về cho Nhà nước 219 tỷ đồng.
Tính từ đầu năm 2019 đến nay, HNX đã tổ chức 23 phiên đấu giá, trong đó có 19 phiên đấu giá thoái vốn, 2 phiên IPO và 2 phiên đấu giá phát hành ra công chúng.
Tổng khối lượng cổ phần đưa ra đấu giá đạt hơn 189 triệu cổ phần, khối lượng cổ phần trúng giá đạt hơn 147 triệu cổ phần, tương đương với tỷ lệ thành công đạt 78%. Tổng giá trị cổ phần bán được sau 23 phiên đấu giá đạt hơn 3,4 nghìn tỷ đồng.
Bảng 1: Thống kê các công ty đấu giá tại HNX tháng 8/2019
|
STT |
Tên công ty |
Số cổ phần chào bán (cổ phần) |
Số cổ phần bán được (cổ phần) |
Tổng giá trị cổ phần bán được (đồng) |
|
1 |
Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực |
18.750.000 |
16.250.000 |
219.050.000.000 |
Bảng 2: Danh sách các phiên đấu giá tháng 9/2019
|
STT |
Doanh nghiệp bán đấu giá |
Số lượng chào bán (cổ phần/phần vốn góp) |
Ngày hết hạn đăng ký |
Ngày đấu giá |
|
1 |
Công ty Cổ phần Vắc Xin và Sinh phẩm Nha Trang |
1.246.320 |
30/8/2019 |
6/9/2019 |
|
2 |
Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bắc Kạn |
1.015.644 |
30/8/2019 |
6/9/2019 |
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Báo cáo nhanh về tình hình đầu tư nước ngoài (FDI) 8 tháng năm 2019 vừa được Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố cho thấy, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 22,63 tỷ USD, bằng 92,9% so với cùng kỳ năm 2018.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Cụ thể, tính từ đầu năm đến nay đã có 2.406 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tăng 25,4% số dự án so với cùng kỳ năm 2018.
Tổng vốn đăng ký cấp mới 9,13 tỷ USD, bằng 67,7% so với cùng kỳ năm 2018; 908 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2018; Tổng vốn đăng ký điều chỉnh gần 4 tỷ USD, bằng 71,4% so với cùng kỳ năm 2018.
Bên cạnh đó, trong 8 tháng của năm 2019, quy mô điều chỉnh mở rộng vốn của các dự án nhỏ, không có dự án tăng vốn lớn như trong cùng kỳ năm 2018.
Đối với góp vốn, mua cổ phần, có 5.235 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp 9,51 tỷ USD, tăng 80% so với cùng kỳ 2018 và chiếm 42% tổng vốn đăng ký.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Các biện pháp thuế quan mới của Trung Quốc nhằm vào hàng hóa Mỹ được đưa ra trong bối cảnh áp lực kinh tế suy giảm ngày một tăng, các chỉ số về công nghiệp, tiêu dùng xuất hiện dấu hiệu đáng lo ngại.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ngày 23/8, Bộ Tài chính Trung Quốc bất ngờ tuyên bố nâng cấp biện pháp thuế quan đối với 75 tỷ USD hàng hóa Mỹ. Ba hôm sau, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc lại bất ngờ phản đối leo thang chiến tranh thương mại và theo Tổng thống Mỹ Donald Trump, Bắc Kinh còn sẵn sàng trở lại bàn đàm phán thương mại với Washington.
Theo tờ Economic Journal, việc Trung Quốc cứng rắn áp thuế trả đũa Mỹ với mức cao, nhất là với nông sản Mỹ (đậu tương: 30%; ngũ cốc 35%; hoa quả, thịt các loại: 35%...) cho thấy nước này dường như có ý chủ động ra đòn, đặt cược vào sự thay đổi Chính phủ ở Mỹ.
Bởi các biện pháp thuế quan mới của Trung Quốc được đưa ra vào thời khắc nhạy cảm của hoạt động tranh cử Tổng thống Mỹ, hơn thế còn nhằm thẳng vào các điểm yếu chí tử của ông Trump trong lĩnh vực nông nghiệp, tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế.
Theo báo trên, phía Trung Quốc trước đây luôn chủ trương bình tĩnh đối phó với Mỹ trong cuộc chiến thương mại. Cho nên, việc Bắc Kinh mạnh tay cứng rắn với Mỹ bất chấp khó khăn kinh tế là một bất ngờ. Tuy nhiên, vài ngày sau, một bất ngờ khác đã xảy ra.
Khi tham dự một triển lãm quốc tế tại Trùng Khánh, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc đã kêu gọi Mỹ giải quyết chiến tranh thương mại thông qua tham vấn và hợp tác bằng một "thái độ bình tĩnh". Ông Lưu Hạc đồng thời bày tỏ Bắc Kinh kiên quyết phản đối leo thang cuộc chiến này vì nó không có lợi cho cả Trung Quốc và Mỹ lẫn nhân dân thế giới.
So với những ngôn từ truyền thông chính thức của Trung Quốc, như “chiến đấu tới cùng”, lời kêu gọi của ông Lưu Hạc rõ ràng là đã hạ thấp giọng điệu và cũng không đề cập tới việc trả đũa các biện pháp thuế quan mới mà ông Trump đưa ra sau khi Trung Quốc áp thuế mới với 75 tỷ USD hàng hóa Mỹ.
Đáng chú ý là vài giờ sau khi ông Lưu Hạc công khai lên tiếng kêu gọi các bên "bình tĩnh", ông Trump đã tiết lộ với các nhà lãnh đạo thuộc nhóm G7 đang nhóm họp ở Biarritz (Pháp) rằng phía Bắc Kinh đã liên lạc với đội ngũ phụ trách thương mại của Mỹ và mời phía Mỹ trở lại bàn đàm phán.
Những động thái trên dường như cho thấy giới lãnh đạo Trung Quốc đã quay trở lại với lập trường thái độ bình tĩnh, nhưng cũng có thể đó là phản ứng đối với hiện thực kinh tế và chính trị mà Bắc Kinh đang phải đối mặt. Trên thực tế, sau khi Trung Quốc nâng cấp biện pháp thuế quan đối với hàng hóa Mỹ, đã xảy ra một số vấn đề đáng chú ý.
Thứ nhất, phía Mỹ ra đòn trả đũa nhanh, mạnh vượt dự kiến đối với hàng hóa Trung Quốc. Trung Quốc mất hơn 3 tuần để đưa ra đòn trả đũa đối với việc ông Trump quyết định áp thuế bổ sung đối với 300 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc từ ngày 1/9/2019 (sau đó phân làm 2 đợt, lần lượt có hiệu lực từ ngày 1/9 và 15/12/2019).
Tuy nhiên, ông Trump chỉ mất khoảng 10 tiếng đồng hồ để đưa ra đòn trả đũa với quyết định áp thuế nhằm vào 75 tỷ USD hàng hóa Mỹ của Trung Quốc. Hơn nữa, mức thuế mới đều được nâng lên, bao phủ gần như toàn bộ hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ hằng năm. Thậm chí, ông Trump còn để ngỏ khả năng vận dụng Đạo luật Quyền hạn Kinh tế quốc tế khẩn cấp (IEPPA) năm 1997 để ra lệnh cho doanh nghiệp Mỹ tìm nơi thay thế Trung Quốc.
Thứ hai, trong Hội nghị Thượng đỉnh G7 ở Pháp, không có một quốc gia nào đứng về phía Trung Quốc hay nghi ngờ hành động leo thang thuế quan của Mỹ để kiềm chế Trung Quốc. Bắc Kinh rõ ràng đã bị cô lập.
Thứ ba, sau khi Mỹ-Trung leo thang biện pháp thuế quan nhằm vào nhau, thị trường vốn của hai nước đều bị chấn động mạnh. Trong đó, tỷ giá đồng Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc ngày 26/8 tái diễn cảnh rơi thẳng đứng, có lúc áp sát mức 7,2 NDT đổi 1 USD, là mức thấp nhất trong hơn 11 năm.
Theo nhà phân tích Lý Nhược Phàm thuộc Ngân hàng OCBC Wing Hang ở Hong Kong (Trung Quốc), nếu tình hình tiếp tục xấu đi, không loại trừ khả năng trong ngắn hạn, tỷ giá đồng NDT sẽ thử thách ngưỡng 7,3 NDT đổi 1 USD.
Một khi kỳ vọng về sự phá giá đồng NDT được hình thành, làn sóng rút vốn khỏi Trung Quốc trong quá khứ sẽ tái hiện, không chỉ bào mòn dự trữ ngoại tệ, mà còn đặt hệ thống tài chính của nước này trước thách thức lớn.
Vì thế, một số nhà phân tích cho rằng leo thang thuế quan khiến cả Trung Quốc và Mỹ chịu thiệt hại, nhưng không loại trừ khả năng thiệt hại mà Bắc Kinh phải gánh chịu sẽ lớn hơn Washington. Đây có thể là logic quan trọng trong sự thay đổi thái độ nhanh chóng của Trung Quốc.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2019 tăng 0,28% so với tháng trước, tăng 1,87% so với tháng 12/2018 và tăng 2,26% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, bình quân 8 tháng năm 2019, CPI tăng 2,57% so với cùng kỳ năm ngoái và là mức tăng bình quân 8 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng trong tháng 8, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 2,81% (dịch vụ y tế tăng 3,64%).
Nhóm giáo dục tăng 0,57% do một số địa phương thực hiện tăng học phí năm học mới 2019-2020.
Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,33%, chủ yếu do nhóm nhà ở thuê tăng 0,43%; chỉ số giá điện tăng 0,33%; chỉ số giá nước tăng 0,28%.
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,24%, trong đó nhóm lương thực tăng 0,31%; thực phẩm tăng 0,29%.
Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%.
Ba nhóm có chỉ số giá giảm là giao thông giảm 0,46%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,06%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%.
Theo lý giải của Tổng cục Thống kê, nguyên nhân khiến CPI tháng 8/2019 tăng là do giá dịch vụ y tế, giá dịch vụ giáo dục được điều chỉnh tăng theo lộ trình nhằm tiệm cận với giá thị trường. Theo đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 3,64% góp phần tăng CPI chung 0,14%.
Bên cạnh đó, CPI tháng 8 tăng còn do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Cụ thể, nguồn cung thịt lợn giảm (tính đến ngày 20/8/2019 tổng số lợn bị tiêu hủy khoảng 4,4 triệu con), làm cho giá thịt lợn tháng 8-2019 tăng 0,89% so với tháng trước, tác động đến CPI chung tăng 0,04%.
Thời tiết nắng nóng kéo dài tại một số địa phương nên nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt tăng làm cho chỉ số giá điện tăng 0,33%, chỉ số giá nước tăng 0,28% so với tháng trước.
Về lạm phát cơ bản tháng 8/2019 tăng 0,13% so với tháng trước và tăng 1,95% so với cùng kỳ năm trước.
Lạm phát cơ bản bình quân 8 tháng năm 2019 tăng 1,9% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh (TPHCM) vừa yêu cầu các doanh nghiệp, môi giới bất động sản, sàn giao dịch bất động sản thực hiện quy định nội bộ về phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố theo quy định pháp luật.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thực hiện phòng chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, Sở Xây dựng Tp. Hồ Chí Minh vừa yêu cầu các doanh nghiệp, môi giới bất động sản, sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn thành phố ban hành và thực hiện quy định nội bộ về phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố theo quy định pháp luật.
Thực hiện các quy định về nhận biết khách hàng, cập nhật thông tin khách hàng, rà soát các giao dịch, áp dụng biện pháp tăng cường đối với khách hàng có rủi ro cao.
Lập và gửi báo cáo các giao dịch đáng ngờ, báo cáo các giao dịch sửa tiền mặt có giá trị lớn từ 300 triệu đồng trở lên về Cục Quản lý nhà và Thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng và Cục Phòng chống rửa tiền- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Sở Xây dựng Tp. Hồ Chí Minh cũng đề nghị các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đánh giá rủi ro tiền, tài trợ khủng bố tại chính tổ chức mình về các giao dịch bất động sản, kết quả gửi về Cục Quản lý nhà và Thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng và Cục Phòng chống rửa tiền- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước ngày 15/9/2019 để thống kê, theo dõi phục vụ công tác thanh tra, giám sát.
Đối với Thanh tra Sở Xây dựng, lãnh đạo Sở Xây dựng Tp. Hồ Chí Minh yêu cầu tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản và có báo cáo tổng hợp gửi về Cục Quản lý nhà và Thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng.
Trước đó vào ngày 8/7/2019, Bộ Xây dựng đã có công văn 1590/BXD-QLN gửi Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.
Bộ Xây dựng đề nghị các Sở Xây dựng yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản, môi giới bất động sản, sàn giao dịch bất động sản đang hoạt động tại địa phương thực hiện công tác phòng chống rửa tiền theo quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền 2012, Nghị định 116/2013/NĐ-CP ngày 04/10/2013 của Chính phủ, Thông tư 35/2013/TT-NHNN ngày 11/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo báo cáo của UBND Tp. Hồ Chí Minh, 8 tháng năm 2019, thành phố có 28.465 doanh nghiệp được cấp phép thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 456.007 tỷ đồng trong đó số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm 7,3%. Tuy nhiên xét về vốn đăng ký, hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất (39,6%), tiếp theo là xây dựng chiếm 17,3%; bán buôn và bán lẻ.
Về phát triển doanh nghiệp nước ngoài (FDI), 8 tháng năm 2019 thành phố cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 816 dự án với tổng vốn đầu tư đạt 754,07 triệu USD. Hoạt động kinh doanh bất động sản có vốn đầu tư nhiều nhất (chiếm 33,2%), tiếp theo là hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (30,1%), bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy (18,7%)...
