Rất ít khả năng Việt Nam bị Mỹ đưa vào danh sách quốc gia thao túng tiền tệ nên có thể xem xét giảm giá VND thêm để hỗ trợ xuất khẩu. Từ khía cạnh khác, việc giảm giá VND chưa hẳn đã hỗ trợ tốt cho xuất khẩu, trong khi ổn định tỷ giá để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô là điều nên làm. Đây là hai quan điểm trái chiều về tỷ giá hiện nay.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Có thể vào danh sách thao túng tiền tệ?
Sau khi Mỹ quy kết Trung Quốc thao túng tiền tệ ngày 5/8, đã có ý kiến lo ngại Việt Nam có khả năng bị chuyển từ danh sách theo dõi sang danh sách chính thức về việc này. Thuật ngữ “quốc gia thao túng tiền tệ" được Bộ Tài chính Mỹ định nghĩa là một quốc gia cố ý điều chỉnh tỷ giá để tác động đến cán cân thanh toán hoặc đạt được lợi thế cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế.
Theo tiêu chí quy định đã được điều chỉnh của Mỹ, một đối tác thương mại bị coi là thao túng tiền tệ nếu thặng dư thương mại ít nhất 20 tỷ USD với Mỹ, thặng dư tài khoản vãng lai tương đương ít nhất 2% GDP và thị trường ngoại hối luôn chịu sự chi phối một chiều.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng BIDV, cho rằng, hiện tại, Việt Nam không bị Mỹ "gắn mác" thao túng tiền tệ song đã ở trong danh sách 21 nước thuộc diện theo dõi và cũng là quốc gia có khả năng bị chuyển sang nhóm các nước thao túng tiền tệ do Việt Nam đã chạm hai ngưỡng là cán cân thương mại với Mỹ thặng dư trên 20 tỷ USD và thặng dư tài khoản vãng lai trên 2% GDP. Đây là rủi ro đối với Việt Nam trong những lần rà soát tiếp theo của Bộ Tài chính Mỹ (mà gần nhất là tháng 9/2019).
Trong khi đó, ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia ngân hàng cho rằng: “Ít có khả năng Việt Nam bị đưa vào danh sách thao túng tiền tệ. Trước hết, quy mô xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ là tương đối thấp so với nhiều quốc gia khác. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện chính sách tỷ giá thận trọng trong thời gian qua, bằng chứng là tỷ giá USD/VND biến động không đáng kể từ đầu năm đến nay”.
Mặt khác, theo vị chuyên gia này, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung do Mỹ “châm ngòi” không đơn thuần về khía cạnh ngoại thương mà nhiều khả năng là định hướng chính trị của Tổng thống Donald Trump trước thềm cuộc tranh cử năm nay. Trong khi đó, điều này không xảy ra với Việt Nam. “Dù vậy, phải rất cẩn thận với việc hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và gian lận xuất xứ để tìm đường sang Mỹ. Nếu việc này xảy ra nhiều thì có nguy cơ Mỹ quay trở lại trừng
Từ lập luận nêu trên, ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, cần giảm giá VND hơn nữa để giảm áp lực với giá cả hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi các đồng tiền khác trên thế giới có xu hướng giảm giá.
Còn theo TS. Đặng Đức Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), chưa có đánh giá cụ thể cho thấy việc giảm giá VND sẽ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Bởi lẽ, VND giảm giá thì giá bán hàng xuất khẩu có thể giảm, nhưng chúng ta nhập khẩu nhiều nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu nên nếu giá thành rẻ mà không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu thì cũng không hẳn là có lợi. Trong khi đó, ổn định kinh tế vĩ mô và đề phòng khả năng Mỹ quy kết vào danh sách thao túng tiền tệ là điều cần ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.
Cùng quan điểm này, TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị, Việt Nam cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý; cần thực hiện linh hoạt và cần giải trình với Mỹ việc điều hành tỷ giá trong thời gian qua là phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế cũng như đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không lành mạnh.
Đặc biệt, Việt Nam cần hết sức bình tĩnh, không để bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh tiền tệ nếu có và không nên phá giá đồng tiền vì điều chỉnh tỷ giá liên quan đến nhiều mặt của nền kinh tế (không chỉ liên quan đến xuất khẩu, mà còn nhập khẩu, nợ nước ngoài, áp lực lạm phát…) và có thể tăng rủi ro bị Mỹ “gắn mác” thao túng tiền tệ.
Thay vào đó, Việt Nam cần kiên định chính sách tỷ giá chủ động, linh hoạt, tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối, kết hợp với truyền thông một cách hiệu quả nhằm kiểm soát yếu tố tâm lý, rủi ro lan truyền.
phạt Việt Nam. Đây là vấn đề đáng quan ngại hơn là tỷ giá USD/VND”, ông Hiếu nói.
Lợi và hại từ việc giảm giá VND
Từ lập luận nêu trên, ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, cần giảm giá VND hơn nữa để giảm áp lực với giá cả hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi các đồng tiền khác trên thế giới có xu hướng giảm giá.
Còn theo TS. Đặng Đức Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), chưa có đánh giá cụ thể cho thấy việc giảm giá VND sẽ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Bởi lẽ, VND giảm giá thì giá bán hàng xuất khẩu có thể giảm, nhưng chúng ta nhập khẩu nhiều nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu nên nếu giá thành rẻ mà không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu thì cũng không hẳn là có lợi. Trong khi đó, ổn định kinh tế vĩ mô và đề phòng khả năng Mỹ quy kết vào danh sách thao túng tiền tệ là điều cần ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.
Cùng quan điểm này, TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị, Việt Nam cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý; cần thực hiện linh hoạt và cần giải trình với Mỹ việc điều hành tỷ giá trong thời gian qua là phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế cũng như đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không lành mạnh.
Đặc biệt, Việt Nam cần hết sức bình tĩnh, không để bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh tiền tệ nếu có và không nên phá giá đồng tiền vì điều chỉnh tỷ giá liên quan đến nhiều mặt của nền kinh tế (không chỉ liên quan đến xuất khẩu, mà còn nhập khẩu, nợ nước ngoài, áp lực lạm phát…) và có thể tăng rủi ro bị Mỹ “gắn mác” thao túng tiền tệ.
Thay vào đó, Việt Nam cần kiên định chính sách tỷ giá chủ động, linh hoạt, tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối, kết hợp với truyền thông một cách hiệu quả nhằm kiểm soát yếu tố tâm lý, rủi ro lan truyền.
Nguyên nhân dẫn đến giải ngân vốn đầu tư công chậm chủ yếu là do một số bộ, ngành, địa phương chưa chủ động, tích cực trong chỉ đạo triển khai...
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Tiền đã vay được nhưng không tiêu được
Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu, trong 7 tháng qua, cả nước giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công ước đạt 134.494 tỷ đồng, đạt 31,32% so với kế hoạch Quốc hội giao, thấp nhất trong cùng kỳ những năm gần đây.
Trong đó, tỉ lệ giải ngân vốn trong nước cũng thấp, chỉ đạt 35% kế hoạch Quốc hội giao. Đặt biệt, tỉ lệ giải ngân vốn vay từ nước ngoài rất thấp, chỉ đạt 8,6% kế hoạch của năm.
Thứ trưởng Trần Văn Hiếu chỉ rõ: Nguyên nhân chủ yếu là do một số bộ, ngành, địa phương chưa chủ động, tích cực trong chỉ đạo triển khai và một phần do các dự án, gói thầu mới cần được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về đấu thầu, xây dựng, đất đai...
Tại cuộc họp với một số bộ, ngành và lãnh đạo hai thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để đốc thúc tình hình, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, vốn đang rất chậm trong thời gian qua, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã phê bình Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) chậm trễ trong tổng hợp, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ giao vốn đầu tư công, đồng thời không báo cáo cụ thể các nguyên nhân chậm giao vốn và giải pháp khắc phục.
"Kiểm toán Nhà nước có kết luận không bố trí được 2.400 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các vùng từ tháng 9 năm ngoái mà tới nay Bộ KH&ĐT chưa trình, sửa được Quyết định số 1256 của Thủ tướng. Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ của Bộ phải chịu trách nhiệm về việc này”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chỉ rõ.
Ngoài ra, với việc giao vốn chậm cho các địa phương, bộ ngành hay doanh nghiệp Nhà nước thực hiện các dự án khác, ông Vương Đình Huệ cũng nêu rõ trách nhiệm của lãnh đạo Bộ KH&ĐT và Vụ trưởng của các Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân, Vụ Kinh tế đối ngoại trong đốc thúc, thẩm định và tổng hợp các dự án.
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ giao Văn phòng Chính phủ chủ trì soạn thảo Công điện của Thủ tướng Chính phủ về đốc thúc đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và cho biết ngày 15/9 tới, Chính phủ sẽ họp trực tuyến toàn quốc về vấn đề này.
Theo đánh giá của TS. Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, điểm nghẽn trong đầu tư công đã dẫn tới nghịch lý là tiền đã vay được nhưng không tiêu được, cho dù nhu cầu đầu tư của đất nước rất lớn, cơ sở hạ tầng còn hết sức hạn chế, cắt khúc và đã trở thành những nút thắt, rào cản cho sự phát triển kinh tế.
Việc có tiền, có kế hoạch nhưng không thực hiện được hoặc làm chậm, đã tăng thêm khó khăn cho nền kinh tế. Thực tế này đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương cần tích cực chỉ đạo quyết liệt các chủ đầu tư khẩn trương xử lý dứt điểm những dự án còn nhiều vướng mắc; chủ động phối hợp các cấp, các ngành liên quan xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình giải ngân vốn, TS. Nguyễn Đức Kiên nêu ý kiến.