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Mặc dù có vai trò quan trọng ở hầu hết các quốc gia trong việc tạo việc làm, cải thiện thu nhập, xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên song hành cùng với đó, nền kinh tế phi chính thức cũng còn nhiều vấn đề tồn tại khi quản lý và kiểm soát thiếu chặt chẽ, dẫn đến làm thất thu nguồn ngân sách nhà nước, cạnh tranh không công bằng với khu vực kinh tế chính thức... Do đó, việc đánh giá cơ sở tồn tại cũng như những tác động của nền kinh tế phi chính thức là hết sức cần thiết, từ đó có những hàm ý về chính sách giúp Việt Nam quản lý hiệu quả khu vực kinh tế này.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Kinh tế phi chính thức và những tác động
Yếu tố tiêu cực
Thất thoát thuế tiềm năng: Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới 2011 về các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ và thất thoát nguồn thu chỉ ra rằng, bên cạnh các yếu tố mang tính chủ quan (chính sách thuế, năng lực của cơ quan thuế, chi phí tuân thủ), các yếu tố khách quan (như tham những hay quy mô nền kinh tế phi chính thức) cũng có tác động đáng kể đến nguồn thu thuế của một quốc gia.
Tham nhũng và nền kinh tế phi chính thức là 2 yếu tố có tác động nhất định trong việc giảm cơ sở chịu thuế, làm thất thoát nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN). Về vấn đề này, các chuyên gia nhận định, nền kinh tế phi chính thức có liên quan đến việc trốn và tránh thuế, bởi mọi hoạt động kinh tế khu vực này thường không được thống kê và khai báo đầy đủ. Do đó, tỷ lệ thất thoát thuế từ khu vực kinh tế phi chính thức là tương đối cao. Nghiên cứu của Schneider (2002) về sự phát triển của khu vực kinh tế phi chính thức cũng kết luận rằng, sự tăng lên về quy mô ở nền kinh tế phi chính thức sẽ dẫn đến sự sụt giảm chỉ tiêu của Chính phủ, kéo theo đó là giảm sút về chất lượng và số lượng của các tiện ích và dịch vụ công cộng. Nguy hại hơn, nó có thể dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách quốc gia, làm xói mòn niềm tin của khu vực kinh tế chính thức.
Sự suy giảm về số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ công cộng: Nền kinh tế phi chính thức không những làm giảm nguồn thu NSNN mà còn làm cho chất lượng cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng bị giảm sút. Để bù đắp cho sự thất thoát này, Chính phủ sẽ điều chỉnh cơ chế, chính sách để tăng thuế suất ở khu vực nền kinh tế chính thức. Thực tiễn cho thấy, thuế suất cao sẽ đi kèm với sự suy giảm chất lượng hàng hóa và dịch vụ công cộng, điều này sẽ khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế phi chính thức. Cứ như thế nó tạo thành một vòng xoáy đi xuống - một “vòng luẩn quẩn”, tác động tiêu cực lên tổng thể nền kinh tế (Loayza 1997, Schneider & Enste 2002, Johnson & Kaufman1998).
Giảm tính hiệu quả trong các quyết định chính sách và phân bổ nguồn lực: Các hoạt động trong nền kinh tế phi chính thức thường khó theo dõi và không được thống kê, quản lý một cách đầy đủ bởi các cơ quan nhà nước. Tiếng nói của người lao động và doanh nghiệp trong khu vực phi chính thức ít được nhắc đến trong quá trình hoạch định chính sách. Điều này khiến cho các quyết định chính sách phần nào kém hiệu quả. Chẳng hạn như các chính sách về thuế, thất nghiệp, an sinh - xã hội... sẽ không đạt được kết quả như mong muốn hoặc có thể dẫn đến những tổn thất phúc lợi xã hội, nhất là đối với những quốc gia có nền kinh tế phi chính thức lớn (Mara 2011).
Tương tự, chính sách tiền tệ cũng kém hiệu lực và hiệu quả do một phần của nền kinh tế đã bị đặt ra ngoài lề của những thước đo. Nghiên cứu của Eilat & Zinnes (2002) cho rằng, chính sách tiền tệ bị yếu đi bởi các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực phi chính thức thường không giao dịch với hệ thống ngân hàng cũng như thị trường vốn chính thức. Hơn nữa, các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực phi chính thức chủ yếu là các hộ gia đình, kinh doanh cá thể với quy mô nhỏ lẻ nên các hoạt động thường mang tính ngắn hạn, không có sự đầu tư lớn. Điều này dẫn tới tình trạng vừa không tận dụng được lợi thế kinh tế, làm giảm sức cạnh tranh, vừa gây lãng phí trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực (Kaliberda & Kaufmamn 1996, Feltenstein 2002).
Suy giảm tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn: Các nghiên cứu cho thấy, lao động trong khu vực phi chính thức thường có thu nhập thấp và thiếu ổn định, giờ làm việc dài và ít tiếp cận với các cơ hội phát triển kỹ năng nghề nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực phi chính thức cũng gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận đất đai, vốn và các nguồn lực cốt yếu khác. Do vậy, quy mô của các doanh nghiệp thường nhỏ và siêu nhỏ, thường sử dụng lao động phổ thông, kỹ năng thấp. Cơ hội và động cơ để cải thiện năng suất, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất hay gia tăng quy mô là rất thấp. Rõ ràng, sự gia tăng của nền kinh tế phi chính thức sẽ có những tác động nhất định và kìm hãm sự phát triển kinh tế của một quốc gia trong dài hạn, làm suy giảm năng suất và khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.
Các yếu tố tích cực
Giải quyết việc làm và cải thiện thu nhập cho người lao động: Đối với những quốc gia đang phát triển thì nền kinh tế phi chính thức là nơi tạo cơ hội việc làm và gia tăng thu nhập. Quá trình đô thị hóa, cùng với sự gia tăng dân số nhanh chóng ở một số quốc gia đã khiến cho nền kinh tế chính thức không có khả năng hấp thụ hết lực lượng lao động, hoặc không tạo ra kịp thời các cơ hội việc làm mới. Lúc này, khu vực phi chính thức đóng vai trò như một kênh quan trọng để chuyên đổi việc làm từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp, góp phần giải quyết lao động dôi dư trong kinh tế nông thôn.
Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu cơ bản của cuộc sống, người lao động phải tìm kiếm công việc để có thu nhập và sự lựa chọn đầu tiên là tham gia vào nền kinh tế phi chính thức. Nguyên nhân là bởi các hoạt động kinh tế phi chính thức thường không đòi hỏi cao về trình độ và kỹ năng người lao động. Ngoài ra, các hoạt động trong nền kinh tế phi chính thức thường nằm ngoài sự chi phối, kiểm soát của hệ thống luật pháp và các cơ quan quản lý nên các chi phí để gia nhập thị trường này cũng thường rất thấp so với khu vực chính thức. Do vậy, đối với những lao động có trình độ thấp, thu nhập thấp và muốn tìm kiếm việc làm nhanh chóng thì nền kinh tế phi chính thức sẽ giúp họ đạt được điều này.

Góp phần vào tăng trưởng kinh tế chính thức trong ngắn hạn: Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng như lý thuyết đã không đưa ra được kết luận thuyết phục và nhất quán về tác động của nền kinh tế phi chính thức lên tăng trưởng của nền kinh tế chính thức. Mặc dù xét về dài hạn, nền kinh tế phi chính thức có những tác động tiêu cực lên tổng thể nền kinh tế, nhưng trong ngắn hạn, nhiều nghiên cứu chỉ ra những đóng góp tích cực của khu vực này. Schneider & Enste (2000) nhận thấy rằng, hơn 66% thu nhập từ nền kinh tế phi chính thức được chi tiêu ở nền kinh tế chính thức, do vậy nó có tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế. Một nghiên cứu khác của Mara (2001) được thực hiện ở Đức và Áo kết luận rằng, 2/3 giá trị sản xuất gia tăng được tạo ra trong nền kinh tế phi chính thức đóng góp vào nền kinh tế chính thức. Nếu không có khu vực kinh tế phi chính thức, nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, phân phối trong nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Các hộ gia đình, hay các đơn vị kinh doanh nhỏ lẻ sẽ mất đi một nguồn cung ứng thực phẩm, hàng hóa với giá thành rẻ và tiện lợi từ các gánh hàng rong và các chợ cóc trên vỉa hè. Xét ở khía cạnh này, rõ ràng nền kinh tế phi chính thức mang lại những tác động tích cực đến nền kinh tế chính thức.
Phương pháp phân loại, đo lường nguồn lực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam
Phương pháp luận
Nền kinh tế phi chính thức tồn tại những hoạt động kinh tế không được khai báo hoặc thậm chí không thể quan sát được, do vậy nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận rằng, việc ước tính quy mô nền kinh tế phi chính thức chỉ là gián tiếp và rất khó chính xác về mặt kỹ thuật. Nhìn chung, hiện có 3 cách tiếp cận phổ biến được cộng đồng nghiên cứu sử dụng để ước tính nguồn lực nền kinh tế phi chính thức: (i) Cách tiếp cận vi mô (gồm điều tra khảo sát; kiểm toán thuế); (ii) Cách tiếp cận gián tiếp (gồm phương pháp giao dịch, phương pháp cầu tiền, phương pháp tiêu thụ điện năng...); (iii) Cách tiếp cận theo mô hình (mô hình MIMIC). Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận theo mô hình MIMIC.
Frey & Weck-Hanneman (1984) là những nhà nghiên cứu đã có vai trò quan trọng trong việc phát triển phương pháp MIMIC để ước tính quy mô nền kinh tế phi chính thức ở 17 nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. Phương pháp này sau đó được các tác giả khác sử dụng như Giles & Tedds (2002) nghiên cứu về kinh tế phi chính thức của Canada; Bajada & Schneider (2005) nghiên cứu cho Australia và Dell'Anno (2003) cho trường hợp của Italia. Sau này, mô hình MIMIC trở thành một trong những cách tiếp cận hoàn chỉnh nhất và phổ biến nhất hiện nay trong các nghiên cứu về nền kinh tế phi chính thức.
Cấu trúc của mô hình MIMIC gồm 2 phần. Phần đầu là nền kinh tế phi chính thức sẽ được liên kết với các chỉ báo quan sát được (các chỉ báo này phản ánh sự thay đổi trong quy mô của nền kinh tế phi chính thức) thông qua mô hình đo lường. Phần thứ hai là mô hình phương trình cấu trúc giải thích mối quan hệ giữa nền kinh tế phi chính thức với các biến nguyên nhân gây tác động lên nó.
Phương pháp MIMIC chỉ đưa ra một ước tính tương đối về kích cỡ của nền kinh tế phi chính thức thông qua chỉ số. Do vậy, để có thể ước tính quy mô cũng như xu hướng của khu vực trên, cần một bước chuyển đổi từ chỉ số MIMIC sang con số thực tế. Dựa trên các nghiên cứu trước đây, cần có cách thiết lập một điểm chuẩn được sử dụng phổ biến để tiến hành quá trình này. Theo đó, điểm chuẩn được xác định dựa trên việc lựa chọn giá trị của một năm làm cơ sở cho việc quy đổi thông qua công thức sau:

Trong đó: ηt là quy mô nền kinh tế phi chính thức được chuẩn hóa; ï¡; là chỉ số MIMIC tại thời điểm t được ước tính theo phương trình hồi quy, ñ„ là chỉ số MIMIC tại năm cơ sở được ước tính theo phương trình hồi quy và n; quy mô nền kinh tế phi chính thức ở năm cơ sở.
Kết quả nghiên cứu
Kết quả ước lượng mô hình MIMIC được trình bày ở Bảng 1.
Kết quả kiểm định cho thấy, mô hình phù hợp và thỏa mãn các điều kiện về tính bền vững của mô hình cấu trúc. Các hệ số ước lượng đều có ý nghĩa thống kê ở mức cao. Từ kết quả này cho thấy một ước lượng tương đối về quy mô của nền kinh tế phi chính thức. Cụ thể, quy mô nền kinh tế phi chính thức ở Việt Nam thay đổi theo từng giai đoạn, thấp nhất khoảng 15% GDP (năm 2006) đến cao nhất gần 27% GDP (năm 2015). Đặc biệt, quy mô nền kinh tế phi chính thức ở Việt Nam có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 1995-2006, nhưng từ 2007-2015 lại có xu hướng tăng lên. Điều cần lưu ý là năm 2007 nền kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào bất ổn và suy giảm tăng trưởng.
Kết luận và hàm ý chính sách
Kết luận
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình MIMIC để ước tính quy mô nền kinh tế phi chính thức của Việt Nam và một số quốc gia châu Á. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô nền kinh tế phi chính thức của Việt Nam vào năm 2015 đạt khoảng 27% GDP chính thức. Thực tế, quy mô nền kinh tế phi chính thức của Việt Nam đang có xu hướng tăng mạnh kể từ năm 2007 - 2008, đây cũng là giai đoạn Việt Nam bước vào thời kỳ bất ổn kinh tế vĩ mô, với tốc độ tăng trưởng bình quân nhanh hơn so với các nước. Với quy mô nền kinh tế phi chính thức như đã nêu trên, ước tính số thuế tiềm năng bị thất thu mỗi năm vào khoảng 4,2% GDP trong giai đoạn 1995-2015. Năm 2015, ước tính số thất thu là khoảng hơn 5% GDP, tương đương khoảng 9,8 tỷ USD.
Nhìn ở khía cạnh mối quan hệ giữa các chỉ số nguyên nhân tác động đến quy mô của nền kinh tế phi chính thức cho thấy, gánh nặng thuế, hệ thống luật pháp, thể chế và năng lực quản trị nhà nước của chính phủ có tác động rất lớn đến sự gia tăng của nền kinh tế phi chính thức. Mối quan hệ giữa các biến số này với quy mô nền kinh tế phi chính thức là nghịch biến. Thuế suất trung bình cao, đi kèm với hệ thống các quy định, pháp luật cồng kênh và phức tạp, tình trạng tham nhũng, thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình kém là những nguyên nhân chính khuyến khích các chủ thể trong nền kinh tế tham gia vào khu vực phi chính thức.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người với quy mô nền kinh tế phi chính thức là nghịch biến, tức là khi nền kinh tế chính thức bị suy giảm sẽ góp phần làm gia tăng quy mô nền kinh tế phi chính thức, bởi khi đó các cá nhân có thể dễ dàng tìm kiếm việc làm và thu nhập hơn so với nền kinh tế chính thức.