Cần "chấm điểm" dự án
Về vấn đề này, PGS. TS. Hoàng Văn Cường - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nêu quan điểm: Trong Luật Đầu tư công có nguyên tắc những dự án như thế nào sẽ được ưu tiên lựa chọn đưa vào kế hoạch hàng năm để phân bổ. Thí dụ, những dự án nào là trọng điểm quốc gia; những dự án thuộc về chương trình mục tiêu hoặc những dự án thuộc giai đoạn có chính sách ưu tiên như phát triển dân tộc, phát triển xóa đói giảm nghèo… thì sẽ theo nguyên tắc ưu tiên.
Như vậy, ông Cường cho rằng, dựa vào nguyên tắc đó để lựa chọn dự án được ưu tiên trước để đưa vào danh mục đầu tư hàng năm. "Tuy nhiên, hiện nay nếu chúng ta chỉ dừng lại ở cách phân loại như thế thì vẫn chưa được cụ thể bởi khi ở cùng hạng mục như vậy có rất nhiều dự án cùng được ưu tiên", TS. Hoàng Văn Cường nêu rõ.
Theo ông Cường, câu chuyện ở đây là chưa có những định lượng để phân loại dự án này quan trọng hơn dự án kia, hay ngược lại; đó chính là tiêu chí để đo lường, phân loại các dự án quan trọng hơn và xếp thứ tự ưu tiên.
"Thông thường, khi có tiêu chí định lượng, chúng ta sẽ dùng tiêu chí đó để cho điểm, dự án nào điểm cao đương nhiên sẽ được chọn trước và ngược lại dự án điểm thấp sẽ chọn sau. Như vậy, nếu chúng ta có tiêu chí định lượng sau đó cho điểm theo tiêu chí thì các đơn vị trình dự án sẽ biết ngay dự án của mình có được ưu tiên hay không và có được đưa vào kế hoạch đầu tư hay không hoặc nếu muốn được đưa vào, dự án sẽ phải thay đổi những gì để điểm được nâng cao lên", TS. Hoàng Văn Cường nói.
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu Bộ KH&ĐT trình Thủ tướng Chính phủ phân bổ hết 35.000 tỷ đồng vốn chưa giao trong tháng 8 này; trước 30/9/2019 trình Thủ tướng Chính phủ việc huỷ kế hoạch giao vốn với các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư dự án “không chịu” giải ngân; trước 10/10/2019 báo cáo Thủ tướng việc điều chỉnh kế hoạch giải ngân vốn từ dự án chậm tiến độ sang dự án đang cần vốn và có tiến độ giải ngân cao, từ các bộ, ngành và địa phương có tỉ lệ giải ngân thấp sang các bộ, ngành có nhu cầu bổ sung vốn và tỉ lệ giải ngân cao; rà soát, tính toán kế hoạch đầu tư công năm 2020 sát thực tế từng bộ, ngành địa phương.
Dự án đường cao tốc Bắc-Nam có ý nghĩa rất lớn về an ninh quốc phòng, kinh tế xã hội, do đó cần phải xem xét đặc biệt về vấn đề an ninh quốc phòng.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể, rút kinh nghiệm từ việc triển khai các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BT trước đây, Bộ GTVT đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 20/NQ-CP để triển khai đầu tư dự án đường cao tốc Bắc-Nam phía Đông đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, có cơ chế giám sát, quản lý chất lượng, tiến độ và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư.
5 nguyên tắc xây dựng
Tại văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Bình Thuận, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể cho biết, dự án đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông là dự án quan trọng quốc gia, được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 52/2017/QH14 ngày 22/11/2017 gồm 11 dự án thành phần, trong đó 3 dự án đầu tư công sử dụng toàn bộ vốn ngân sách Nhà nước và 8 dự án đầu tư công theo hình thức đối tác công tư (PPP).
Để thực hiện dự án trọng điểm quốc gia này, ông Thể cho rằng, dự án đường cao tốc Bắc-Nam được thực hiện đấu thầu cạnh tranh, minh bạch để lựa chọn nhà đầu tư; quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư bằng 20% tổng vốn đầu tư để đảm bảo lựa chọn nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án; quản lý chặt chẽ chất lượng, giá thành xây dựng công trình.
Quan điểm của Bộ GTVT chỉ đạo triển khai xây dựng cao tốc Bắc-Nam sẽ tuân thủ 5 nguyên tắc cơ bản.Trong đó, đoạn cao tốc Bắc-Nam đi qua địa bàn tỉnh Bình Thuận có 3 dự án thành phần (Cam Lâm - Vĩnh Hảo; Vĩnh Hảo - Phan Thiết và Phan Thiết - Dầu Giây), được triển khai theo hình thức PPP. Đến nay, Bộ GTVT đã phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tất cả các dự án; hoàn tất việc bàn giao mặt bằng và chuyển nguồn vốn đến Kho bạc Nhà nước để địa phương triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư. Đồng thời, Bộ GTVT đang gấp rút hoàn thành hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán và khẩn trương triển khai công tác sơ tuyển lựa chọn nhà đầu tư để có thể tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong năm 2019.

Sơ đồ các đoạn tuyến cao tốc Bắc - Nam sắp triển khai.
Đây là công trình trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa rất lớn về an ninh quốc phòng, kinh tế xã hội, do đó cần phải xem xét đặc biệt về vấn đề an ninh quốc phòng. Tất cả trình tự, thủ tục phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo chất lượng tiến độ.
Đầu tiên là thực hiện đấu thầu cạnh tranh, minh bạch để lựa chọn nhà đầu tư.
Thứ hai, quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư bằng 20% tổng vốn đầu tư để đảm bảo lựa chọn nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án.
Thứ ba, quản lý chặt chẽ chất lượng, giá thành xây dựng công trình. Cơ quan Nhà nước tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán làm cơ sở để tính toán phương án tài chính, lập hồ sơ mời thầu.
Thứ tư, xây dựng hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, dự thảo hơp đồng, trong đó sẽ quy định chặt chẽ các tiêu chí và có đủ chế tài xử lý khi nhà đầu tư có vi phạm về chất lượng, tiến độ.
Thứ năm, khắc phục bất cập về thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ. Việc áp dụng hình thức thu phí kín (mức phí tính theo chiều dài quãng đường sử dụng) sẽ đảm bảo tính công bằng cho người sử dụng.
Đồng thời, sẽ áp dụng công nghệ thu phí theo hình thức điện tử tự động không dừng và có hệ thống giám sát trực tuyến để chống thất thu, để đảm bảo tính minh bạch.
“Việc áp dụng hình thức thu phí kín (mức phí tính theo chiều dài quãng đường sử dụng) sẽ đảm bảo tính công bằng cho người sử dụng, khắc phục bất cập về thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ đồng thời sẽ áp dụng công nghệ thu phí theo hình thức điện tử tự động không dừng và có hệ thống giám sát trực tuyến để chống thất thu; thực hiện công khai các số liệu thu phí (mức phí, thời gian thu phí, tổng vốn đầu tư...) để đảm bảo tính minh bạch,” Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể nhấn mạnh.
Có chế tài xử lý khi có vi phạm chất lượng, tiến độ
Bên cạnh đó Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho rằng, cơ quan Nhà nước tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán làm cơ sở để tính toán phương án tài chính, lập hồ sơ mời thầu. Bộ GTVT xây dựng hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, dự thảo hơp đồng, trong đó sẽ quy định chặt chẽ các tiêu chí và có đủ chế tài xử lý khi nhà đầu tư có vi phạm về chất lượng, tiến độ.
“Trong quá trình triển khai dự án, Bộ GTVT sẽ chỉ đạo các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ tiến độ, chất lượng để dự án đạt được hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, để triển khai dự án thành công, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, hiệu quả, Bộ GTVT rất cần sự hỗ trợ của các cấp, các ngành địa phương, đặc biệt trong công tác giải phóng mặt bằng”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết.
Người đứng đầu ngành giao thông cho biết, đến nay, Bộ Giao thông Vận tải đã phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tất cả các dự án; hoàn tất việc bàn giao mặt bằng và chuyển nguồn vốn đến kho bạc Nhà nước để địa phương triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư.
Đồng thời, Bộ GTVT đang gấp rút hoàn thành hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán và khẩn trương triển khai công tác sơ tuyển lựa chọn nhà đầu tư để có thể tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong năm 2019.
Mới đây, Bộ GTVT báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép tổ chức lễ khởi công dự án thành phần xây dựng đoạn Cam Lộ-La Sơn vào ngày 31/8/2019, tại thôn Tân Trúc, xã Cam Tuyến, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị (điểm đầu dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn Cam Lộ-La Sơn) sau khi đã đủ điều kiện theo quy định tại Điều 107, Luật Xây dựng năm 2014.
Dự án cao tốc Bắc-Nam dài 2.109km, kéo dài từ Lạng Sơn tới Cà Mau, hiện đã khai thác và đang xây dựng một số đoạn dài 601km.
Giai đoạn 2017-2021 tiếp tục đầu tư xây dựng thêm 11 đoạn, tổng mức đầu tư khoảng 118.700 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước tham gia khoảng 55.000 tỷ đồng. Trong đó có 3 đoạn đầu tư công gồm Cao Bồ-Mai Sơn, dài 15km, tổng vốn đầu tư 1.607 tỷ đồng; Cam Lộ-La Sơn, dài 98km, tổng vốn đầu tư hơn 7.669 tỷ đồng và cầu Mỹ Thuận 2 dài 7km, tổng vốn đầu tư hơn 5.003 tỷ đồng.