Hàm ý chính sách
Từ các ước tính về quy mô nền kinh phi chính thức cùng số thu thuế thất thoát tiềm năng, có thể thấy rằng, khả năng cải thiện nguồn thu thuế từ khu vực phi chính thức là rất lớn. Nếu kiểm soát và thu hẹp được phạm vi của nền kinh tế phi chính thức hay nói cách khác là khuyến khích các chủ thể tham gia ngày càng nhiều hơn vào khu vực chính thức, thì mỗi năm có thể đạt được số thu ngân sách cần có mà không nhất thiết phải tìm cách tăng thu ở khu vực chính thức.
Hơn nữa, việc thúc đẩy “chính thức hóa” nền kinh tế phi chính thức không chỉ giúp tăng cường tính hiệu quả của hệ thống thuế (nhờ mở rộng cơ sở thuế và giảm thuế suất bình quân), qua đó đảm bảo tính ổn định và bền vững cho ngân sách, mà còn giúp cải thiện tính công bằng, tăng năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Các biện pháp hữu hiệu nhằm thu hẹp quy mô khu vực phi chính thức không nhất thiết phải bằng các quy định mang tính chất cấm đoán (như cấm buôn bán hàng rong, vỉa hè...) mà phải xuất phát từ các nguyên nhân sâu xa khiến khu vực phi chính thức tồn tại. Theo đó, để có thể khuyến khích các chủ thể tham gia vào nền kinh tế chính thức, Chính phủ nên tập trung vào các biện pháp dài hạn nhằm tạo ra những thay đổi mang tính nền tảng như: (i) Cải thiện hệ thống luật pháp, trong đó trọng tâm là cải cách hệ thống thuế, giảm chi phí tuân thủ, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; (ii) Cải thiện chất lượng thể chế, năng lực quản trị nhà nước; kiểm soát nạn tham nhũng ở khu vực công, trọng tâm là loại bỏ các khoản chi phí không chính thức; (ii) Ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi và an toàn cho phát triển kinh tế dài hạn. Theo đuổi những cải cách này trong dài hạn sẽ tạo ra tác động tích cực lên các hoạt động kinh tế và kỳ vọng sẽ làm thay đổi nhận thức cùng những tính toán về lợi ích và chi phí của các chủ thể trong nền kinh tế, khuyến khích họ chuyển đổi và tham gia vào các hoạt động kinh tế chính thức, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp có bước phát triển nhanh và khá nóng đã tạo cơ hội lớn cho giới đầu tư, nhưng cũng gây ra rủi ro lớn.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Phát triển nóng
Tính đến ngày 24/6/2019, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt 10,5% GDP (vượt mục tiêu đặt ra là 7% GDP vào năm 2020), tăng 19,2% so với cuối năm 2018.
Bẩy tháng năm 2019, tổng phát hành trái phiếu doanh nghiệp của các công ty đại chúng là 31.000 tỷ đồng, tương đương 63,8% tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp của năm 2018; trong đó, doanh nghiệp ngành tài chính - ngân hàng chiếm 42%, doanh nghiệp bất động sản chiếm 22%.
Lãi suất của trái phiếu doanh nghiệp 7 tháng đầu năm 2019 cao hơn so với năm 2018, nguyên nhân do mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của ngân hàng thương mại đều tăng trong năm 2019; trong đó, lãi suất trái phiếu của doanh nghiệp ngành bất động sản trong 7 tháng qua ở mức trên 10% (phổ biến ở mức 12%).
Riêng đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp Công ty cổ phần Bất động sản Phát Đạt có mức lãi suất khá cao (từ 12-14,5%), đây là 1 trong những doanh nghiệp có mức cao nhất. Lý giải về việc lãi suất trái phiếu doanh nghiệp tăng cao, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cho rằng, việc áp dụng chính sách thắt chặt tín dụng với ngành bất động sản cũng là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp bất động sản phải huy động vốn trên thị trường với mức lãi suất cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái và so với các ngành khác.
Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp của ngành xây dựng cũng phổ biến mức 10%. Tính chung, lãi suất phát hành trái phiếu trong 7 tháng qua dao động ở mức 10 -12%
Mức lãi suất này cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng. Chẳng hạn với các ngân hàng thương mại lớn như Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) mức lãi suất tiền gửi dao động trong khoảng từ 6,8-7%. Còn với các ngân hàng nhỏ hơn, lãi suất tiền gửi khoảng từ 8 - 8,7%.
Chủ tịch Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam - VBMA Nguyễn Thị Kim Oanh cho rằng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam còn khá nhỏ so với các nước trong khu vực và thế giới.
Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), 6 tháng đầu năm 2019, một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan hay Indonesia, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp vào khoảng 20% GDP. Cá biệt, một số quốc gia có quy mô trái phiếu doanh nghiệp lớn, thậm chí đạt cao hơn trái phiếu Chính phủ như Hàn Quốc (xấp xỉ 80% GDP).
Tại Việt Nam, thị trường trái phiếu doanh nghiệp dù đã có xu hướng mở rộng về quy mô trong 5 - 7 năm trở lại đây, nhưng vẫn còn khá nhỏ và chưa đáp ứng được vai trò là kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp.
Tuy vậy cũng cần lưu ý thêm, ở một số nước phát triển, thị trường trái phiếu doanh nghiệp có xu hướng tập trung nhiều hơn vào các doanh nghiệp lớn với mức độ minh bạch thông tin và có đánh giá tín nhiệm thay vì các doanh nghiệp ồ ạt phát hành trái phiếu để huy động vốn dài hạn.
Chủ tịch VBMA cho rằng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã có giai đoạn phát triển khá nóng trong khoảng 1 năm trở lại đây khi đã vượt 3,5% mục tiêu năm 2020. Điều cần thiết trong giai đoạn thị trường đang có bước phát triển nhanh và khá nóng, các nhà quản lý, xây dựng chính sách cần có định hướng phát triển thị trường một cách bền vững.
Dưới góc độ quản lý, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai thông tin, qua rà soát và thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đã rà soát, đánh giá mức huy động lãi suất và chưa có xu hướng biến động đáng ngại. Bộ Tài chính vẫn tiếp tục theo dõi, đánh giá, phân tích thường xuyên, nếu có bất thường liên quan đến thị trường tài chính, ảnh hưởng sẽ có giải pháp phù hợp.
Cốt lõi là cải thiện tính minh bạch
Chuyên gia kinh tế Bùi Quang Tín - Giám đốc điều hành Trường Doanh Nhân BizLight cho rằng, hiện nay đầu tư trái phiếu doanh nghiệp sẽ có lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng, thậm chí lãi suất này cao gấp đôi lãi suất tiền gửi ngân hàng.
Khi nhà đầu tư sở hữu trái phiếu doanh nghiệp của các doanh nghiệp tốt hoàn toàn có thể sử dụng để thế chấp, cầm cố, bảo lãnh cho các hoạt động vay vốn, giao dịch trên thị trường thứ cấp của trái phiếu...
Tuy nhiên, chắc chắn lãi suất cao đi kèm với rủi ro lớn. Nhà đầu tư cần phải tìm hiểu rõ, đặc biệt lãi suất của các trái phiếu lớn hơn 12%/năm thì rủi ro sẽ rất lớn.
“Những thông tin trong quá trình phát hành trái phiếu nhà đầu tư đã có đầy đủ hay chưa? Thông thường là thông tin này rất ít và chủ yếu công bố trên Website của doanh nghiệp, nhà đầu tư nhỏ lẻ thường ít có cơ hội tiếp cận thông tin thật sự của doanh nghiệp”, vị chuyên gia lo ngại.
Theo vị chuyên gia này, đầu tư trái phiếu thực chất là kênh đầu tư tài chính nên cần chuyên nghiệp. Muốn chuyên nghiệp thì phải biết phân tích, đo lường triển vọng của doanh nghiệp. Bản chất của việc mua trái phiếu là cho doanh nghiệp vay vốn mà trường hợp này là vay vốn không thế chấp. Vì vậy, khi doanh nghiệp phá sản nhà đầu tư có thể mất trắng vốn.
Theo Luật Phá sản, doanh nghiệp phá sản sẽ phải thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, trả nợ ngân hàng... Vậy sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ nợ, doanh nghiệp còn gì cho nhà đầu tư?
Ông Tín khuyến cáo, nhà đầu tư nhỏ lẻ thiếu kiến thức về tài chính doanh nghiệp không nên tham gia thị trường này. Nhà đầu tư chỉ tham gia khi có đủ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và có khả năng phân tích, dự báo các chỉ số tài chính.
Theo Chủ tịch VBMA Nguyễn Thị Kim Oanh, hiện nay tham gia thị trường trái phiếu doanh nghiệp chủ yếu là nhà đầu tư có tổ chức, tỷ lệ nhà đầu tư cá nhân chỉ chiếm khoảng 6,1%.
Bà Oanh cũng cho rằng, rủi ro lớn nhất với nhà đầu tư nhỏ lẻ khi tham gia thị trường trái phiếu doanh nghiệp là phần đông số họ trong giai đoạn này vẫn chưa được tiếp cận thông tin đầy đủ về trái phiếu doanh nghiệp họ đang nắm giữ và thiếu kỹ năng, nghiệp vụ để đánh giá, phân tích rủi ro.
Hiện có khoảng 70% doanh nghiệp phát hành trái phiếu sử dụng tài sản và tài sản hình thành từ nguồn hình thành trái phiếu nhưng chưa được định giá bởi tổ chức định giá độc lập và khó xác minh các tranh chấp pháp lý.
Ngoài ra, nhà đầu tư cá nhân cũng khó có thể kiểm soát mục đích huy động vốn của doanh nghiệp.
Theo quan sát trên thị trường, trong giai đoạn vừa qua, nhu cầu đầu tư trái phiếu doanh nghiệp một phần có thể được lý giải bởi việc nhà đầu tư đang coi đây giống như một kênh tiền gửi với mức lãi suất lớn hơn trong khi chưa có sự quan tâm đầy đủ với các thông tin quan trọng liên quan như bản chào trái phiếu (OC); loại hình trái phiếu doanh nghiệp (trái phiếu có bảo đảm, không bảo đảm hay trái phiếu kèm chứng quyền) hay đặc tính trái phiếu.
Do vậy có thể khẳng định, không giống Quỹ đầu tư trái phiếu hay nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp, nhà đầu tư cá nhân hoàn toàn bất lợi trong việc tiếp cận, xử lý thông tin hay trong quá trình đàm phán, bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp hoặc rủi ro vỡ nợ.
Chủ tịch VBMA Nguyễn Thị Kim Oanh cho rằng, chủ trương phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp, từng bước giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng là hoàn toàn đúng đắn.
Tuy nhiên, để đảm bảo thị trường phát triển một cách lành mạnh và bền vững thì điều cốt lõi là cải thiện tính minh bạch; trong đó, phải kể đến nhóm giải pháp cơ chế giám sát thị trường rõ ràng.
“Về phía cơ quan quản lý, tôi cho rằng, sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan phát triển thị trường trái phiếu trong mối liên kết với thị trường tiền tệ cũng sẽ được chú trọng hơn. Việc trao đổi, tham vấn giữa cơ quan quản lý với các nhà tạo lập thị trường theo định kỳ về diễn biến thị trường và tình hình phát hành trái phiếu cần được tăng cường”, Chủ tịch VBMA kiến nghị.
Theo bà Oanh, nhu cầu cấp thiết hiện nay là phải có tổ chức đánh giá tín nhiệm độc lập về các đơn vị phát hành. Từ đó, phân loại trái phiếu để nhà đầu tư có cơ sở đưa ra các lựa chọn.
Cũng theo Chủ tịch VBMA, về kênh thông tin, một trung tâm quản lý thông tin tập trung sẽ là cần thiết để hạn chế sự mất cân xứng thông tin trong bối cảnh tỷ trọng của nhà đầu tư cá nhân đang tăng lên đáng kể.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Thời gian gần đây, các hoạt động kinh tế ngầm luôn thay đổi cùng sự phát triển của số hóa, toàn cầu hóa và xuất hiện các mô hình kinh doanh mới đã tạo sự thay đổi nhanh chóng trong kinh tế - xã hội. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là cơ quan thuế cần tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý thuế, thích nghi với sự thay đổi của các hoạt động kinh tế ngầm.

Qua nghiên cứu cho thấy, công tác quản lý thuế ở nhiều quốc gia ngày càng được quan tâm, các phương thức quản lý thuế cũng có sự điều chỉnh cùng với xu hướng thay đổi của các hoạt động kinh tế ngầm.
Đặt vấn đề
Kinh tế ngầm được hiểu theo nhiều giác độ, nhưng tựu chung lại thì kinh tế ngầm là tất cả các hoạt động kinh tế chưa được đăng ký chính thức, do đó chưa được tính vào GDP chính thức (Friedrich Schneider, 2016). Khái niệm mang nghĩa rộng nhất về kinh tế ngầm, đó là những hoạt động kinh tế mà có thu nhập phát sinh, từ đó phá vỡ quy định của pháp luật, phá vỡ nguyên tắc đánh thuế hoặc khó có thể kiểm soát được (Dell Anno, 2003; Dell Anno and Schneider, 2004).
Nền kinh tế ngầm được hình thành bởi nhiều lý do: (i) Tránh/trốn thuế (thuế thu nhập, thuế GTGT…); (ii) Tránh thanh toán các khoản đóng góp an sinh xã hội; (iii) Tránh các tiêu chuẩn thị trường lao động hợp pháp (lương tối thiểu, giờ làm việc tối thiểu, tiêu chuẩn an toàn lao động…); (iv) Tránh việc phải tuân thủ các thủ tục hành chính.