Với các đoạn đầu tư BOT, nhà đầu tư được thu phí để thu hồi vốn, mức phí khởi điểm là 1.500 đồng/km/xe dười 12 chỗ ngồi, và tăng dần tới 3.400 đồng/km/xe dưới 12 chỗ ngồi. Mỗi kỳ 3 năm nhà đầu tư được tăng phí một lần.
Đây là một trong những nhận định tại Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Bộ Chính trị khẳng định, trong hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đạt được việc thu hút, quản lý và hoạt động đầu tư nước ngoài vẫn còn những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới.
Theo đó, thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Chính sách ưu đãi còn dàn trải, thiếu nhất quán, không ổn định. Môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn hạn chế; chất lượng, hiệu quả thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài chưa cao.
Hạ tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu; còn thiếu các thiết chế văn hoá, xã hội thiết yếu. Cơ chế và năng lực xử lý tranh chấp hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Hệ thống tổ chức bộ máy và năng lực thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài còn bất cập, phân tán, chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu chủ động và tính chuyên nghiệp...
Bên cạnh đó, số lượng dự án quy mô nhỏ, công nghệ thấp, thâm dụng lao động còn lớn; phân bố không đều; tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký còn thấp. Tỷ trọng đóng góp cho ngân sách nhà nước có xu hướng giảm. Liên kết, tương tác với các khu vực khác của nền kinh tế thiếu chặt chẽ, hiệu ứng lan tỏa về năng suất và công nghệ chưa cao; tỷ lệ nội địa hoá còn thấp.
Vốn đăng ký giai đoạn 2021-2025 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); Vốn thực hiện giai đoạn 2021-2025 khoảng 100-150 tỷ USD (20-30 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm)...
Đặc biệt, các hiện tượng chuyển giá, đầu tư “chui”, đầu tư “núp bóng” ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng. Một số doanh nghiệp, dự án sử dụng lãng phí tài nguyên, đất đai, vi phạm chính sách, pháp luật về lao động, tiền lương, thuế, bảo hiểm xã hội, môi trường...; phát sinh nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp cả trong nước và quốc tế. Việc phát triển tổ chức và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, công đoàn, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn khó khăn.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức của các cấp, các ngành và của xã hội còn chưa đầy đủ, nhất quán; thu hút đầu tư nước ngoài còn thiếu chọn lọc. Tư duy và định hướng đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thiếu đồng bộ, nhiều quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn. Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài nhiều nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, sáng tạo; khả năng phân tích, dự báo còn bất cập. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm có lúc, có nơi chưa nghiêm.
Trong bối cảnh đó, ngày 20/8, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
Theo đó, tại Nghị quyết, Bộ Chính trị đã đề ra một số mục tiêu quan trọng đến năm 2030 như: Vốn đăng ký giai đoạn 2021-2025 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); Vốn thực hiện giai đoạn 2021-2025 khoảng 100-150 tỷ USD (20-30 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, bảo vệ môi trường, hướng đến công nghệ cao tăng 50% vào năm 2025 và 100% vào năm 2030 so với năm 2018; Tỷ lệ nội địa hóa tăng từ 20-25% hiện nay, lên mức 30% vào năm 2025 và 40% vào năm 2030...
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Bộ Chính trị cũng đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu trong thời gian tới như: Hoàn thiện thể chế, chính sách chung về đầu tư nước ngoài; Hoàn thiện thể chế, chính sách thu hút đầu tư; Hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo hộ và đề cao trách nhiệm của nhà đầu tư; Hoàn thiện thể chế chính sách quản lý, giám sát đầu tư; Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với đầu tư nước ngoài..
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng năm 2019, Việt Nam đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch xuất nhập khẩu, xuất nhập siêu của Việt Nam với 10 nước còn lại trong CPTTP của 7 tháng năm 2018 và 7 tháng năm 2019 như sau:
Xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang 10 nước tham gia CPTTP đạt quy mô khá, chiếm trên 15,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Một số thị trường đạt quy mô khá lớn. Trong 27 thị trường xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD, thì khu vực này chiếm 6, có tỷ lệ so với tổng số thị trường khu vực này cao hơn tỷ lệ tương ứng của tổng số.
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này tuy thấp hơn tốc độ tăng chung (7,5% so với 7,8%), nhưng tăng là sự khác biệt so với khi mở cửa với Trung Quốc (năm 1991), với Thái Lan (năm 1995), với Hàn Quốc (năm 2018) - khi đó xuất khẩu giảm hoặc tăng thấp, trong khi nhập khẩu tăng cao, làm cho nhập siêu tăng.
Tổng mức tăng của các thị trường này đạt 156,5 triệu USD, trong đó có một số thị trường có mức tăng khá, như Nhật Bản 1.010 triệu USD, Canada 546 triệu USD, Mexico 290 triệu USD.
Riêng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 7 tháng vào Trung Quốc gặp khó khăn do nước này thay đổi chính sách nhập khẩu tiểu ngạch, nhưng thị trường 10 nước còn lại của CPTTP lại đạt mức khá, trong đó đứng đầu là Nhật Bản, tiếp đến là Malaysia, Canada, Australia, Singapore, Mexico, New Zealand, Chile, Peru, Brunei, góp phần giảm bớt sự sụt giảm từ thị trường Trung Quốc.
Nhập khẩu của Việt Nam từ các thị trường này so với cùng kỳ năm trước giảm 2,3%, hay giảm 503 triệu USD. Có một số thị trường giảm (như Mexico 659 triệu USD, Singapore 490 triệu USD, Malaysia 219 triệu USD)...

Xuất nhập khẩu, xuất nhập siêu của Việt Nam với 10 nước còn lại của CPTTP (triệu USD)
Chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu
Do xuất khẩu của Việt Nam vào 10 nước tham gia CPTTP tăng, trong khi nhập khẩu từ đây giảm, nên nếu cùng kỳ năm trước Việt Nam ở vị thế nhập siêu, thì 7 tháng năm nay đã xuất siêu ở mức khá.
Trong 10 thị trường trên, Việt Nam ở vị thế xuất siêu với 5 thị trường và cả 5 thị trường này đều ở mức trên 100 triệu USD, lớn nhất là Canada, tiếp đến là Mexico, Nhật Bản, Chile, Peru. Đáng lưu ý, mức xuất siêu đều cao hơn cùng kỳ năm trước, đặc biệt là Nhật Bản đã chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu khá lớn.
Các diễn biến trên là kết quả tích cực của việc CPTTP được thực hiện. Kết quả càng có ý nghĩa khi được thể hiện ngay trong những tháng đầu tiên thực hiện. Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam một mặt đã tranh thủ tốt hơn về thị trường với cơ hội thuế suất thuế nhập khẩu vào các nước này được giảm thiểu, mặt khác đây cũng là các thị trường có thể góp phần để Việt Nam có điều kiện để xử lý được khó khăn trong xuất khẩu nông, lâm, thủy sản với Trung Quốc.
Mặc dù đạt được kết quả tích cực, nhưng đó chỉ là bước đầu, chưa thể chủ quan. Xuất khẩu của Việt Nam sang một số thị trường còn bị giảm (với Australia giảm 373 triệu USD, Malaysia giảm 122 triệu USD); nhập khẩu từ một số thị trường tăng (Australia, Canada, Peru, Brunei); còn nhập siêu từ một số thị trường (như Malaysia, Australia, Singapore, Brunei, New Zealand). Đáng lưu ý, với Australia năm trước xuất siêu, nay nhập siêu, còn với Brunei là nhập siêu tăng.
Ngoài ra, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam còn thấp so với tổng nhập khẩu của các thị trường này. Tốc độ tăng xuất khẩu vào các thị trường này còn thấp hơn tốc độ tăng chung của tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tác động đến việc thực hiện kế hoạch tăng trưởng xuất khẩu chung...
Dự kiến, nhiều điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô được quy định tại Nghị định 116 năm 2017 sẽ được bãi bỏ, sửa đổi trong thời gian tới.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Dự thảo sửa đổi Nghị định này cũng đang được Bộ Công Thương đưa ra lấy ý kiến.
Sẽ kiểm tra ô tô nhập khẩu theo kiểu loại thay vì theo lô
Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, Chính phủ sẽ sớm ban hành văn bản sửa đổi quy định của Nghị định 116/2017 về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô, trong đó ô tô nhập khẩu sẽ được kiểm tra theo kiểu loại.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Mai Tiến Dũng cho biết như vậy tại cuộc làm việc với các bộ ngành về việc sửa đổi điều kiện kinh doanh và kiểm tra chuyên ngành ngày 21/8.
Cụ thể, thay vì hình thức kiểm tra theo lô như quy định hiện hành, Chính phủ sẽ sửa đổi Nghị định 116/2017 theo hướng các xe nhập khẩu sẽ được kiểm tra theo kiểu loại, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
"Đề nghị Bộ Giao thông vận tải có văn bản báo cáo Thủ tướng sửa nghị định theo hình thức rút gọn. Cố gắng đến cuối tháng 8, đầu tháng 9 sẽ ban hành nhanh" - Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.
Theo Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, việc sửa đổi Nghị định 116 là phù hợp trong bối cảnh thị trường ô tô, hoạt động nhập khẩu ô tô đã đi vào ổn định.
Thực tế trong 2 năm qua sau khi nghị định được ban hành, ngành ô tô trong nước đã có bước phát triển nhất định, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quản lý nhà nước cũng chặt chẽ hơn, không còn tình trạng lộn xộn trong hoạt động nhập khẩu xe.
Bằng chứng là lượng xe nhập khẩu tăng, các hãng xe đều xác nhận nguồn gốc và kiểu loại, thực hiện nghiêm túc quy định của Nghị định 116. Vì vậy, với năng lực của các trung tâm đăng kiểm hiện nay, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho rằng việc cải cách trong quản lý, chuyển sang hậu kiểm là phù hợp.
Bãi bỏ nhiều điều kiện về lao động, cháy nổ
Trong khi đó, dự thảo Nghị định sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương cũng đang được Bộ này lấy ý kiến.
Dự thảo được Bộ Công Thương xây dựng nhằm triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019 của Chính phủ, trong đó giao các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục rà soát, trình Chính phủ bãi bỏ, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh không rõ ràng, không cụ thể, không khả thi.
Dự thảo Nghị định đưa ra đề xuất sửa đổi, bãi bỏ điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực: sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô; điện lực; hóa chất; thực phẩm; than, khoáng sản; kinh doanh khí.
Trong đó, với lĩnh vực sản xuất và nhập khẩu ô tô, dự thảo sửa đổi, bãi bỏ các quy định về điều kiện an toàn, vệ sinh lao động, an toàn phòng cháy và chữa cháy, phương án chữa cháy. Theo đó, bãi bỏ khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 7 của Nghị định số 116/2017/NĐ-CP.
Khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 7 của Nghị định số 116/2017/NĐ-CP đang đưa ra các điều kiện sau:
- Người phụ trách kỹ thuật các dây chuyền sản xuất, lắp ráp ô tô phải có trình độ đại học trở lên, thuộc ngành cơ khí, ô tô và có kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô tối thiểu 05 năm.
- Có đủ nhân lực, phương án bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
- Đáp ứng đủ điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy, phương án chữa cháy theo quy định của pháp luật phòng cháy, chữa cháy.
Như vậy, nếu đề xuất của Bộ Công Thương được chấp thuận, việc quản lý nhà nước sẽ chuyển hướng từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với các điều kiện này mà sẽ không đặt ra trong điều kiện cấp giấy phép kinh doanh.
Bộ Công Thương cũng cho biết, có 02 định hướng cơ bản trong quá trình xây dựng Nghị định này. Thứ nhất, trong quá trình xây dựng Dự thảo Nghị định, có thể đề xuất bãi bỏ thêm một số điều kiện trong một số lĩnh vực đồng thời có đề xuất giữ lại điều kiện kinh doanh trong một số lĩnh vực.
Thứ hai, theo phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh của Bộ, một số điều kiện kinh doanh được đơn giản hóa theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tuy nhiên, vì việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với một số điều kiện kinh doanh sẽ trực tiếp ảnh hưởng lớn đến cấu trúc, nội hàm chính sách và quy trình, phương pháp quản lý nhà nước đang được quy định tại văn bản pháp quy chuyên ngành về lĩnh vực này.
Do vậy, đối với những điều kiện đề xuất bãi bỏ thì bãi bỏ ngay tại Dự thảo Nghị định sửa nhiều Nghị định đang xây dựng và ngược lại các điều kiện kinh doanh có liên quan đến hậu kiểm thì sẽ được quy định tại Nghị định chuyên ngành của ngành, lĩnh vực có liên quan.
Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, một trong những giải pháp được Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ là giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng các nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư công số 30/2019/QH14.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Nhiều nguyên nhân chậm giải ngân vốn đầu tư công
Đến nay, vẫn còn 35.148 tỷ đồng kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2019 (bằng 9,3% kế hoạch vốn được Quốc hội thông qua) chưa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng giao vốn. Tình hình giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước 7 tháng đầu năm 2019 rất thấp, chỉ đạt 32,27% kế hoạch được Quốc hội thông qua, trong đó giải ngân vốn nước ngoài chỉ đạt 10,96%, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2018.
Trên cơ sở kiểm tra thực tiễn tại một số bộ, ngành địa phương về công tác giải ngân vốn đầu tư kế hoạch năm 2018, năm 2019; công tác quyết toán dự án hoàn thành và việc quản lý các khoản thu của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, Bộ Tài chính vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về một số vướng mắc và tồn tại của các công tác này.
Theo Bộ Tài chính, một trong những nguyên nhân chậm giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước là các vướng mắc liên quan tới công tác xây dựng, phân bổ và điều chỉnh kế hoạch vốn.
Theo đó, một số chủ đầu tư chưa lường trước được các yếu tố tác động nên xây dựng kế hoạch vốn chưa sát với khả năng thực hiện của các dự án, dẫn đến nhiều dự án được giao kế hoạch vốn lớn hơn nhiều so với khả năng thực hiện. Vì vậy, kết thúc năm dự án không giải ngân hết kế hoạch được giao, phải cắt giảm hoặc chuyển nguồn sang năm sau.
Bên cạnh đó, một số dự án không có khả năng thực hiện vẫn được đăng ký và giao kế hoạch vốn nên không thể giải ngân; Công tác phân bổ kế hoạch vốn còn chậm, giao nhiều lần chưa phù hợp với yêu cầu tiến độ các dự án; Việc điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các dự án còn chưa kịp thời gây khó khăn cho công tác giải ngân…
Bên cạnh đó còn có các vướng mắc liên quan đến giai đoạn triển khai và thực hiện kế hoạch. Cụ thể, báo cáo của Bộ Tài chính cho biết, một số chủ đầu tư chưa chú trọng đến công tác lựa chọn tư vấn lập hồ sơ, chưa chú trọng công tác rà soát, kiểm tra hồ sơ dẫn đến chất lượng hồ sơ có nhiều nội dung phải sửa đổi, hiệu chỉnh… gây kéo dài thời gian thẩm định, trình phê duyệt và triển khai thủ tục tiếp theo. Nhiều dự án chưa có kế hoạch chuẩn bị trước nên khi triển khai thực hiện còn vướng về quy hoạch, đền bù, giải tỏa dẫn đến kéo dài thời gian lập dự án.
Vướng mắc trong công tác đấu thầu cũng là nguyên nhân gây chậm giải ngân vốn đầu tư công. Theo Bộ Tài chính, để có đủ thủ tục giải ngân vốn cho một dự án khởi công mới phải mất khoảng 04 đến 06 tháng để ký kết hợp đồng và khởi công xây dựng. Do vậy, các dự án, gói thầu mới thường chưa có khối lượng thực hiện trong nửa đầu năm kế hoạch, gây ảnh hưởng tới tiến độ triển khai kế hoạch vốn trong năm.
Đặc biệt, “nút thắt” lớn đối với việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư công là các vướng mắc, tồn tại trong công tác giải phóng mặt bằng. Ở các tỉnh, thành phố công tác giải phóng mặt bằng đều gặp nhiều khó khăn và chậm do các vấn đề liên quan tới việc xác định giá đền bù, việc bố trí lực lượng giải phóng mặt bằng chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nhiều dự án trên cùng một địa bàn…
Ngoài ra, công tác kiểm tra của Bộ Tài chính cũng cho thấy một số chủ đầu tư chậm thực hiện thủ tục hạch toán thu hồi vốn ứng trước hoặc chưa hoàn thành công tác nghiệm thu, bàn giao, quyết toán hợp đồng, quyết toán dự án hoàn thành…
Cần xây dựng các nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư công
Thời gian qua, Bộ Tài chính đã chủ động thực nhiện nhiều giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân. Trong đó, Bộ đã chủ động rà soát sửa đổi cơ chế kiểm soát thanh toán vốn đầu tư phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công. Trong đó, áp dụng các nguyên tắc thanh toán trước, kiểm soát sau; rút ngắn thời gian kiểm soát thanh toán từ 7 ngày theo Nghị quyết số 70/NQ-CP xuống còn 4 ngày làm việc nhằm đơn giản hóa thủ tục, thúc đẩy tiến độ giải ngân cho các dự án.
Bộ Tài chính cũng đã có văn bản gửi các Bộ, ngành đôn đốc việc phân bổ chi tiết kế hoạch vốn; đôn đốc nhập hết kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước năm 2019 lên hệ thống Tabmis; đôn đốc việc báo cáo tình hình thực hiện và thanh toán kế hoạch vốn quý II/2019...
Để khắc phục tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng các nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư công số 30/2019/QH14.
Trong đó, có nghị định mới về quản lý vốn ODA và vay ưu đãi thay thế Nghị định số 132/2018/NĐ-CP và Nghị định số 16/2016/NĐ-CP theo hướng tập trung vào một đầu mối công tác quản lý nợ công; Rà soát để đơn giản hóa các thủ tục hành chính bao gồm quy trình bổ sung kế hoạch vốn hàng năm, cơ chế điều chỉnh, điều chuyển kế hoạch vốn cũng như cơ chế hạch toán và chuyển nguồn đối với vốn vay ODA, vay ưu đãi.
Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành, địa phương, các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án đẩy nhanh, tích cực thực hiện công tác lập hồ sơ, thẩm định thiết kế kỹ thuật thi công – dự toán trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và triển khai công tác mời thầu, đấu thầu dự án theo thời gian quy định. Công tác giải phóng mặt bằng phải được ưu tiên, đảm bảo khi nhà thầu thực hiện thi công không còn vướng mắc về giải phóng mặt bằng.
Các bộ, ngành, địa phương cần xây dựng quy chế yêu cầu các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án thường xuyên báo cáo cơ quan cấp trên tiến độ triển khai và giải ngân của từng dự án. Kịp thời đề xuất giải pháp tháo gỡ vướng mắc, điều chỉnh kế hoạch phù hợp với tiến độ giải ngân; có giải pháp triển khai cụ thể để đôn đốc đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2019.