Quy mô nền kinh tế ngầm khác biệt ở từng quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt. Mặc dù, mức độ gia tăng các hoạt động kinh tế ngầm đã giảm dần theo thời gian, nhưng ước tính quy mô kinh tế ngầm so với GDP chính thức vẫn ở mức cao. Quy mô nền kinh tế ngầm ở 28 quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU) năm 2003 ở mức trung bình là 22,6% GDP, đến năm 2016 tỷ lệ này giảm xuống còn 17,9% GDP.
Sự tồn tại của nền kinh tế ngầm có nhiều ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế chính thức, trong đó có vấn đề gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Điều này ngày càng đặt ra thách thức cho công tác quản lý thuế. Tỷ lệ trốn/tránh thuế (gồm thuế gián thu và thuế thu nhập) do nền kinh tế ngầm gây ra ở Ba Lan khoảng 4,2% GDP chính thức và năm 2014, khoảng 1,9% ở Đức và 2,9% ở Cộng hòa Séc. Theo Ngân hàng Thế giới (WB) 2018, quy mô nền kinh tế ngầm so với GDP ít hơn 1% thì tỷ lệ thất thu thuế so với GDP cao hơn 0,125%. Theo Tổng cục Thống kê, quy mô của nền kinh tế ngầm ở Việt Nam chiếm tỷ lệ khá lớn, khoảng 30% GDP. Nguồn thu thuế tiềm năng theo Nguyen Thai Hoa (2019) cũng bị mất đi hàng năm khoảng từ 3,3% đến 5% GDP.
Quản lý thuế đối với các hoạt động kinh tế ngầm ở một số quốc gia
Hiện nay ở nhiều nước, công tác quản lý thuế được tăng cường và hướng đến áp dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, của kỹ thuật số nhằm giảm cơ hội phát triển của các hoạt động kinh tế ngầm và tăng cường phát hiện hành vi gian lận. Một yếu tố quan trọng của nền kinh tế ngầm là thanh toán bằng tiền mặt dễ cho phép người bán không báo cáo các giao dịch thương mại. Tuy nhiên, nếu thanh toán điện tử được sử dụng thay vì tiền mặt thì các giao dịch khó có thể được giấu diếm. Do đó, các quốc gia có xu hướng quy định bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử và thanh toán lương, các khoản thu nhập thông qua thanh toán điện tử nhằm giảm quy mô nền kinh tế ngầm.
Áp dụng bắt buộc hóa đơn điện tử
Hóa đơn điện tử là một loại hình thanh toán điện tử, trong đó các tài liệu giao dịch như lệnh mua, điều khoản thanh toán và tín dụng được gửi theo phương thức kỹ thuật số giữa các bên có liên quan. Cho đến nay, các quốc gia đã bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử đối với tất cả các giao dịch gồm có: Argentina, Brazil, Trung Quốc, Croatia, Hy Lạp, Hungary, Indonesia, Ý, Philippines, Bồ Đào Nha, Romania và Venezuela. Một số quốc gia áp dụng các yêu cầu về lập hóa đơn điện tử theo phân đoạn thị trường như: Áo, Bỉ, Đức, Hà Lan và Thụy Điển. Khi các chính phủ chuyển sang sử dụng hóa đơn điện tử bắt buộc, các doanh nghiệp phải đối mặt với một điều kiện chặt chẽ hơn về tuân thủ thuế.
Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, nhìn chung đối tượng áp dụng hóa đơn điện tử chủ yếu là doanh nghiệp, người bán hàng hóa, dịch vụ và các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Việc lập hóa đơn điện tử được áp dụng cho các đối tượng giao dịch B2G (giữa doanh nghiệp và chính phủ), B2B (giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp), B2C (giữa doanh nghiệp và khách hàng cá nhân)…
Tại Trung Quốc, cơ sở quản lý thuế là bằng hóa đơn. Theo mô hình truyền thống thì quản lý thuế thường thông qua hóa đơn giấy có dấu của cơ quan thuế. Tuy nhiên, cùng với việc cải cách quản lý thuế, Trung Quốc đã áp dụng điện tử hóa các con dấu, chữ ký và điện tử hóa hóa đơn. Nhiều cơ quan nhà nước đã sử dụng con dấu, chữ ký điện tử, văn bản hành chính không phải ban hành bằng giấy.
Hóa đơn điện tử ở Trung Quốc được định nghĩa là hóa đơn có thông tin được mã hóa, số hóa đưa lên mạng, do vậy nó khác biệt hoàn toàn với hóa đơn truyền thống. Trung Quốc có những công cụ xác nhận danh tính, chữ ký điện tử giúp đảm bảo độ chính xác của thông tin trên mạng. Việc thay đổi này đã tạo điều kiện thuận tiện hơn cho việc giám sát của cơ quan thuế do có thể giám sát tức thì, thay vì giám sát hậu kỳ như trước đây. Cơ quan thuế Trung Quốc có bộ phận/đơn vị làm nhiệm vụ thống kê, phân tích dữ liệu hàng ngày để đưa ra kết quả và các kết quả phân tích sẽ tự động đưa ra các cảnh báo.
Đến nay, Trung Quốc đã áp dụng hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc và cho tất cả các doanh nghiệp. Mỗi hóa đơn có 1 mã QR, con dấu của cơ quan thuế và hệ thống ký mã hiệu, dùng để quét thông tin trên từng hóa đơn. Thông qua hóa đơn điện tử, cơ quan thuế có thể kiểm tra được lượng hàng tồn kho của một doanh nghiệp. Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện xây dựng Cục thuế điện tử nhằm thực hiện chiến lược số hóa quốc gia.
Singapore đã cho phép áp dụng hóa đơn điện tử từ năm 2003. Doanh nghiệp có thể phát hành hóa đơn điện tử mà không cần sự chấp thuận trước của cơ quan thu nội địa (IRAS) nhưng phải tuân thủ Hướng dẫn lưu giữ hồ sơ đối với doanh nghiệp đăng ký. Doanh nghiệp có thể thuê bên thứ 3 tạo hóa đơn điện tử và tín dụng điện tử. Theo Hướng dẫn lưu giữ hồ sơ, thì hồ sơ hóa đơn điện tử có thể được giữ bằng phần mềm kế toán. Thêm vào đó, mặc dù IRAS không yêu cầu chữ ký số (IRAS, 2013b) thì hồ sơ hóa đơn điện tử vẫn phải được lưu giữ và hoạt động với độ tin cậy, tính xác thực cần thiết. Từ tháng 11/2008, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho chính phủ bắt buộc phải phát hành hóa đơn điện tử. Như vậy, Singapore đã bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử B2G từ năm 2008 và áp dụng đối với đối tượng là các nhà cung cấp.
Hàn Quốc đã triển khai hệ thống thuế giá trị gia tăng vào năm 1976 và để giúp cải thiện công tác thu thuế, quốc gia này đã yêu cầu áp dụng toàn bộ hóa đơn điện tử đối với B2G và B2B vào năm 2010. Đối với các doanh nghiệp và cá nhân khác, trước đây việc sử dụng hóa đơn điện tử được áp dụng đối với một số nhóm đối tượng nhất định. Tuy nhiên, sau đó việc áp dụng hóa đơn điện tử được áp dụng bắt buộc đối với doanh nghiệp (từ năm 2011) và hóa đơn điện tử được áp dụng theo ngưỡng doanh thu và ngưỡng này được điều chỉnh giảm dần (từ năm 2012 là 1 tỷ KRW (khoảng 910 ngàn USD và từ 01/07/2014 là 300 triệu KRW (tương đương khoảng 270 ngàn USD). Việc chuyển đổi từ hóa đơn giấy sang hóa đơn điện tử giúp Hàn Quốc tiết kiệm khoảng 6.700 tỷ Won chi phí cho toàn xã hội.

Mexico cũng là một quốc gia áp dụng rộng rãi hóa đơn điện tử. Năm 2010, mô hình xuất hóa đơn điện tử qua internet (CFDI) được công bố. Năm 2011, Các công ty có doanh thu lớn hơn 4 triệu peso phải áp dụng CFDI. Ngày 1/1/2014, Mexico triển khai bắt buộc áp dụng CFDI với các công ty có doanh thu từ 250.000 peso trở lên và cho việc phát hành tiền lương hoặc chứng từ lương. Sau đó, các hình thức hóa đơn truyền thống đã dần dần không còn được sử dụng rộng rãi, thay vào đó là hóa đơn điện tử. Mục tiêu chính của việc bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử là chống gian lận thuế và giảm quy mô nền kinh tế phi chính thức. Để có thể phát hành một hóa đơn điện tử, doanh nghiệp phải đăng ký với Cơ quan thuế Mexico (SAT) và có được chữ ký số, con dấu kỹ thuật số từ SAT. Tác động của việc áp dụng hóa đơn điện tử khá rõ rệt trong việc làm giảm quy mô nền kinh tế ngầm tại Mexico khoảng 4% GDP và tăng nguồn thu thuế giá trị gia tăng tương đương 21% ngân sách hàng năm của Mexico.
Áp dụng bắt buộc thanh toán điện tử đối với việc trả lương và các khoản thu nhập
Các quốc gia Croatia, Slovenia, Bosnia, Uruguay đã có quy định bắt buộc thanh toán điện tử (không dùng tiền mặt) đối với các khoản tiền lương và tiền công thông qua chuyển khoản ngân hàng. Theo dữ liệu của World Bank, năm 2014 hơn 70% người nhận lương ở các quốc gia được phân tích đã nhận tiền lương vào tài khoản của họ thông qua các tổ chức tài chính (ví dụ 74,6% ở Bulgary; 77,5% ở Bosnia, tỷ lệ cao nhất là 97% ở Slovenia). Lượng tiền được trả thông qua tài khoản ngân hàng sẽ giúp giảm quy mô của nền kinh tế ngầm. Theo EY (2019), việc quy định thanh toán tiền lương và tiền công thông qua tài khoản ngân hàng ước tính giúp quy mô của nền kinh tế ngầm giảm khoảng 0,28% GDP ở Ba Lan; 0,13% GDP ở Cộng hòa Séc; 0,1% GDP ở Bulgary…
Áp dụng bắt buộc thanh toán điện tử đối với các lợi ích an sinh xã hội
Việc thanh toán khoản trợ cấp thất nghiệp và ốm đau thông qua chuyển khoản ngân hàng là bắt buộc ở Bulgary, Croatia và Slovenia. Ở Italia, tất cả các khoản giải ngân viện trợ xã hội được thực hiện qua thẻ trả trước. Ngoài ra, tất cả các khoản lợi ích an sinh xã hội (bao gồm cả lương hưu) được thanh toán điện tử ở Đan Mạch, Thụy Điển, Uruguay. Theo ước tính của EY (2019), nếu áp dụng quy định bắt buộc thanh toán điện tử đối với các khoản lương hưu thì có thể giảm quy mô nền kinh tế ngầm ở Ba Lan khoảng 0,59% GDP; ở Cộng hòa Séc 0,47% GDP; ở Slovakia 0,45% GDP và 0,31% GDP ở Croatia; 0,18% GDP ở Slovenia; 0,16% GDP ở Bulgary. Nếu áp dụng quy định bắt buộc thanh toán điện tử đối với các khoản trợ cấp thất nghiệp thì có thể giảm quy mô nền kinh tế ngầm khoảng 0,013% GDP ở Slovakia; 0,011% GDP ở Cộng hòa Séc.
Áp dụng ngưỡng thanh toán tiền mặt của người tiêu dùng
Quy định này nhằm xác định một giá trị tiền tệ nhất định (ngưỡng) cho một giao dịch mà nếu vượt quá thì không cho phép người tiêu dùng thanh toán bằng tiền mặt. Trong trường hợp vượt quá ngưỡng giá trị tiền mặt quy định thì các giao dịch được thay thế bằng các khoản thanh toán điện tử bổ sung. Đây cũng là cách thức mà cơ quan quản lý thuế áp dụng nhằm làm giảm quy mô của nền kinh tế ngầm và tăng nguồn thu thuế cho Nhà nước.
Ngưỡng thanh toán tiền mặt đã được áp dụng ở Bulgary, Croatia, Cộng hòa Séc, Slovakia... Tại Slovakia, từ ngày 1/1/2012, ngưỡng thanh toán tiền mặt đối với giao dịch B2B, C2B và B2C lên tới 5.000 Euro. Tại Cộng hòa Séc, hạn mức thanh toán tiền mặt trong một ngày là 350.000 CZK (khoảng 14.000 Euro). Tại Bulgary, ngưỡng tối đa thanh toán tiền mặt là 10.000 leva (khoảng 5.112 Euro). Tại Bỉ, từ 16/4/2012, ngưỡng thanh toán tiền mặt giảm xuống từ 15.000 Euro xuống 5.000 Euro. Tại Hy Lạp, mức tối đa đối với giao dịch mua hàng hóa và dịch vụ là 1.500 Euro.
Tuy nhiên, ở phần lớn các quốc gia châu Âu, hiện tại ngưỡng thanh toán tiền mặt vẫn tương đối cao (từ 5.000 Euro đến 15.000 Euro), do đó tác động trong việc giảm thanh toán tiền mặt vẫn không đáng kể (tiền mặt chủ yếu được người tiêu dùng sử dụng cho các giao dịch có giá trị thấp).
Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Một số quy định quản lý thuế nhằm giảm thiểu quy mô của nền kinh tế ngầm đã được áp dụng ở nhiều quốc gia. Việt Nam cần tìm hiểu và chọn lọc những cách thức quản lý thuế có khả năng áp dụng phù hợp với tiến trình phát triển cũng như trình độ khoa học kỹ thuật hiện có.