Riêng đối với dự án ODA và vay ưu đãi, Bộ Tài chính đề nghị cơ quan chủ quản chủ động cùng các cơ quan liên quan giải quyết các vướng mắc về đấu thầu mua sắm, thuế, giải phóng mặt bằng; Đôn đốc các chủ dự án khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để ký kết hợp đồng cho vay lại; Khi có khối lượng hoàn thành cần làm ngay thủ tục kiểm soát chi, gửi đơn rút vốn để Bộ Tài chính kịp thời gửi nhà tài trợ…
Đòn thuế mới nhất Mỹ và Trung Quốc áp lên nhau khiến thị trường tài chính thế giới chao đảo. Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc và quan điểm chính sách nghiêng về nới lỏng tiền tệ của Chủ tịch Fed Jerome Powell đã kéo kim loại quý lên cao. Sáng nay (26/8), mỗi ounce vàng thế giới tăng thêm gần 30 USD, lên 1.555 USD còn vàng miếng SJC cũng vượt 43 triệu đồng.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Từ đầu năm 2019, giá vàng thế giới đã tăng hơn 17,3% (khoảng 220 USD/ounce). Nguyên nhân giá vàng tăng là do những bất ổn từ tình hình chính trị và kinh tế thế giới; nhiều ngân hàng trung ương của các quốc gia cũng giảm lãi suất đồng nội tệ khiến giá kim loại quý này càng được hỗ trợ tăng.
Nhiều chuyên gia cho rằng vàng đang ở trong một môi trường hoàn hảo để tăng giá, với thương chiến Mỹ - Trung leo thang, tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm tốc, và các ngân hàng trung ương trên thế giới chuyển từ thắt chặt sang nới lỏng chính sách tiền tệ.
Bên cạnh căng thẳng thương mại, trừng phạt thuế và lãi suất giảm, còn có những yếu tố khác hỗ trợ cho giá vàng, như nguy cơ Anh rời Liên minh châu Âu (EU), tức Brexit, mà không có thỏa thuận, hay căng thẳng giữa Mỹ và Iran ở Trung Đông.
Chưa kể, các ngân hàng trung ương đang mạnh tay gom vàng. Từ đầu năm đến nay, Trung Quốc, Nga, Ba Lan, Kazakhstan… đều tăng mạnh nắm giữ vàng trong dự trữ ngoại hối quốc gia.
Thực tế cho thấy, trước đó, nhiều tổ chức tài chính trên thế giới từng dự đoán giá vàng trong năm nay chỉ có thể bật lên mốc 1.400 USD/ounce nhưng hiện nay giá vàng thế giới đã leo lên đến mốc 1.555 USD/ounce.
Với những diễn tiến đang xảy ra trong đầu tháng 8, nhiều khả năng kinh tế thế giới sẽ bất ổn rất nhiều và có thể kéo dài 1-2 năm. Do vậy, dòng vốn đầu tư đã chuyển một phần khu trú qua kênh an toàn là vàng.
Tại thị trường trong nước, theo một số chuyên gia, nhu cầu tích trữ vàng của người dân nhiều năm gần đây giảm khá mạnh, rõ nhất là lượng vàng được khách nhờ ngân hàng thương mại giữ hộ là không đáng kể.
Đáng nói là thị trường vàng được quy hoạch lại trong quản lý so với giai đoạn trước với nhiều quy định chặt chẽ hơn, khiến thị trường này không có những cơn nóng lạnh thất thường. Tiền đồng được giữ ổn định, lạm phát ở mức thấp cũng đã góp phần giảm tác động của những cơn "sốt vàng".
Tuy nhiên, giá vàng liên tục tăng đang gây ra sức ép tâm lí cho người dân. Nhiều câu hỏi đặt ra, việc giá vàng liên tiếp ập đỉnh trong bối cảnh kinh tế thế giới đang đối mặt với nhiều bất ổn, khiến nhiều người đặt ra câu hỏi có nên bỏ tiền vào vàng?
Tuy nhiên, trả lời báo chí mới đây, chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển cho rằng, dù giá vàng có tăng cao nhưng so với đầu tư vào chứng khoán hay nhà đất thì mức lợi nhuận chưa hẳn hấp dẫn. Cụ thể, nếu đầu tư bất động sản trong 2 - 3 năm có thể sinh lời 30 - 40% nhưng nếu mua và cất két thì 2 - 3 năm sau khó thể đạt được mức lợi nhuận này.
Bên cạnh đó, TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính ngân hàng cũng đưa ra cảnh báo, dù dự báo giá vàng tăng mạnh nhưng nhà đầu tư nên cẩn thận vì giá vàng biến động khó lường. Ngay cả trong xu hướng tăng, giá vàng cũng có thể rớt. Vì vậy, việc “lướt sóng” với vàng, mua đi bán lại rất nguy hiểm, có thể gây thua lỗ.
Việc mua vàng sẽ phù hợp với những người có tiền nhàn rỗi, mua để dành mà không cần phải đi vay ngân hàng hoặc rút tiền đầu tư từ lĩnh vực khác. Tuy nhiên, người mua vàng nên xem xét mức chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra của các đơn vị kinh doanh vàng. Khi độ chênh càng lớn, càng nhiều rủi ro và rủi ro sẽ bị đẩy từ phía kinh doanh vàng sang người mua.
Trước những diễn biến mới của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung với những đòn đáp trả mạnh tay của hai bên, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới đang tiềm ẩn rất nhiều rủi ro nhiều, với mức độ ngày càng tăng từ nay đến cuối năm.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Trung Quốc vừa thông báo trả đũa lên 75 tỷ USD hàng nhập khẩu từ Mỹ, với mức thuế dao động từ 5% đến 10%. Dầu thô Mỹ cũng nằm trong danh sách chịu ảnh hưởng. Trung Quốc cũng sẽ khôi phục thuế 25% với xe hơi Mỹ.
Đáp trả, Tổng thống Mỹ Donald Trump sau đó cũng tuyên bố nâng thuế với khoảng 250 tỷ USD hàng Trung Quốc, từ 25% hiện tại lên 30%, bắt đầu từ ngày 1/10. Thuế dự kiến 10% với khoảng 300 tỷ USD hàng hóa nữa cũng được nâng lên 15%, bắt đầu từ ngày 1/9. Thậm chí mới đây, Tổng thống Mỹ Trump còn cho biết hối tiếc vì không đánh thuế Trung Quốc cao hơn.
Ngay sau đó, S&P 500 và Nasdaq Composite giảm lần lượt 2,6% và 3%. Đây là phiên tệ nhất của Wall Street kể từ ngày 14/8 và là tuần thứ 4 liên tiếp cả ba chỉ số đi xuống. Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 2 năm lại cao hơn kỳ hạn 10 năm. Đường cong lợi suất đảo ngược thường là chỉ báo cho một cuộc suy thoái.
Theo các chuyên gia, những lời đe dọa của Trump là chỉ báo chiến tranh thương mại sắp bước vào giai đoạn trầm trọng hơn nhiều. Việc này sẽ gây thiệt hại cho không chỉ hai nền kinh tế mà cả quy mô rộng lớn hơn và những căng thẳng sẽ không còn trong quy mô của hai nền kinh tế lớn Mỹ - Trung.
Minh chứng rõ nhất là tại Hội nghị thượng đỉnh G7, Tổng thống Mỹ cũng dọa áp thuế nhập khẩu Pháp ở mức "chưa từng có", trừ phi nước này bỏ thuế kỹ thuật số với các hãng công nghệ Mỹ. Đáp lại, Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk cảnh báo Liên minh châu Âu sẽ đáp trả "tương xứng" nếu Trump thực hiện điều này.
Hơn nữa, một cuộc chiến tranh tiền tệ có thể xảy ra nếu các quốc gia tiếp tục đồng bản tệ của mình bằng phương pháp phổ biến là giảm lãi suất đưa tất cả vào cuộc chiến tranh tiền tệ. Điều này sẽ kéo các nền kinh tế vào sự trì trệ sẽ khiến có thể xảy ra khủng hoảng toàn cầu.
Một số dự báo cho thấy, đến năm 2020, rủi ro trên thị trường tài chính thế giới có giảm không tuỳ thuộc rất nhiều vào Mỹ và Trung Quốc có tìm được giải pháp cho chiến tranh thương mại hay không. Chiến tranh thương mại không được giải quyết thì thị trường tài chính - tiền tệ sẽ tiếp tục có biến động tiêu cực.
Hiện nay, đồng Nhân dân tệ (NDT) phá giá lên đến 7,04 NDT đổi 1 USD, xu hướng tiếp tục tăng, việc này sẽ hỗ trợ cho xuất khẩu của Trung Quốc để giảm những ảnh hưởng từ việc Mỹ siết thuế nhập khẩu.
Đối với Việt Nam, việc tiền đồng mất giá sẽ không có lợi cho thị trường chứng khoán khi các nhà đầu tư ngoại sẽ quan ngại đầu tư vào Việt Nam. Từ đầu năm tới nay, thị trường tài chính hấp thu rất nhiều dòng vốn ngoại khi tiền đồng mất giá sâu sẽ ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư.
TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính - ngân hàng lý giải thêm, nếu giá vàng, tỷ giá tăng và thị trường chứng khoán xuống thấp không phải điểm tích cực cho kinh tế Việt Nam. Do đó, thời gian sắp tới Việt Nam có một chính sách về tiền tệ rất khó khăn khi phải cân bằng rất nhiều lĩnh vực từ lĩnh vực xuất khẩu, tỷ giá, tăng trưởng kinh tế…
Về tỷ giá, nếu đồng NDT tiếp tục bị phá giá sẽ tạo áp lực cho tiền đồng, khi đó hàng xuất khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam sẽ rẻ hơn, làm phình ra nhập siêu từ Trung Quốc đồng thời hàng xuất khẩu Việt Nam vào Trung Quốc đắt đỏ hơn. Điều này sẽ tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam.