Thứ nhất, về áp dụng bắt buộc hóa đơn điện tử
Đối với cơ quan thuế, việc quy định doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử giúp giảm chi phí quản lý, dễ dàng truy xuất các số liệu thống kê báo cáo trên hệ thống, cơ quan thuế có thể kiểm tra, đối chiếu số liệu đầu ra và đầu vào của các DN, hỗ trợ việc hoàn thuế được thuận tiện và chính xác. Do nền kinh tế kỹ thuật số khiến cho việc thu thuế phức tạp hơn nên Chính phủ các nước ngày càng tận dụng công nghệ để tăng cường thu thuế gián thu và biện pháp khả thi nhất là hóa đơn điện tử. Việt Nam trong thời gian qua đã thực hiện sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế, theo đó việc quy định rõ ràng về áp dụng hóa đơn điện tử là một bước tiến lớn nhằm hướng tới đạt được hiệu quả về công tác quản lý thuế, kiểm soát được dòng tiền, qua đó sẽ giảm được quy mô của nền kinh tế ngầm.
Thứ hai, về áp dụng bắt buộc thanh toán điện tử
đối với việc trả lương và các khoản thu nhập
Các quốc gia đều khuyến khích và thực hiện áp dụng bắt buộc thanh toán điện tử đối với việc trả lương và các khoản thu nhập thông qua tài khoản ngân hàng nhằm hạn chế tối đa các giao dịch tiền mặt (yếu tố chủ chốt đại diện cho nền kinh tế ngầm). Do đó, Việt Nam cũng nên xem xét, cân nhắc hướng đến áp dụng bắt buộc thanh toán điện tử đối với các khoản tiền lương và tiền công theo lộ trình nhất định để các chủ thể trong nền kinh tế có thời gian thích nghi và thực hiện.
Thứ ba, áp dụng bắt buộc thanh toán điện tử
đối với các lợi ích an sinh xã hội
Đối với Việt Nam, phương thức này đòi hỏi Chính phủ phải có hệ thống thanh toán điện tử hoàn thiện và các cơ quan quản lý thuế cũng phải được trang bị các hệ thống công nghệ thông tin hiện đại mới có thể áp dụng bắt buộc được. Trong bối cảnh hiện nay, khả năng áp dụng phương thức quản lý này sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng nếu có sự quyết tâm cao thì vẫn có khả năng thực hiện sớm.
Thứ tư, áp dụng ngưỡng thanh toán tiền mặt
của người tiêu dùng
Đối với Việt Nam, thói quen dùng tiền mặt trong các giao dịch đã hình thành từ khá lâu khiến cho nền kinh tế ngầm có được điều kiện thuận lợi để phát triển. Việc áp dụng phương thức quản lý theo cách áp dụng ngưỡng thanh toán tiền mặt của người tiêu dùng cần được thực hiện có lộ trình. Mặt khác, cần nâng cao vận động, tuyên truyền các chủ thể trong nền kinh tế hướng tới việc thanh toán điện tử do sự thuận tiện cũng như lợi ích to lớn mang lại trong việc giảm thiểu quy mô của nền kinh tế ngầm, giúp cơ quan thuế tăng nguồn thu và kiểm soát được các hành vi gian lận.
Bộ Tài chính vừa hoàn thiện và đưa vào vận hành Kho dữ liệu NSNN nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước của cơ quan tài chính các cấp.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Ứng dụng nền tảng công nghệ tiên tiến nhất
Để tăng cường kênh cung cấp thông tin về NSNN, phục vụ kịp thời, đa dạng nhu cầu thông tin về NSNN cho cơ quan tài chính các cấp (Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương , phòng Tài chính và Kế hoạch quận, huyện, thị xã), các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, từ cuối tháng 11/2018, Bộ Tài chính đã đưa vào vận hành Kho dữ liệu NSNN .
Kho dữ liệu NSNN được xây dựng và triển khai tập trung, thống nhất trong phạm vi toàn quốc, thực hiện chức năng đồng bộ, bổ sung dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, tổng hợp dữ liệu để khai thác, lập báo cáo tĩnh, báo cáo tùy biến, báo cáo đồ họa… theo các chiều thông tin khác nhau phục vụ công tác quản lý, điều hành, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình tài chính - ngân sách nhà nước.
Theo Cục Tin học và Thống kê tài chính, Kho dữ liệu NSNN sử dụng nền tảng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất hiện nay trong việc xây dựng một datawarehouse chuẩn và triển khai các công cụ báo cáo thông minh Business Intelligence nhằm chuẩn hóa dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau và tối ưu hóa hiệu quả khai thác thông tin từ kho dữ liệu.
Với việc đồng bộ dữ liệu từ các hệ thống TABMIS, hệ thống quản lý thu NSNN tập trung tại KBNN, thông tin thống kê tài chính, danh mục dùng chung, đây được đánh giá là ứng dụng tương đối phức tạp và thực hiện đồng bộ từ nhiều nguồn dữ liệu nhất của ngành Tài chính.
Trên cơ sở các nguồn dữ liệu đồng bộ về, Kho dữ liệu NSNN có thể cung cấp khoảng 150 báo cáo tĩnh về ngân sách nhà nước được ban hành theo các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật NSNN năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật...
Bên cạnh đó, Kho dữ liệu cũng có khả năng cung cấp các báo cáo đồ họa, báo cáo động, báo cáo trên thiết bị di động. Với chức năng khai thác báo cáo động giúp người dùng có thể lập những báo cáo chuyên sâu, đa dạng theo nhu cầu quản lý đột xuất, đặc thù của từng đơn vị.
Kho dữ liệu NSNN còn có chức năng “diễn đàn”, qua đó cho phép trao đổi hai chiều, trực tiếp giữa người sử dụng và cán bộ quản trị, góp phần hỗ trợ kịp thời và ghi nhận đầy đủ các ý kiến góp ý của người dùng.
Với nhiều tính năng hữu ích, Kho dữ liệu NSNN đã hỗ trợ các cơ quan tài chính các cấp tổng hợp phần lớn những báo cáo ngân sách theo yêu cầu. Điều này giúp giảm rất nhiều thời gian, nguồn lực làm công tác tổng hợp báo cáo đồng thời đảm bảo tính nhất quán về dữ liệu từ trung ương đến địa phương, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, trực quan, sinh động, đa chiều về NSNN, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân sách.
Sử dụng hiệu quả Kho dữ liệu
Để Kho dữ liệu NSNN được đưa vào vận hành đảm bảo an toàn, ổn định và hiệu quả, Bộ Tài chính vừa ban hành Quy chế Quản lý, vận hành, khai thác Kho dữ liệu ngân sách nhà nước theo Quyết định số 1220/QĐ-BTC ngày 19/7/2019.Quy chế quy định rõ nội dung nguồn dữ liệu, trách nhiệm của các đơn vị cung cấp dữ liệu; quyền khai thác, bổ sung dữ liệu của các đơn vị, trách nhiệm của cá nhân trong khai thác dữ liệu cũng như hướng dẫn các điều kiện vận hành, sử dụng, khai thác Kho dữ liệu NSNN, kết cấu mật khẩu truy cập Kho... nhằm đảm bảo tính toàn vẹn, kịp thời, tính chính xác và đầy đủ của dữ liệu trên Kho cũng như khai thác, sử dụng dữ liệu đảm bảo an toàn, an ninh thông tin.
Bên cạnh đó, nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, hiệu quả sử dụng Kho, Bộ Tài chính đã ban hành Công văn gửi Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về tăng cường khai thác, sử dụng Kho dữ liệu NSNN, đồng thời, Bộ Tài chính đã thực hiện tổ chức đào tạo lại cho cơ quan tài chính các cấp nhằm cập nhật lại cách thức sử dụng, khai thác Kho dữ liệu, hướng dẫn sử dụng những chức năng mới và tổng hợp ý kiến của các đơn vị đánh giá về Kho, những đề xuất, kiến nghị. Trên cơ sở đó, tiếp tục hoàn thiện Ứng dụng để đảm bảo tốt nhất nhu cầu của các đơn vị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng Kho, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý ngân sách nhà nước.
Ngày 3/9, tại Hà Nội, Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan đã tổ chức Lễ phát động Cuộc vận động “Doanh nghiệp, doanh nhân đóng góp ý kiến hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế”.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Bấm nút khai trương trang Website của Cuộc vận động.
Sự kiện được Ban Kinh tế Trung ương chủ trì và phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương; Văn phòng Chính phủ; Ủy ban Kinh tế Quốc hội; Đài Truyền hình Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI đồng tổ chức.
Cuộc Vận động nhằm mục đích khơi dậy sức sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và huy động trí tuệ của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân đối với đất nước, góp phần triển khai thực hiện thành công các chủ trương của Đảng, nhất là các nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước.
Phát biểu tại Lễ phát động Cuộc vận động, đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Cuộc vận động cho biết: Ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân trong phát triển kinh tế. Trong bức thư đề ngày 13/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các “giới công thương Việt Nam”, Bác đã khẳng định: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng".
“Gần 74 năm đã trôi qua nhưng tư tưởng của Bác về doanh nghiệp, doanh nhân nêu trong bức thư ngày ấy vẫn còn nguyên giá trị và ngày nay Đảng, Nhà nước, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân ta vẫn đang nỗ lực thực hiện lời căn dặn này”, đồng chí Nguyễn Văn Bình khẳng định.
Theo Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Đảng ta luôn xác định và thực hiện quan điểm nhất quán phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời đã ban hành nhiều đường lối, chủ trương quan trọng về đổi mới và phát triển kinh tế.
Hội nghị Trung ương 5 khóa XII ban hành: Nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Nghị quyết số 11-NQ/TW); tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (Nghị quyết số 12-NQ/TW); phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Nghị quyết số 10-NQ/TW). Đây là những vấn đề then chốt và mang tính nền tảng đối với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Ba Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII của Đảng là các chủ trương lớn, quan trọng, đúng đắn và được các tầng lớp nhân dân ủng hộ, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp, doanh nhân vẫn gặp còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động và nền kinh tế nước ta chưa phát triển nhanh và bền vững, trong đó có nguyên nhân quan trọng là thể chế, cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ đang là lực cản cho quá trình đổi mới và phát triển kinh tế của nước ta, cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nhân.
Theo đồng chí Nguyễn Văn Bình, Cuộc Vận động khẳng định sự coi trọng của Đảng và Nhà nước đối với vai trò, vị trí của doanh nghiệp, doanh nhân trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước nhằm phát huy trí tuệ, dân chủ, lòng tự hào, tự tôn dân tộc và tinh thần trách nhiệm, tự lực, tự cường, đổi mới sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế; nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII và góp phần đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.
Cuộc vận động này cũng nhằm tăng cường sự gắn kết chặt chẽ giữa Đảng và Nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân trên tinh thần doanh nghiệp, doanh nhân hết lòng vì Đảng, Nhà nước và phụng sự tổ quốc, nhân dân; Đảng và Nhà nước trân trọng lắng nghe các ý kiến góp ý, tiếp thu các đề xuất, sáng kiến hay của doanh nghiệp, doanh nhân để lãnh đạo, điều hành đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Cuộc vận động này hết sức có ý nghĩa khi được tổ chức trong bối cảnh cả nước ta đang tiến hành kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc Bác và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh với doanh nghiệp, doanh nhân được đề ra từ 74 năm trước.
Mọi góp ý, đề xuất, sáng kiến của doanh nghiệp, doanh nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đều được Ban Tổ chức Cuộc vận động trân trọng tiếp nhận, tổng hợp, xem xét, chuyển tới các cơ quan của Đảng và Nhà nước liên quan để nghiên cứu, phục vụ cho việc xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế và góp phần xây dựng văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII.
Tại Lễ Phát động, Ban Tổ chức đã công bố Thể lệ Cuộc vận động. Theo đó, các góp ý, đề xuất của doanh nghiệp, doanh nhân nhằm nhận diện, phản ánh về các vấn đề lớn, quan trọng cần phải giải quyết; những khó khăn, cản trở trong thực tiễn phát triển kinh tế và hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, đồng thời góp ý, đề xuất cơ chế, chính sách, biện pháp xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.
Thời gian tiếp nhận góp ý, đề xuất: Từ sau ngày tổ chức Lễ phát động đến 31/12/2019; thời gian xét chọn góp ý, đề xuất từ tháng 1 đến tháng 3/2020.
Lễ tôn vinh và trao giải dự kiến sẽ được tổ chức vào tháng 4/2020./.
Thời gian qua, sản lượng ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu trong trung và ngắn hạn thay đổi đáng kể theo chiều hướng tăng về số lượng xe sản xuất, lắp ráp. Tuy nhiên, ưu thế này được nhận định sẽ không giữ được lâu nếu sản xuất trong nước không nỗ lực tăng cường chất lượng, hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tăng đáng kể xe sản xuất, lắp ráp
Bộ Công Thương vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về thị trường ô tô Việt Nam sau khi Hiệp định ATIGA có hiệu lực.
Đối với mặt hàng ô tô, Việt Nam cam kết thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ô tô nguyên chiếc từ các nước ASEAN giảm xuống mức 0% trong khuôn khổ Hiệp định ATIGA kể từ ngày 1/1/2018.
Đây cũng chính là thời điểm Nghị định 116/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô (Nghị định 116) chính thức có hiệu lực.
Bộ Công Thương cho hay: Sau khi Nghị định 116 được ban hành, một số nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và các thành viên WTO khác như Mỹ, Nhật Bản, EU đã nêu quan ngại về việc Nghị định 116 có thể tạo ra thêm thủ tục và gây cản trở cho các doanh nghiệp trong quá trình xuất khẩu mặt hàng ô tô vào thị trường Việt Nam cũng như vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia. Cụ thể là vấn đề kiểm tra theo lô và giấy chứng nhận kiểu loại trong khi ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước không bị yêu cầu như vậy.
Tuy nhiên, Bộ Công Thương giải thích rằng, Nghị định 116 không tạo ra phân biệt đối xử giữa ô tô nhập khẩu và ô tô sản xuất trong nước.
Bộ Công Thương đánh giá, các doanh nghiệp đã bước đầu khẳng định vai trò, vị trí đối với thị trường ô tô trong nước và đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về lượng và chất. Cụ thể như, năm 2018, sản lượng xe sản xuất, lắp ráp của Huyndai Thành Công và Thaco Trường Hải là gần 145 nghìn xe, chiếm 45,7% tổng lượng xe lắp ráp và nhập khẩu. Cập nhật 6 tháng năm 2019, hai doanh nghiệp trên đã sản xuất lắp ráp hơn 81,5 nghìn xe, tăng 10,8% về lượng và chiếm 40% tổng lượng xe lắp ráp và nhập khẩu.