Giá vàng trên thế giới hiện đang tiếp tục thiết lập các đỉnh mới và chưa ai có thể biết được điểm dừng. Thị trường vàng Việt Nam sẽ chịu tác động của thị trường vàng thế giới, giá vàng trong nước sẽ phản ứng và mức tăng giá song song với thị trường thế giới.
Hiện nay, chiến tranh tiền tệ tuy được dự báo là chưa xảy ra song Mỹ đã liệt Trung Quốc vào danh sách quốc gia thao túng tiền tệ. Việt Nam cũng là quốc gia có nguy cơ khá cao bị chuyển sang nhóm các nước thao túng tiền tệ nếu chúng ta không có biện pháp phù hợp, quyết liệt. Khi đó, những hậu quả không mong đợi có thể sẽ xảy đến đối với thị trường tài chính - tiền tệ của Việt Nam.
Nhiều chuyên gia cho rằng, trong thời gian tới, chính sách tỉ giá của Việt Nam cần tiếp tục theo hướng chủ động, linh hoạt, khéo léo, hạn chế can thiệp trực tiếp, một chiều và liên tục vào thị trường ngoại hối để không bị vi phạm ngưỡng thứ ba như nêu trên.
Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý; cần thực hiện linh hoạt (có mua, có bán) và cần giải trình với Mỹ việc điều hành tỉ giá trong thời gian qua là phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế cũng như đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không lành mạnh.
Đặc biệt, Việt Nam cần hết sức bình tĩnh, không để bị cuốn vào dòng xoáy chiến tranh tiền tệ (nếu có) và không nên phá giá đồng tiền vì điều chỉnh tỉ giá liên quan đến nhiều mặt của nền kinh tế (không chỉ liên quan đến xuất khẩu, mà còn nhập khẩu, nợ nước ngoài, áp lực lạm phát…).
Sau 2 năm chính thức hoạt động (10/8/2017-10/8/2019), thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) đã được công chúng đầu tư đón nhận và có bước phát triển ấn tượng, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư; thể hiện tốt vai trò là công cụ phòng ngừa rủi ro, góp phần tích cực vào việc giữ chân dòng vốn trên thị trường cơ sở. Ông Nguyễn Như Quỳnh, Thành viên HĐQT, Phó Tổng Giám đốc Phụ trách Sở GDCK Hà Nội (HNX) đã chia sẻ với Cổng TTĐT Bộ Tài chính về một số kết quả ấn tượng của TTCKPS sau 2 năm hoạt động.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

? Thưa ông, sau 2 năm chính thức đi vào hoạt động, đến nay, TTCKPS đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Ông đánh giá thế nào về sự phát triển của TTCKPS Việt Nam từ khi thị trường đi vào hoạt động đến nay?
Ông Nguyễn Như Quỳnh: Ngày 10/8/2017, TTCKPS Việt Nam đã được khai trương với sản phẩm đầu tiên là Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu VN30. Sau gần 2 năm triển khai, TTCKPS đã được cộng đồng nhà đầu tư quan tâm, đón nhận và đã có những bước phát triển đáng kể. Thị trường đã vận hành theo đúng quy luật khách quan và xu hướng của các thị trường phái sinh quốc tế. Bên cạnh đó, TTCKPS đã chứng tỏ vai trò phòng vệ rủi ro hiệu quả, hỗ trợ ổn định tâm lý nhà đầu tư, đặc biệt khi thị trường cơ sở biến động mạnh.
Trong 2 năm qua, đã có hơn 36 triệu hợp đồng được giao dịch. Tính riêng trong 7 tháng đầu năm 2019, khối lượng giao dịch Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu VN30 bình quân đạt xấp xỉ 100 nghìn hợp đồng/phiên, tăng gấp 1,27 lần so với năm 2018 và gấp gần 10 lần so với năm 2017. Khối lượng hợp đồng mở đã tăng 2,7 lần từ 8.077 hợp đồng cuối năm 2017 lên 20.494 hợp đồng ngày 31/7/2019. Trong các giai đoạn thị trường cơ sở giảm mạnh như trong các tháng 5-6/2018 và tháng 5-6/2019 thì giao dịch trên TTCKPS đã tăng mạnh so với các tháng trước đó, đặc biệt khối lượng hợp đồng mở (OI) toàn thị trường có sự gia tăng đột biến so với các tháng trước đó. Có thời điểm, khối lượng OI đã ghi nhận mức kỷ lục, đạt hơn 39 nghìn hợp đồng (gấp 1,85 lần so với cuối năm 2018 và gấp gần 5 lần so với cuối năm 2017). Sự phát triển này được các chuyên gia phái sinh của Sở Giao dịch Hợp đồng tương lai Đài Loan (TAIFEX) đánh giá cao bởi TAIFEX hay Sở Giao dịch chứng khoán phái sinh Thái Lan (TFEX) phải mất 6-8 năm kể từ khi ra mắt mới có thể đạt được số lượng hợp đồng giao dịch như Sở GDCK Hà Nội đạt được trong vòng hơn một năm đầu khai trương thị trường.
Nhìn lại sự phát triển của TTCKPS sau 2 năm chính thức đi vào hoạt động có thể khẳng định rằng việc đưa TTCKPS đi vào hoạt động là chủ trương, định hướng đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của TTCK Việt Nam.
? Sau gần 2 năm đưa các sản phẩm Hợp đồng tương lai chỉ số VN30 vào giao dịch và được thị trường tích cực đón nhận, được biết ngày 4/7 vừa qua, HNX đã chính thức đưa ra thị trường sản phẩm Hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm. Ông có thể chia sẻ với độc giả và các nhà đầu tư về các sản phẩm này?
Ông Nguyễn Như Quỳnh: Dựa trên kinh nghiệm triển khai sản phẩm Hợp đồng tương lai chỉ số VN30; trên cơ sở đánh giá nhu cầu thị trường, được sự chấp thuận của cơ quan quản lý, sản phẩm Hợp đồng tương lai Trái phiếu Chính phủ (HĐTL TPCP) kỳ hạn 5 năm chính thức được đưa vào giao dịch từ ngày 4/7/2019. Việc xây dựng sản phẩm HĐTL TPCP nằm trong Đề án phát triển TTCKPS đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo lộ trình từ đơn giản đến phức tạp, đảm bảo khả năng quản lý, giám sát các rủi ro trên thị trường. Đây là sản phẩm chứng khoán phái sinh có tài sản cơ sở là trái phiếu giả định có những đặc điểm tương tự một TPCP với mệnh giá 100.000 đồng, kỳ hạn 5 năm, lãi suất danh nghĩa 5%/năm, trả lãi định kỳ 12 tháng/lần, trả gốc một lần khi đáo hạn.
Để xây dựng và phát triển sản phẩm này, chúng tôi đã trải qua quá trình nghiên cứu, cân nhắc thận trọng, đánh giá kỹ lưỡng về thị trường trái phiếu và tổng kết, rút kinh nghiệm từ sản phẩm chứng khoán phái sinh đầu tiên tại Việt Nam, từ kinh nghiệm quốc tế tại các TTCKPS trên thế giới và thực hiện trong giai đoạn thị trường TPCP đã có những bước phát triển hết sức ấn tượng cả về quy mô và độ sâu thị trường.
Trong quá trình triển khai thực hiện, với vai trò của mình, chúng tôi đã tích cực, chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đảm bảo các thành viên thị trường, công chúng đầu tư hiểu rõ hơn về sản phẩm. Các tài liệu về sản phẩm cũng đã được HNX đăng tải trên website của Sở. Chúng tôi cũng đã phối hợp chặt với Trung tâm lưu ký Chứng khoán Việt Nam tổ chức nhiều hội thảo, chương trình đào tạo chuyên sâu cho các thành viên thị trường về sản phẩm, đồng thời trao đổi kinh nghiệm quốc tế, quan điểm của các thành viên về sản phẩm này.
Với những nỗ lực đó, dù mới đưa vào thị trường nhưng đến nay, đã có hơn 100 HĐTL TPCP kỳ hạn 5 năm được giao dịch. Khối lượng hợp đồng mở thời điểm hiện tại là 130 hợp đồng. Dù kết quả này còn khiêm tốn song tôi cho rằng điều này cũng đã chứng tỏ được sự quan tâm của nhà đầu tư đến TTCKPS và sản phẩm HĐTL TPCP kỳ hạn 5 năm.
Có ý kiến cho rằng, TTCKPS chưa có sự tham gia nhiều của nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài. Ông có bình luận gì về điều này?
Ông Nguyễn Như Quỳnh: Thời gian qua, số lượng tài khoản đầu tư trên TTCKPS liên tục gia tăng. Đến cuối tháng 7/2019, đã có 78.445 tài khoản giao dịch phái sinh được mở, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo thống kê của chúng tôi, giao dịch của nhà đầu tư cá nhân trong nước chiếm 91,15% khối lượng giao dịch toàn thị trường. Giao dịch của nhà đầu tư tổ chức trong nước mới chỉ chiếm 1,54%, tập trung chủ yếu vào hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán. Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài đã tăng lên nhưng cũng vẫn chiếm tỉ trọng rất nhỏ 0,58% tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường.
Với việc cho ra mắt sản phẩm HĐTL TPCP kỳ hạn 5 năm, chúng tôi kỳ vọng sẽ thu hút sự quan tâm, giao dịch của các nhà đầu tư có tổ chức đối với TTCKPS bởi sản phẩm này là một công cụ phòng ngừa rủi ro cho các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư có tổ chức. Thực tế thời gian qua cho thấy, các giao dịch đều được thực hiện bởi các nhà đầu tư tổ chức là các ngân hàng, giao dịch tự doanh của các công ty chứng khoán chỉ chiếm 10% khối lượng giao dịch.