Trong báo cáo gửi Thủ tướng, Bộ Công Thương nêu rõ: Tương quan về sản lượng giữa xe sản xuất, lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu trong trung và ngắn hạn thay đổi đáng kể theo chiều hướng tăng về số lượng xe sản xuất, lắp ráp. Năm 2017, tỷ lệ này là 258.733/103.337 = 2,5 lần. Năm 2018, con số tăng lên thành 250.081/67.148 = 3,72 lần và 6 tháng năm 2019 giảm xuống còn 131.089/75.438 = 1,74 lần.
Tuy nhiên, ưu thế này sẽ không giữ được lâu nếu sản xuất trong nước không nỗ lực tăng cường chất lượng, hạ giá thành sản xuất để tăng tính cạnh tranh, nhất là việc cạnh tranh đối với xe nhập khẩu từ thị trường ASEAN do được ưu đãi thuế quan.
Hàng loạt đề nghị điều chỉnh về thuế
Bộ Công Thương đánh giá, tỷ trọng của xe sản xuất, lắp ráp so với xe nhập khẩu trong thời gian tới có xu hướng giảm, qua đó cần phải có các giải pháp hỗ trợ thúc đẩy công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước phát triển để cạnh tranh với xe nhập khẩu. Tỷ lệ xe nhập khẩu từ ASEAN vẫn chiếm tỷ trọng lớn do có lợi thế về ưu đãi thuế quan nhập khẩu 0%.
Để quản lý nhập khẩu ô tô hợp lý trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng và phát triển ngành ô tô trong nước, Bộ Công Thương cho rằng cần duy trì thực hiện Nghị định 116.
Bộ Công Thương đề nghị Thủ tướng giao Bộ Tài chính nghiên cứu, báo cáo đề ra các giải pháp cụ thể về chính sách thuế. Cụ thể, với thuế Giá trị gia tăng, Bộ Công Thương đề nghị hoàn thuế Giá trị gia tăng trong vòng 3 tháng (không thực hiện hoàn thuế theo phương thức khấu trừ như hiện nay) đối với máy móc thiết bị nhập khẩu tạo tài sản cố định… Với thuế Tiêu thụ đặc biệt, không áp dụng đối với phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước đối với sản xuất, lắp ráp ô tô (để giảm giá thành xe).
Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng kiến nghị điều chỉnh nâng thuế Tiêu thụ đặc biệt đối với một số dòng xe áp dụng ở mức hợp lý.
Với thuế nhập khẩu, Bộ Công Thương muốn được điều chỉnh theo nguyên tắc thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng và nguyên phụ liệu phải nhỏ hơn thuế suất nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh hoặc ở mức sàn theo các cam kết quốc tế ở từng hiệp định thương mại tự do.
Bên cạnh đó, điều chỉnh thuế suất về 0% đối với một số chi tiết quan trọng xe ô tô dưới 9 chỗ như động cơ, hộp số, áp dụng có thời hạn đến 2025; áp dụng thuế 0% với máy móc, thiết bị, khuôn, đồ gá… nhập khẩu để tạo tài sản cố định; miễn thuế hàng hóa nhập khẩu phục vụ làm mẫu để nghiên cứu sản xuất, hiệu chỉnh, lắp ráp dây chuyền công nghệ sản xuất xe ô tô...
Không dừng lại ở đó, Bộ Công Thương còn đề nghị ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp ở mức cao nhất đối với các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp ô tô.
Đối với dự án sản xuất, lắp ráp xe dưới 9 chỗ có quy mô 50 nghìn xe/năm, có sản phẩm xuất khẩu trong 5 năm, kèm theo dự án nghiên cứu, chuyển giao, làm chủ công nghệ sản xuất động cơ, hộp số…, Bộ Công Thương muốn được hưởng một loại chính sách ưu đãi và hỗ trợ.
Đó là được hưởng chính sách ưu đãi miễn tiền thuê đất, tiền sử dụng đất; hỗ trợ kinh phí chuyển giao công nghệ; hỗ trợ tín dụng đầu tư lãi suất thấp; hỗ trợ kinh phí đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao trong lĩnh vực thiết kế chế tạo...
Ngoài các nội dung nêu trên, Bộ Công Thương cũng đề nghị xây dựng chính sách ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp ô tô và công nghiệp hỗ trợ trở thành các tập đoàn công nghiệp có quy mô tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế ở mức cao, chủ động tham gia và đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới...
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại, và Việt Nam đã và đang bắt kịp xu thế đó.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Nghị quyết số 22/NQ-TW về hội nhập quốc tế khẳng định, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, nhất là từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Việc mở cửa nền kinh tế trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần không nhỏ để duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng năm của nền kinh tế Việt Nam.
Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế cùng với nỗ lực cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước đưa Việt Nam khẳng định được vị thế trên trường quốc tế và thu hút các nhà đầu tư.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, từng bước đưa Việt Nam khẳng định được vị thế trên trường quốc tế và trong mắt các nhà đầu tư.
Báo cáo Môi trường kinh doanh 2018 do Ngân hàng Thế giới công bố dự báo Việt Nam đứng thứ 68/190 nền kinh tế, tăng 14 bậc so với năm 2017 (82/190 nền kinh tế). Việt Nam cũng đã tích cực, chủ động tham gia các tổ chức kinh tế - tài chính và các hiệp định thương mại.
Theo thống kê của Trung tâm WTO (thuộc VCCI), tính đến nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 13 FTA (gồm 7 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN và 6 FTA ký kết với tư cách là một bên độc lập), và đang hiện đàm phán 3 FTA (gồm Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực - RCEP, FTA với Khối thương mại tự do Châu Âu - EFTA, FTA Việt Nam - Israel.
Việc Việt Nam ký kết các FTA song phương và đa phương đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận được thị trường khu vực và thị trường toàn cầu,cũng như được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi hơn. Bởi phần lớn các rào cản và điều kiện trong buôn bán đã được cam kết dỡ bỏ, chủ yếu là các hàng rào thuế quan (hầu hết về 0% hoặc dưới 5%) đã mang lại một lợi thế cạnh tranh lớn và một triển vọng tươi sáng cho nhiều ngành sản xuất hàng hóa trong nước.
Theo đánh giá của ông Trịnh Minh Anh, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế - Bộ Công Thương, hiện Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế ở mức rất cao. Đó là việc chủ động tham gia và đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới, gần đây nhất là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh chau Âu (EVFTA và EVIPA).
Đây là những FTA có tác động, ý nghĩa rất lớn, giúp thực hiện thành công chiến lược thị trường, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Cho đến nay đã có gần 100 quốc gia đã có FTA với Việt Nam, ông Trịnh Minh Anh nêu rõ.
Nhận định về độ mở của nền kinh tế Việt Nam, ông Trịnh Minh Anh cho biết, sau hơn 10 năm kể từ khi Việt Nam tham gia WTO, GDP của Việt Nam đã tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350%, độ mở của nền kinh tế liên tục tăng, năm ngoái tăng trên 200%.
"Điều này cho thấy Việt Nam là đất nước đã gắn bó sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mà đang trong tiến trình chỉ có tiến và tiến nhanh chứ không được đi chậm. Đây là cũng là minh chứng cho đường lối, chủ trương chính sách hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế", ông Trịnh Minh Anh nhấn mạnh.
Chia sẻ về thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế, ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên - Bộ Công Thương cho biết, FTA thực chất là thỏa thuận mở cửa thị trường với sự tham gia của ít nhất hai thành viên, và với mục đích cắt giảm hoặc loại bỏ hàng rào thuế quan, dịch vụ và đầu tư tạo thuận lợi cho thương mại. Vì vậy, trong những năm gần đây, thế giới chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của các FTA để thiết lập các Khu vực thương mại tự do. Nhằm phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực, Việt Nam cũng đàm phán và ký kết các FTA với các tổ chức quốc tế và khu vực.
Gia nhập ASEAN từ năm 1995, Việt Nam đã chính thức mở cửa hội nhập và bắt đầu tham gia các FTA. Tuy nhiên, ban đầu mới chỉ tham gia FTA với tư cách là thành viên khối ASEAN. Theo ông Lương Hoàng Thái, giai đoạn này chủ yếu Việt Nam tham gia là các FTA thế hệ cũ, tập trung biện pháp ở biên giới, ít đi sâu vào quy định trong khuôn khổ chính sách quốc gia. Đặc biệt, Việt Nam tham gia vào các FTA này đều ở góc độ bị động. Bởi tất cả quy định của ASEAN đều có sẵn, Việt Nam không được đàm phán bất kỳ quy định nào và lợi ích khi đó hầu như không có, bởi các đối tác trên đều là đối tượng cạnh tranh sát sườn.
Tuy nhiên, sau đó, Việt Nam đã bắt đầu chủ động hơn, chủ động lựa chọn đối tác tham gia và vươn ra các thị trường xa hơn. Hiệp định đầu tiên manh nha là FTA Việt Nam- Nhật Bản. Tiếp theo đó là FTA Việt Nam – Chile, … và gần đây là Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA, ông Lương Hoàng Thái thông tin thêm.
Nếu như trước đây, Việt Nam tham gia FTA ở thế bị động, thì đến nay, Việt Nam tham gia ở thế chủ động hơn, chủ động lựa chọn đối tác. Đặc biệt, Việt Nam có sự chuyển đổi về chất trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu, tham gia FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn cao hơn. Chính vì vậy, bà Cecilia Malmsrom - Cao ủy thương mại của EU, khi đến Việt Nam ký Hiệp định EVFTA vừa qua, đã chia sẻ rằng, Hiệp định EVFTA là hiệp định tham vọng nhất mà EU ký với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam./.
Ngày 3/9 tại cuộc họp giao ban thông tin báo chí do Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tổ chức, ông Nguyễn Trường Giang, Phó cục trưởng Cục Hải quan TP. Hà Nội đã thông tin về công tác hoạt động của Hải quan Hà Nội thời gian qua.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Báo cáo về kết quả công tác 8 tháng năm 2019, Phó Cục trưởng Cục Hải quan TP. Hà Nội cho biết, tính đến hết tháng 8/2019, Cục Hải quan TP. Hà Nội đã thu 14.866 tỷ đồng, bằng 69,14% dự toán (bằng 106% cùng kỳ năm 2018); khu vực Hà Nội thu 11.473 tỷ đồng, bằng 66% dự toán (bằng 110% cùng kỳ năm 2018).
Bên cạnh đó, Cục Hải quan TP. Hà Nội đấy mạnh công tác chống thất thu và thu hồi nợ thuế. Cục đã ban hành Quyết định số 524/QĐ-HQHN ngày 10/4/2019 về việc giao chỉ tiêu thu hồi và xử lý nợ thuế quá hạn. Kết quả đã thu hồi 32,22/47,6 tỷ đồng, bằng 67,6% chỉ tiêu.
Cục Hải quan TP. Hà Nội đã giao chỉ tiêu nhiệm vụ kiểm tra sau thông quan năm 2019 cho các Chi cục Hải quan, đến nay đã truy thu 403,47/130 tỷ đồng bằng 310,4% chỉ tiêu (bằng 214% cùng kỳ năm 2018).
Về kết quả đấu tranh chống gian lận thương mại, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, theo ông Giang, từ đầu năm 2019 đến nay, Cục Hải quan TP. Hà Nội đã phát hiện, xử lý 623 vụ buôn lậu, trong đó có 19 vụ về ma túy. Xử phạt 594 vụ vi phạm hành chính về hải quan với tổng số tiền phạt thu nộp ngân sách đạt 48,4 tỷ đồng. Đồng thời phát hiện, bắt giữ 141,13kg sừng tê giác; 16,581kg ngà voi.
Cũng theo Phó cục trưởng Cục Hải quan TP. Hà Nội, cơ quan này đã thực hiện 2 chuyên án là kiểm soát buôn lậu và vận chuyển trái phép sản phẩm động vật hoang dã và đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép xì gà thuộc địa bàn quản lý.
Kết quả, Cục Hải quan TP. Hà Nội đã phát hiện, bắt giữ 141,13kg sừng tê giác; 16,581kg ngà voi; 10.375 điếu xì gà các loại. Qua đó, khởi tố một đối tượng người Nam Phi vận chuyển 14,2kg sừng tê giác.
Được biết cơ quan này đã xây dựng kế hoạch đợt cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trước, trong, sau Tết Nguyên đán 2019; kế hoạch tuần tra kiểm soát năm 2019 và Kế hoạch kiểm tra, tự kiểm tra công tác xử lý vi phạm hành chính năm 2019; tuyên truyền hỗ trợ cung cấp thông tin cho người khai hải quan, người nộp thuế năm 2019.
Cùng với đó, Cục triển khai chiến dịch Praesidio về vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã qua biên giới của tổ chức hải quan thế giới.
Chỉ số VN-Index đã kết thúc tháng 8 với mức giảm nhẹ chưa đến 1% so với thời điểm cuối tháng 7, khi đóng cửa tại 984 điểm. Liệu nhà đầu tư sẽ chờ đợi gì ở tháng 9 này?
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thị trường đã trải qua tháng 7 âm lịch không quá nhiều biến cố như dự đoán, dù có lúc VN-Index rớt về mức thấp nhất tại vùng 955 điểm vào giữa tháng, nhưng sau đó đã bật mạnh trở lại và có lúc tiến gần ngưỡng 1.000 điểm trong phiên giao dịch ngày 23/8/2019, nhưng lại một lần nữa không thể chinh phục thành công ngưỡng tâm lý này.
Hiện tại, vẫn có một số dự báo lạc quan cho rằng VN-Index có thể sớm quay lại mốc 1.000 điểm trong tháng 9 này để có thiết lập lại đà tăng trong quý IV. Việc Chính phủ đẩy mạnh lộ trình thoái vốn các doanh nghiệp nhà nước trong những tháng còn lại của năm nay để kịp tiến độ đề ra có thể là chất xúc tác quan trọng, cũng như để tạo đà cho các thương vụ thoái vốn năm 2020 được thành công hơn.
Ngoài ra, việc xây dựng bộ chỉ số VN-Diamond, bao gồm các cổ phiếu không còn tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài, được kỳ vọng sẽ tháo gỡ một phần vấn đề giới hạn sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài, khi giúp nhóm này có thể chọn đầu tư vào chỉ số thay vì vào các cổ phiếu riêng lẻ đã hết room cho nhà đầu tư nước ngoài.
Cuộc họp về chính sách tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) vào ngày 19/9/2019 tới với đa số dự báo cho rằng FED sẽ tiếp tục giảm lãi suất thêm lần nữa trong năm nay cũng được đánh giá là yếu tố hỗ trợ cho đà đi lên của thị trường. Trong một báo cáo gần đây, Ngân hàng Morgan Stanley dự báo FED sẽ tiếp tục hạ lãi suất trong tháng 9 và tháng 10, trước khi có thêm 4 lần cắt giảm lãi suất nữa trong năm 2020, đưa lãi suất tham chiếu về ngưỡng 0%. Trước đó trong thời gian khủng hoảng tài chính toàn cầu, FED đã hạ lãi suất về mức thấp kỷ lục 0-0,25% và duy trì trong suốt 7 năm.
Dù vậy, thị trường vẫn đang chịu một số áp lực trong bối cảnh hiện nay. Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung vẫn đang ảnh hưởng rất lớn lên tâm lý các nhà đầu tư hiện nay. Từ đầu tháng 9 vừa qua, một số hạng mục trong hàng rào thuế quan mới được hai bên áp đặt đã bắt đầu có hiệu lực, trong khi các cuộc đàm phán vẫn chưa thấy được nối lại như kỳ vọng. Việt Nam dù được đánh giá có thể hưởng lợi nhưng vẫn lo ngại trở thành điểm trung chuyển cho hàng hóa Trung Quốc xuất sang Mỹ.
Đáng lưu ý là hàng rào thuế quan của Mỹ và Trung Quốc sẽ chưa dừng lại, khi lượng hàng hóa trị giá 250 tỷ USD của Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục bị Mỹ nâng thuế từ 25% lên 30% từ đầu tháng 10 tới. Có thể thấy câu chuyện chiến tranh thương mại sẽ tiếp tục là nỗi lo treo lơ lửng trên đầu nhà đầu tư, và được tận dụng để kéo thị trường chìm sâu vào bất kỳ thời điểm nào.
Câu chuyện tỷ giá và lãi suất cũng là gánh nặng đè lên thị trường thời gian gần đây. Trước việc đồng nhân dân tệ của Trung Quốc liên tiếp bị phá giá, tiền đồng cũng chịu những ảnh hưởng nhất định. Tỷ giá trung tâm USD/VND đã có tháng 8 điều chỉnh tăng mạnh theo diễn biến của USD và nhân dân tệ trên thị trường quốc tế, dù nguồn cung ngoại tệ tiếp tục được cải thiện và giá giao dịch trên thị trường phi chính thức không có nhiều biến động.
Ở câu chuyện lãi suất, một loạt các ngân hàng điều chỉnh tăng mạnh lãi suất tiền gửi cũng như phát hành các chứng chỉ tiền gửi với lãi suất khủng để thu hút khách hàng, đã gây bất ổn lên mặt bằng lãi suất hiện nay, khiến Ngân hàng Nhà nước phải vào cuộc cảnh báo cuộc đua lãi suất này. Lãi suất huy động gia tăng tất yếu sẽ gây áp lực lên lãi suất cho vay, và yếu tố vĩ mô này luôn tác động tiêu cực đến các kênh đầu tư như thị trường chứng khoán.
Trước những yếu tố trái chiều như trên, VN-Index có thể sẽ tiếp tục trải qua sự giằng co và khó có cơ hội đi lên bền vững trong ngắn hạn. Vì vậy, nhiều nhà đầu tư có thể sẽ tiếp tục lựa chọn chiến lược lướt sóng và chốt lời nhanh, nhất là khi thị trường đang cho thấy dòng tiền đang luân phiên dịch chuyển giữa các nhóm ngành rất nhanh.
Tính đến tháng 8/2019, giá trị vốn hóa thị trường UPCoM đạt mốc hơn 1 triệu tỷ đồng, tăng xấp xỉ 2,1% so với tháng trước.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thống kê đến hết tháng 8/2019 cho thấy, tổng số doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên thị trường UPCoM là 850 doanh nghiệp với tổng khối lượng đăng ký giao dịch đạt hơn 39,6 tỷ cổ phiếu, tương ứng giá trị đăng ký giao dịch hơn 396,6 nghìn tỷ đồng.
Trong tháng 8, thị trường diễn biến theo chiều hướng tăng giảm đan xen. Chỉ số UPCoM-Index đạt mức 57,90 điểm tại thời điểm đóng cửa phiên giao dịch cuối tháng 8, giảm 1,68% so với thời điểm cuối tháng trước.
Với những diễn biến này, giá trị vốn hóa thị trường UPCoM phiên giao dịch cuối tháng 8 đạt hơn 1 triệu tỷ đồng, tăng xấp xỉ 2,1% so với tháng trước.
Toàn thị trường có gần 427 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng, tương ứng với giá trị giao dịch đạt gần 10,8 nghìn tỷ đồng. Tính bình quân, khối lượng giao dịch đạt 19,4 triệu cổ phiếu/phiên (tăng 17,51% so với tháng trước), giá trị giao dịch đạt hơn 489,6 tỷ đồng/phiên (tăng 46,8% so với tháng trước).
Thống kê của HNX cũng cho thấy, tháng 8/2019, trên thị trường UPCoM chỉ có 3 doanh nghiệp đăng ký giao dịch cổ phiếu mới là CTCP Thuốc Thú y Trung ương VETVACO, CTCP TIE và Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Cà Mau; đồng thời có 2 doanh nghiệp hủy đăng ký giao dịch là CTCP Tin học Viễn thông Petrolimex và CTCP Dược phẩm Cần Giờ.
Bảng 1: 5 cổ phiếu được giao dịch nhiều nhất trong tháng 8/2019
|
STT |
MCK |
Khối lượng giao dịch (CP) |
|
1 |
GVR |
35.804.318 |
|
2 |
BSR |
33.055.417 |
|
3 |
VIB |
22.591.381 |
|
4 |
GEG |
22.148.806 |
|
5 |
VGI |
20.785.636 |
Tháng này, nhà đầu tư nước ngoài giao dịch tổng cộng 426 triệu cổ phiếu, tương ứng 10,8 nghìn tỷ đồng, trong đó giá trị mua vào đạt hơn 777 tỷ đồng, giá trị bán ra đạt hơn 583 tỷ đồng. Tính chung cả tháng, nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng xấp xỉ 194 tỷ đồng trên thị trường UPCoM.
Bảng 2: 5 cổ phiếu được nhà đầu tư nước ngoài mua nhiều nhất
|
STT |
MCK |
Khối lượng giao dịch (CP) |
|
1 |
QNS |
4.631.923 |
|
2 |
VEA |
4.244.650 |
|
3 |
LPB |
1.786.400 |
|
4 |
BSR |
1.669.900 |
|
5 |
ACV |
1.276.008 |
Bảng 3: 5 cổ phiếu nhà đầu tư nước ngoài bán nhiều nhất
|
STT |
MCK |
Khối lượng giao dịch (CP) |
|
1 |
VEA |
3.311.432 |
|
2 |
BSR |
2.189.810 |
|
3 |
BCM |
1.167.400 |
|
4 |
ACV |
1.160.393 |
|
5 |
VTP |
816.663 |
Tình trạng phát hành trái phiếu ồ ạt với lãi suất cao, đặc biệt là các doanh nghiệp bất động sản khiến câu chuyện bảo vệ nhà đầu tư trước những rủi ro tiềm ẩn của sản phẩm tài chính mới này được đẩy lên cao trào.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam hình thành từ những năm 1990 và lúc đầu chỉ có trái phiếu của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, những năm vừa qua, đặc biệt là thời gian gần đây, các DN đã đẩy mạnh huy động vốn thông qua kênh phát hành trái phiếu.
Để giảm thiểu rủi ro của trái phiếu có rất nhiều cách, nhưng quan trọng nhất vẫn là cần có một chế tài, đồng thời giám sát tuân thủ đối với nhà phát hành và tổ chức bảo lãnh.
Nguồn cơn của sự quan ngại
Thực tế, việc bùng nổ các đợt phát hành TPDN vừa qua chứng tỏ nhu cầu của nhà đầu tư đối với sản phẩm tài chính này cũng khá lớn. Nhu cầu phát hành là của các ngân hàng thương mại và DN, trong khi nhu cầu đầu tư bao gồm chính các ngân hàng, các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, thậm chí là các nhà đầu tư cá nhân.
Việc đầu tư vào loại hình trái phiếu nào là do “khẩu vị” của mỗi nhà đầu tư, nhưng trái phiếu của các DN bất động sản (BĐS) thường có mức lợi suất cao hơn nên thu hút được sự quan tâm của hầu hết các nhà đầu tư.
Thậm chí, một số DN địa ốc còn tung ra chiêu mới: thay vì nộp tiền mua căn hộ, đất nền thì khách hàng sẽ mua trái phiếu của DN với các kỳ hạn khác nhau từ 6 tháng trở lên, đến thời điểm trái phiếu đáo hạn, nếu thủ tục pháp lý của dự án căn hộ vẫn chưa hoàn tất, người mua trái phiếu được nhận lại tiền gốc cộng lãi.
Trong tất cả các thành phần nhà đầu tư, nhu cầu từ phía các ngân hàng là rất lớn, bởi theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong những tháng đầu năm 2019, số dư đầu tư trái phiếu của một số ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và đang tăng nhanh.
Theo đó, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng không được mua TPDN để cơ cấu lại các khoản nợ của DN hay còn gọi cách khác là đảo nợ, kiểm soát việc đầu tư TPDN vào các chương trình, dự án BĐS…
Sở dĩ sự quan ngại này hoàn toàn có cơ sở vì trái phiếu thường không có tài sản thế chấp, hoặc có cũng là hình thành trong tương lai và không được xếp hạng tín nhiệm.
Khi phát hành trái phiếu thành công, đối tượng được hưởng lợi đầu tiên là DN, đơn vị tư vấn hoặc phân phối chứ không phải là các nhà đầu tư. Nhà đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào các thông tin được DN phát hành trái phiếu công bố, mà các thông tin này thường không được rõ ràng và đầy đủ, “đẹp khoe, xấu che” không ít trường hợp còn là những thông tin mang tính chất lừa gạt. Do đó, nếu có vấn đề xảy ra với DN như phá sản, trái chủ gần như sẽ “mất trắng” khoản đầu tư nếu không kịp “thoát hàng”.
Chưa kể, việc các DN phát hành trái phiếu với lãi suất quá cao sẽ khiến cho áp lực trả lãi và gánh nặng tài chính gia tăng, gây bất ổn đến tính bền vững và sự ổn định của nền kinh tế.
Cần có chế tài
Các chuyên gia kinh tế đều đánh giá thị trường trái phiếu của Việt Nam hiện nay chưa phát triển và đây là một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế, nên cần khuyến khích. Tuy nhiên, phát triển thế nào cho đúng đường lối lại là một chuyện khác.
Nhiều ý kiến cho rằng để người dân yên tâm hơn khi mua TPDN, trước hết phải xếp hạng tín nhiệm đơn vị phát hành, công khai, minh bạch – điều mà hệ thống đánh giá tín nhiệm DN ở Việt Nam hiện nay chưa có.
Theo đó, để đảm bảo chất lượng dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, tạo điều kiện cho thị trường vốn, thị trường trái phiếu phát triển biền vững, bảo vệ nhà đầu tư, đến năm 2030 sẽ cấp phép tối đa cho 5 DN xếp hạng tín nhiệm trong nước.
Tuy nhiên, đó là câu chuyện của dài hạn, còn trước mắt sẽ ra sao? Nghị định 163 quy định trái phiếu riêng lẻ bị hạn chế giao dịch trong vòng một năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành trong phạm vi dưới 100 nhà đầu tư (không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp) là một cách cảnh báo cho các nhà đầu tư.
Hay chính bản thân các nhà đầu tư cũng hoàn toàn có thể bảo vệ được mình nếu trước khi “xuống tiền” cẩn thận đánh giá năng lực tài chính, khả năng trả nợ của nhà phát hành. Nhà đầu tư phải hiểu được nguyên tắc huy động vốn thông qua TPDN là tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm.
Ngoài xếp hạng tín nhiệm, việc buộc các nhà phát hành trái phiếu phải minh bạch hóa thông tin, các DN cần được kiểm toán cũng là một phương án để giảm thiểu rủi ro, tránh những xáo trộn trên thị trường TPDN.
Thế nhưng, đã gọi là đầu tư thì sản phẩm nào cho lợi suất tốt hơn luôn được ưu ái lựa chọn và có cảnh báo đến đâu, yêu cầu thế nào thì cũng chỉ là những biện pháp tạm thời.
Do đó, thay vì cảnh báo, các cơ quan chức năng cần đưa ra những văn bản quy định rõ ràng, hay nói cách khác là một chế tài nặng nhấn mạnh vào tính minh bạch đối với các tổ chức phát hành, đơn vị tư vấn. Đồng thời là công tác giám sát tuân thủ, phát hiện, ngăn chặn kịp thời và triệt để các rủi ro phát sinh.
Được biết, tại dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi đã bổ sung thêm điều kiện gắn phát hành TPDN ra công chúng với xếp hạng tín nhiệm. Sau khi định hình khung pháp lý, Bộ Tài chính sẽ nỗ lực thúc đẩy sự ra đời của công ty định mức tín nhiệm.
Bước qua 8 tháng đầu năm 2019, giới quan sát đã đặt ra e ngại trước bức tranh chững lại của thị trường bất động sản khi khó khăn đang chồng chất. Tuy nhiên, nhiều dự báo vẫn cho rằng, cuối năm 2019, thị trường bất động sản sẽ vẫn có diễn biến đầy lạc quan.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Sự chững lại của thị trường bất động sản
Ngay từ thời điểm đầu năm, thị trường bất động sản 2019 đã được dự báo sẽ là một năm nhiều thách thức. Thông tư 36 về siết tín dụng của Ngân hàng Nhà nước đã trở thành trở ngại lớn đầu tiên cho thị trường khi vốn chảy vào lĩnh vực này sẽ trở nên chặt chẽ và khắt khe hơn.
Ngay sau sự phát triển nóng năm 2018, thị trường bất động sản đã phải đối mặt với cuộc rà soát mạnh mẽ từ phía cơ quan quản lý Nhà nước. Điển hình của cuộc rà soát trên diện rộng các dự án ở TP. Hồ Chí Minh khiến 7 dự án của Novaland bị “đóng băng” vào tháng 1/2019. Dù đã có lệnh hủy “đóng băng” song doanh nghiệp địa ốc này đã bị bốc hơi 7.000 tỷ đồng. Không chỉ có Novaland mà rất nhiều doanh nghiệp địa ốc khác chịu ảnh hưởng từ cuộc rà soát của chính quyền địa phương. Nhiều dự án bị dừng lại tiến độ thi công vì vướng thủ tục đăng ký, trong khi đó có dự án đã vào bàn giao cũng buộc phải tạm hoãn. Các dự án cấp phép mới trở nên “nhỏ giọt” khiến số lượng cung sản phẩm chào hàng giảm gấp 3 - 4 lần so với năm 2018.
Sự cộng hưởng của chính sách siết chặt tín dụng và rà soát pháp lý trên diện rộng của chính quyền địa phương được đánh giá là 2 khó khăn chính tác động lớn đến thị trường bất động sản. Để rồi, trải qua hơn 2 quý, thị trường có giá trị vốn hóa cao nhất đang được đánh giá là bị chững lại khi nguồn cung ra hàng dự án mới hiếm hoi, tính thanh khoản của các sản phẩm bất động sản đang sụt giảm nghiêm trọng.
Thị trường bất động sản đang được nhận định bởi hai luồng quan điểm khác nhau. Thứ nhất, nhiều ý kiến cho rằng, với việc hạn chế nguồn cung ra thị trường, thì dự báo trong thời gian tới, cung sản phẩm sụt giảm, đẩy tình trạng gom hàng và đầu cơ gia tăng. Khi hàng hóa khan hiếm trên thị trường, giá bất động sản tăng thì thị trường có thể đối mặt với tình trạng bong bóng.
Trong khi đó, luồng quan điểm còn lại cho rằng, thị trường bất động sản đang được đánh giá là mất cân đối, khi có phân khúc đang dư thừa nguồn cung và có phân khúc đang thiếu hụt trầm trọng. Đáng lo ngại đó là nhu cầu về nhà ở thực đã sụt giảm sẽ có thể đẩy thị trường vào tình trạng khó khăn chồng khó khăn.
Khách quan thấy rằng, dù ở hướng nhận định nào, thị trường bất động sản vẫn đang ở trong tình trạng đáng quan ngại khi diễn biến ở thời điểm hiện tại còn nhiều gam màu xám. Nhất là hiện tại, lãi suất cho vay bất động sản đang có chiều hướng gia tăng.
TP. Hồ Chí Minh đã chính thức yêu cầu rà soát các giao dịch đáng ngờ trong mua bán bất động sản để thực hiện phòng chống rửa tiền theo chỉ đạo của Bộ Xây dựng.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thực hiện mục tiêu phòng chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh vừa có công văn yêu cầu các doanh nghiệp, môi giới bất động sản, sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn thực hiện quy định nội bộ về phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố theo quy định pháp luật.
Khó khả thi
Theo công văn của Sở Xây dựng, các sàn giao dịch bất động sản cần thực hiện các quy định về nhận biết khách hàng, cập nhật thông tin khách hàng, rà soát các giao dịch, áp dụng biện pháp tăng cường đối với khách hàng có rủi ro cao.
Sở cũng đề nghị các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đánh giá rủi ro tiền, tài trợ khủng bố tại chính tổ chức mình về các giao dịch bất động sản. Đồng thời, đối với các giao dịch giao dịch tiền mặt có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên cần lập và gửi báo cáo về Cục Quản lý nhà và thị trường Bất động sản (Bộ Xây dựng), Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước).
Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, ông Đinh Duy Trinh - Tổng giám đốc Công ty VNG Real thừa nhận hiện nay người dân khi đi mua nhà đất thường thanh toán theo 2 hình thức: Tiền mặt hoặc chuyển khoản qua ngân hàng. Đa số, người dân vẫn muốn trực tiếp đến công ty nộp lấy chứng từ, hóa đơn cho yên tâm, sau này có vấn đề gì còn làm bằng chứng khởi kiện nên tỷ lệ giao dịch tiền mặt chiếm chủ yếu.
“Quy định này khá chung chung, không có chế tài đủ mạnh cũng như không có hậu kiểm nên các sàn có thể không tuân thủ cũng như đưa ra các báo cáo không đầy đủ và trung thực. Do đó, việc yêu cầu báo cáo các giao dịch từ 300 triệu đồng trở lên rất khó kiểm soát” – ông Trinh chia sẻ.
Ông Nguyễn Văn Đính - Phó Chủ tịch Hội Môi giới bất động sản Việt Nam cho rằng, việc thực hiện công tác phòng chống rửa tiền là quy định bắt buộc đối với các doanh nghiệp bất động sản. Đặc biệt cần trang bị đầy đủ kiến thức về lĩnh vực này cho cho các nhà môi giới. Các môi giới phải có trách nghiệm báo cáo các trường hợp giao dịch nghi là có hành vi này.
Song theo ông Đính, hiện các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều chế tài đối với các hoạt động của những người làm dịch vụ, môi giới bất động sản chưa tuân thủ quy định pháp luật, trong đó có quy định chống rửa tiền, nhưng việc thực hiện của các doanh nghiệp như thế nào lại là chuyện khác.
“Trong hoạt động của các doanh nghiệp, các đơn vị sàn giao dịch bất động sản hiện nay, hàng tháng họ cần phải làm là báo cáo với Sở Xây dựng về việc họ bán sản phẩm gì, bán bao nhiêu họ còn chưa làm, chưa tuân thủ nghiêm túc. Cho nên thực hiện công tác báo cáo về công tác phòng chống rửa tiền - nhiệm vụ mà có khi an ninh còn chưa phát hiện ra, thì đối với các doanh nghiệp bất động sản là rất khó” – Ông Đính lấy ví dụ.
Cơ chế giám sát chưa chặt chẽ
Theo các chuyên gia, không thể phủ nhận nguy cơ rửa tiền trong lĩnh vực bất động sản là rất lớn, tuy nhiên quy định này sẽ rất khó thực hiện do các giao dịch mua bán, chuyển nhượng bất động sản rất khó kiểm tra, xác định nguồn gốc của tiền.
Ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh dẫn chứng, từ năm 2009 Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định phòng chống rửa tiền, với mức từ 200 triệu đồng và các giao dịch có dấu hiệu đáng ngờ. Ngoài bất động sản còn có chứng khoán và ngân hàng cũng bị áp dụng quy định này.
“Hiện nay Luật Kinh doanh Bất động sản không quy định giao dịch bất động sản phải qua sàn và người mua cũng có thể mua trực tiếp từ chủ đầu tư. Do vậy, số lượng giao dịch qua sàn không nhiều nên báo cáo cũng không phản ánh được hết thực tế giao dịch trên thị trường. Nếu muốn kiểm soát rửa tiền thì cần phải quy định tất cả giao dịch bất động sản phải qua ngân hàng. Đồng thời cả tài chính, thuế vào cuộc mới giải quyết được vấn đề” – Ông Châu phân tích.
Đồng quan điểm trên, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân cho biết, ở nước ta, nhiều đối tượng lợi dụng đầu tư bất động sản để để rửa tiền “bẩn” từ các hoạt động tội phạm. Thế nhưng, các giao dịch mua bán tài sản có giá trị lớn như bất động sản vẫn được thực hiện bằng tiền mặt, cơ chế giám sát còn chưa chặt chẽ dẫn đến tạo điều kiện cho các hoạt động này phát triển.
Ông Hiếu cho rằng, để phòng chống và ngăn ngừa nguy cơ rửa tiền, quy định pháp luật nên bắt buộc các giao dịch bất động sản, giao dịch mua bán giá trị lớn phải thông qua ngân hàng, hạn chế giao dịch bằng tiền mặt.
"Với cách làm này, khi tiền đã qua ngân hàng, các ngân hàng sẽ có trách nhiệm xác minh nguồn tiền và báo cáo lên các cơ quan chức năng khi có sai phạm" - ông Hiếu cho biết.
Bộ Tài chính vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ 8 tháng năm 2019. Báo cáo cho thấy, ước thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN 8 tháng là hơn 161.286 tỷ đồng, đạt 37,92% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 41.39% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, kết quả giải ngân vốn đầu tư công 8 tháng năm 2019 thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018 (cùng kỳ năm 2018, giải ngân 8 tháng đạt 44,24% kế hoạch Quốc hội giao và 45,57% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao). Trong đó, Bộ Quốc phòng, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tập đoàn Điện lực, Ngân hàng Chính sách Xã hội, Hội Nhà văn, tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Phú Yên là những Bộ, ngành, địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên 70%. Bên cạnh đó vẫn còn 29 Bộ, ngành và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 40% như: Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế, Ngân hàng Nhà nước, tỉnh Cao Bằng, Yên Bái, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh…
Ngày 19/8 vừa qua, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ văn bản số 9633/BTC-BTC trong đó chỉ rõ một số nguyên nhân chính dẫn tới việc chậm giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công tại các Bộ, ngành, địa phương. Cụ thể, qua kiểm tra thực tế tại một số Bộ và địa phương, Bộ Tài chính nhận thấy một số chủ đầu tư chưa lường trước được các yếu tố tác động nên xây dựng kế hoạch vốn chưa sát với khả năng thực hiện của các dự án, dẫn đến nhiều dự án được giao kế hoạch vốn lớn hơn nhiều so với khả năng thực hiện. Vì vậy kết thúc năm dự án không giải ngân hết kế hoạch được giao, phải cắt giảm hoặc chuyển nguồn sang năm sau; Một số dự án không có khả năng thực hiện vẫn được đăng ký và giao kế hoạch vốn nên không thể giải ngân; Công tác phân bổ kế hoạch vốn còn chậm, giao nhiều lần chưa phù hợp với yêu cầu tiến độ các dự án; Việc điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các dự án còn chưa kịp thời gây khó khăn cho công tác giải ngân…
Bên cạnh đó giải ngân vốn đầu tư công chậm còn do các vướng mắc liên quan đến giai đoạn triển khai và thực hiện kế hoạch. Trong văn bản số 9633/BTC-BTC, Bộ Tài chính đã chỉ ra một số chủ đầu tư chưa chú trọng đến công tác lựa chọn tư vấn lập hồ sơ cũng như công tác rà soát, kiểm tra hồ sơ, dẫn đến chất lượng hồ sơ có nhiều nội dung phải sửa đổi, hiệu chỉnh… Điều này làm kéo dài thời gian thẩm định, trình phê duyệt và triển khai thủ tục tiếp theo. Nhiều dự án chưa có kế hoạch chuẩn bị trước nên khi triển khai thực hiện còn vướng về quy hoạch, đền bù, giải tỏa dẫn đến kéo dài thời gian lập dự án.
Vướng mắc trong công tác đấu thầu cũng là nguyên nhân gây chậm giải ngân vốn đầu tư công. Hiện nay để có đủ thủ tục có thể giải ngân được vốn cho một dự án khởi công mới phải mất khoảng 04 đến 06 tháng mới có thể ký kết hợp đồng và khởi công xây dựng. Do vậy, các dự án, gói thầu mới thường chưa có khối lượng thực hiện trong nửa đầu năm kế hoạch, gây ảnh hưởng tới tiến độ triển khai kế hoạch vốn trong năm. Ngoài ra, một “nút thắt” lớn đối với việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư công phải nhắc tới là các vướng mắc, tồn tại trong công tác giải phóng mặt bằng. Ở các tỉnh, thành phố, công tác giải phóng mặt bằng đều gặp nhiều khó khăn và chậm do các vấn đề liên quan tới việc xác định giá đền bù.
Để đốc thúc các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, Bộ Tài chính đã đề nghị các Bộ, ngành, địa phương thực hiên nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công điện số 1042/CĐ-TTg ngày 21/8/2019. Theo công điện này, Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương lập danh mục dự án trọng điểm, phân công lãnh đạo theo dõi đôn đốc quyết liệt. Chỉ đạo chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, đấu thầu; hoàn thiện thủ tục thanh toán; xử lý nghiêm các nhà thầu vi phạm tiến độ, chất lượng xây dựng công trình…
Công điện của Thủ tướng cũng nêu rõ, bộ trưởng các bộ, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và thủ trưởng các đơn vị sử dụng vốn đầu tư công chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm các nhiệm vụ tại Công điện này. Kiểm điểm rõ trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm, cản trở, gây chậm trễ trong triển khai thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.
Đặc biệt, Công điện đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chuẩn bị các nội dung cần thiết để ngay trong nửa cuối tháng 9 năm 2019 tổ chức Hội nghị trực tuyến cả nước về các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2019 do Thủ tướng Chính phủ chủ trì với các bộ, cơ quan và địa phương.
Tình hình tháng 8 và 8 tháng năm 2019, Chính phủ thống nhất đánh giá tình hình có chuyển biến tích cực. Dự kiến cả 12 chỉ tiêu của năm 2019 đều đạt và vượt.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Page 13 of 17