Trong thời gian tới, Sở GDCK Hà Nội có kế hoạch triển khai thêm các sản phẩm mới trên TTCKPS không, thưa ông? Sở sẽ làm gì để TTCKPS ngày càng phát triển mạnh mẽ?
Ông Nguyễn Như Quỳnh: Tiếp theo sản phẩm Hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu VN30, HĐTL TPCP kỳ hạn 5 năm, trong năm 2019, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu xây dựng HĐTL trên chỉ số VNX200. Thời gian tới, dự kiến sẽ tiếp tục nghiên cứu các sản phẩm phái sinh mới là Hợp đồng quyền chọn trên chỉ số cổ phiếu, Hợp đồng tương lai trên cổ phiếu đơn lẻ (SSF) và Hợp đồng quyền chọn trên cổ phiếu đơn lẻ (SSO).
Chúng tôi cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan xây dựng khung pháp lý cho các sản phẩm mới để chuẩn bị cho việc ra mắt các sản phẩm mới, có thể áp dụng từ sau năm 2020 nhằm đa dạng hóa các sản phẩm trên thị trường, đáp ứng nhu cầu của người đầu tư và theo đúng chủ trương, định hướng của Chính phủ.
Bên cạnh việc phát triển các sản phẩm phái sinh mới, chúng tôi cũng sẽ tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý thị trường và các tổ chức vận hành thị trường có liên quan để không ngừng cải thiện hoạt động giám sát trên thị trường; duy trì hệ thống giao dịch hiệu quả, thông suốt; duy trì kết nối với các thành viên thị trường và nhà đầu tư để kịp thời đáp ứng các nhu cầu phát sinh trên thị trường.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Lợi dụng cơ chế thông thoáng về quản lý xuất - nhập khẩu với hàng quá cảnh, nhiều doanh nghiệp phía Nam đã gian dối khi làm thủ tục hải quan và rút ruột container hàng hóa để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam nhằm trốn thuế. Các cơ quan chức năng đã và đang tiến hành nhiều giải pháp để ngăn chặn tình trạng này
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Hàng “biến mất” trên đường vận chuyển
Theo nhận định của Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, thủ đoạn chung của các đối tượng buôn lậu là lợi dụng chính sách thông thoáng của Nhà nước về hàng quá cảnh qua các cửa khẩu phía Nam (làm thủ tục xuất - nhập khẩu nhanh chóng; quản lý qua vận đơn; ưu tiên luồng nhập, xuất hàng hóa), chúng nhập hàng vào Việt Nam để xuất đi nước thứ 3 qua cửa khẩu thuộc các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Bình Phước, Tây Ninh...
Trong quá trình vận chuyển trên lãnh thổ Việt Nam, các đối tượng rút ruột hàng để tiêu thụ nội địa, còn phương tiện chở container rỗng vẫn qua biên giới, như xuất hàng thật.
Theo ông Huỳnh Văn Đức, Cục trưởng Cục Hải quan Tây Ninh cho biết, ngày 5/8 vừa qua, lực lượng chức năng tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Xa Mát, đã phát hiện lô hàng thuộc tờ khai hải quan số 500200801040, lập ngày 1/8/2019 tại Chi cục Hải quan Cảng Sài Gòn khu vực 1 (Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh) của Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ Phát Tài Nguyễn có dấu hiệu vi phạm, nên đã kiểm tra.
Theo giấy tờ, lô hàng này là hàng bách hóa mới 100%, có xuất xứ Hàn Quốc, trọng lượng 20,2 tấn, trị giá gần 36.000 USD, quá cảnh Việt Nam để chuyển sang Campuchia, nhưng các tem niêm phong đã bị cắt. Lực lượng hải quan đã lập biên bản, mở các container kiểm tra và phát hiện bên trong không chứa bất cứ hàng hóa gì. Toàn bộ lô hàng trước đó đã bị rút ruột ở lại nội địa Việt Nam.
Trước đó, Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan đã ra quyết định khởi tố vụ án buôn lậu, liên quan đến việc rút ruột 2 container hàng quá cảnh từ cửa khẩu Cảng Cái Mép (Cục Hải quan Bà Rịa - Vũng Tàu) đi Campuchia, liên quan đến Công ty TNHH Dịch vụ đầu tư thương mại Minh Trí Việt.
Theo đó, công ty này mở tờ khai vận chuyển độc lập tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Cái Mép để vận chuyển quá cảnh 2 container hàng điện tử gia dụng cho một doanh nghiệp tại Campuchia. Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Cái Mép kiểm tra thực tế hàng hóa, xác định đúng như khai báo nên đã bàn giao cho doanh nghiệp vận chuyển đến cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (tỉnh Bình Phước) để xuất sang bên kia biên giới.
Tuy nhiên, sau khi tiếp nhận hàng quá cảnh để làm thủ tục, lực lượng liên ngành Hải quan, biên phòng cửa khẩu kiểm tra thực tế và phát hiện cả hai container rỗng. Toàn bộ hàng hóa đã bị doanh nghiệp để lại ở Việt Nam để tiêu thụ.
Ông Lê Nguyên Linh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn khu vực 1 (Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh) cho biết thêm, ngoài thủ đoạn rút ruột container hàng quá cảnh, nhiều doanh nghiệp còn xin quá cảnh những mặt hàng có giá trị lớn hoặc hàng cấm nhập khẩu vào Việt Nam rồi xuất hàng sang Campuchia. Sau đó, lợi dụng sơ hở của lực lượng chức năng nước bạn, số hàng này được ém lại khu vực sát biên giới Việt Nam và thẩm lậu ngược trở lại nội địa nước ta qua đường mòn, lối mở...
Đánh giá về vấn đề này, ông Trần Vĩnh Tuyến, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh, Trưởng ban Chỉ đạo 389 thành phố (Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả) cho rằng, hàng lậu, hàng hóa gian lận thương mại tác động tiêu cực đến nền kinh tế và gây tổn hại cho những tổ chức, cá nhân kinh doanh chân chính.
Triển khai nhiều biện pháp kiểm soát
Ông Nguyễn Hữu Nghiệp, Phó Cục trưởng Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu kiểm soát được hành trình phương tiện vận tải hàng hóa quá cảnh trên đất Việt Nam, sẽ ngăn chặn được tình trạng doanh nghiệp rút ruột hàng.
Vì vậy, Cục Hải quan thành phố kiến nghị ngành Hải quan phối hợp các bộ, ngành liên quan sớm ban hành quy định bắt buộc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình hoặc tem định vị container với các phương tiện vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy nội địa.
Với các phương tiện vận tải đường bộ, Hải quan thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Giao thông - Vận tải chia sẻ dữ liệu hộp đen đã lắp trên mỗi xe tải. Những phương tiện này sẽ được kiểm soát hành trình thường xuyên, liên tục, bảo đảm hàng quá cảnh được vận chuyển đúng tuyến đường, đúng thời gian.
Mặt khác, Hải quan TP. Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh phía Nam đã chủ động phối hợp với Hải quan Campuchia để quản lý “đầu ra” của hàng quá cảnh. Đồng thời, Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh còn kiến nghị các bộ, ngành liên quan chia sẻ thông tin chung để sàng lọc các đối tượng “chủ hàng quá cảnh” có kho bãi trong nội địa Việt Nam để quản lý, ngăn chặn và xử lý vi phạm.
Về phía Tổng cục Hải quan, ông Mai Xuân Thành, Phó Tổng Cục trưởng cho biết, đã có riêng một chuyên đề để tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới phía Nam. Đó là việc toàn ngành tiếp tục triển khai Kế hoạch số 1412/ KH-TCHQ ngày 13/3/2019 của Tổng cục Hải quan về “Tăng cường kiểm soát đối với hàng quá cảnh, tạm nhập - tái xuất từ Việt Nam sang Campuchia”.
Còn về phía Bộ Tài chính, cơ quan này đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan. Theo đó, khi được ban hành, thông tư sẽ có những quy định cụ thể, chặt chẽ hơn để ngành Hải quan hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể gặp phải ở nhiều lĩnh vực, trong đó có quản lý hàng quá cảnh, hàng tạm nhập - tái xuất.
Đó là một trong những nội dung tại Nghị quyết 82/2019/QH14 ngày 14/6/2019 về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị vừa được Quốc hội ban hành.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Những hạn chế trong thời gian vừa qua
Nghị quyết nêu rõ, hệ thống chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị đã được ban hành tương đối đồng bộ, kịp thời, bao quát trên nhiều lĩnh vực, đã cụ thể hóa cơ bản các chủ trương của Đảng, bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, các thông lệ quốc tế, hình thành cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị. Việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đã có những chuyển biến tích cực, hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từng bước được nâng cao, góp phần hạn chế thất thoát, tiêu cực, lãng phí.
Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị vẫn còn những hạn chế, bất cập. Chính sách, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này còn có quy định chưa hợp lý, có sự chồng chéo, chưa thống nhất. Việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp tỉnh ở một số địa phương còn chậm.
Chất lượng các quy hoạch đô thị còn thấp, thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội và tốc độ đô thị hóa, dẫn tới điều chỉnh quy hoạch nhiều lần, có những trường hợp điều chỉnh còn tùy tiện, theo lợi ích của nhà đầu tư, ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, xã hội và các lợi ích hợp pháp của cộng đồng dân cư.
Việc giao đất, cho thuê đất thông qua phương thức đấu thầu dự án có sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất có những trường hợp còn chưa tuân thủ quy trình và quy định của pháp luật, nhiều trường hợp chỉ định nhà đầu tư, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép. Nguồn thu từ đất chưa bảo đảm bền vững, nhiều dự án chậm hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai. Việc áp dụng các phương pháp xác định giá đất cụ thể còn bất cập, nguy cơ thất thoát nguồn thu ngân sách nhà nước.
Khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai vẫn diễn biến phức tạp, còn nhiều vụ việc khiếu kiện đông người, kéo dài. Việc xử lý các vi phạm trong quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị còn chậm, một số trường hợp chưa nghiêm minh. Công tác thanh tra, kiểm toán, giám sát và việc đôn đốc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm toán chưa thường xuyên, một số nội dung chưa được xử lý triệt để…
Cần sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013
Từ thực tế trên, Nghị quyết nêu rõ, Quốc hội cần xem xét, sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật liên quan đến quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị để khắc phục các vướng mắc, bất cập, mâu thuẫn hiện nay, bảo đảm tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị và xây dựng. Tăng cường giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội đối với công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị, góp phần phát hiện, kiến nghị xử lý các tồn tại, hạn chế và vi phạm pháp luật.
Chính phủ tiến hành tổng kết, đánh giá việc thực hiện và trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật có liên quan đến quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các nghị định điều chỉnh lĩnh vực đất đai, quy hoạch đô thị; chỉ đạo các bộ, ngành rà soát, sửa đổi, bổ sung các thông tư liên quan hiện còn vướng mắc, bất cập.
Nghiên cứu làm rõ và có quy định cụ thể về chế độ sử dụng đất đối với công trình xây dựng đa năng có kết hợp chức năng lưu trú như căn hộ khách sạn (condotel), căn hộ văn phòng (officetel), nhà phố thương mại (shophouse)... Bổ sung các quy định về quy hoạch, quản lý, sử dụng không gian ngầm và trên không tại các đô thị; chỉ đạo các địa phương nghiên cứu triển khai quy hoạch không gian ngầm trên địa bàn.
Sớm ban hành Nghị định về việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án theo hình thức xây dựng – chuyển giao. Xác định rõ phạm vi áp dụng dự án theo hình thức xây dựng – chuyển giao và nghiên cứu phương án đấu giá quyền sử dụng đất để thanh toán trực tiếp cho các công trình hạ tầng đầu tư theo hình thức xây dựng – chuyển giao.
Chỉ đạo thực hiện nghiêm việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội thông qua phương thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; làm rõ các trường hợp không đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Có biện pháp ngăn chặn tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép. Kiểm soát chặt chẽ và công khai, minh bạch trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, hoạt động sản xuất và đời sống của người có đất thu hồi.
Rà soát, có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, xác định nguồn lực để đẩy mạnh thực hiện lộ trình di dời trụ sở các bộ, ngành, cơ sở giáo dục đào tạo, bệnh viện, cơ sở công nghiệp, sản xuất... ra ngoài trung tâm các đô thị theo phương án được phê duyệt; bàn giao quỹ đất sau di dời cho địa phương quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công để xây dựng các công trình công cộng theo quy hoạch, ưu tiên xây dựng công viên, cây xanh, bãi đỗ xe, công trình văn hóa, thể thao.
Xây dựng khung giá đất phù hợp với giá thị trường
Chính phủ đổi mới chính sách tài chính về đất đai và giá đất theo hướng hiệu quả, bền vững. Nghiên cứu và đề xuất cơ chế kiểm soát chặt chẽ, khắc phục tình trạng đầu cơ đất đai thông qua chính sách thuế theo hướng người sử dụng nhiều diện tích đất, nhiều nhà ở, đất bỏ hoang, đất đã giao, đã cho thuê nhưng chậm đưa vào sử dụng thì phải chịu mức thuế cao hơn.
Xây dựng khung giá đất phù hợp với giá thị trường. Hoàn thiện các phương pháp xác định giá đất bảo đảm khách quan, minh bạch, phù hợp với giá thị trường; giá đất được tính đúng, tính đủ các giá trị tăng thêm từ các yếu tố lợi thế, trong đó có lợi thế về vị trí địa lý, lợi thế do quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất, đầu tư kết cấu hạ tầng.
Khắc phục bất cập về cơ chế xác định giá thuê đất trong trường hợp cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, bảo đảm phù hợp với giá thị trường, tránh thất thoát ngân sách nhà nước. Nghiên cứu thu hẹp các trường hợp cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, chuyển sang hình thức cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm, bảo đảm nguồn thu ổn định từ đất đai.
Nghiên cứu cơ chế cơ quan tham mưu xây dựng giá đất độc lập với cơ quan thẩm định giá đất. Chỉ đạo các địa phương rà soát, xử lý các trường hợp chậm hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật.
Sớm rà soát, sửa đổi các quy chuẩn về xây dựng, quy hoạch đô thị. Phê duyệt các quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc tại các đô thị, bảo đảm phù hợp với pháp luật về quy hoạch, kiến trúc, làm cơ sở quản lý quy hoạch đô thị và triển khai các dự án đầu tư xây dựng.
Chỉ đạo các địa phương lập đồng bộ các loại quy hoạch đô thị, khẩn trương lập các quy hoạch chi tiết theo quy định; tiến hành rà soát, đánh giá và đề ra các giải pháp khắc phục đối với các quy hoạch chi tiết bị điều chỉnh không đúng quy định; lập kế hoạch đầu tư và đầu tư đồng bộ giữa hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội với phát triển nhà ở, công trình thương mại dịch vụ và công trình khác theo quy hoạch được duyệt; không cấp phép xây dựng công trình cao tầng tại trung tâm các đô thị trái với quy hoạch được phê duyệt, gây quá tải hạ tầng kỹ thuật, xã hội khu vực dự án; rà soát các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã quá thời hạn thực hiện, có biện pháp xử lý dứt điểm để bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất.
Yêu cầu các địa phương thực hiện nghiêm việc rà soát và công bố công khai các dự án vi phạm trên trang thông tin điện tử của địa phương; kiên quyết thu hồi đất theo quy định của pháp luật đối với những dự án không đưa đất vào sử dụng, dự án triển khai chậm tiến độ, dự án đã bị chấm dứt chủ trương đầu tư, dự án sử dụng đất sai mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị, xây dựng và bảo vệ môi trường…
Bên cạnh đó, Kiểm toán Nhà nước tăng cường kiểm toán các nội dung có liên quan đến hoạt động quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị khi xây dựng chương trình kiểm toán hằng năm. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi phạm tội liên quan đến quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị.
Rà soát thực trạng, nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách để quản lý, xử lý nghiêm việc người Việt Nam đứng tên thay cho người nước ngoài để mua nhà, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất trái pháp luật..."
Theo nhiều chuyên gia kinh tế cấp cao thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các quốc gia không nên lạm dụng chính sách nới lỏng tiền tệ để cứu nền kinh tế.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Trong bối cảnh dự báo tăng trưởng toàn cầu chững lại đi cùng lạm phát duy trì ở mức thấp, hàng loạt ngân hàng trung ương gần đây đã cắt giảm lãi suất để thúc đẩy nền kinh tế; và những động thái tương tự dự kiến sẽ được một số ngân hàng khác tiến hành vào cuối năm nay. Mục đích của hành động này là để giảm chi phí cho vay, với hy vọng khuyến khích người tiêu dùng và doanh nghiệp tăng chi tiêu cũng như đầu tư.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế thuộc IMF là Gita Gopinath, Luis Cubeddu và Gustavo Adler, xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ của một loạt nền kinh tế đã phát triển cũng như mới nổi trong thời gian gần đây có thể sẽ khiến bản thân họ hưởng lợi, song cũng có thể gây ra hậu quả xấu cho các quốc gia khác, từ đó châm ngòi cho chiến tranh tiền tệ.
Mặc dù chính sách nới lỏng có thể giúp kích thích nhu cầu nội địa, từ đó giúp các quốc gia khác hưởng lợi do nhu cầu mua sắm tăng lên; song IMF bày tỏ quan ngại rằng, hành động này có thể khiến tỷ giá hối đoái suy yếu. Lý do là vì việc giảm giá đồng nội tệ sẽ khiến xuất khẩu trở nên cạnh tranh hơn và làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu từ những nước khác do giá cả tăng - một hiệu ứng được gọi là “chuyển đổi chi tiêu” (expenditure switching).
Phá giá tiền tệ: Tâm điểm của căng thẳng thương mại
Bên cạnh đó, hành vi phá giá tiền tệ đã và đang trở thành một trong những vấn đề nóng đối với căng thẳng thương mại toàn cầu.
Tháng trước, chính phủ Mỹ đã cáo buộc Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ. Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump vào tháng 6/2019 cũng công kích Chủ tịch Ngân hàng châu Âu Mario Draghi vì những bình luận mang hơi hướng nới lỏng tiền tệ của ông đã khiến giá trị đồng EUR giảm khá mạnh so với đồng USD.
"Khi không gian dành cho việc thay đổi chính sách tiền tệ tiêu chuẩn của một số nền kinh tế đã phát triển bị hạn chế, phá giá đồng tiền sẽ nhận được sự chú ý đáng kể", IMF cho biết.
“Song, không nên quá kỳ vọng rằng việc nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ đủ sức làm suy yếu đồng tiền của một quốc gia đến mức có thể mang lại sự cải thiện lâu dài trong cán cân thương mại thông qua chuyển đổi chi tiêu”, IMF cảnh báo.
Nguyên nhân là vì chỉ một mình chính sách tiền tệ sẽ không đủ sức gây ra “sự mất giá lớn và liên tục” - điều kiện bắt buộc phải có để đạt được sự cải thiện lâu dài trong cán cân thương mại. Tác động "chuyển đổi chi tiêu" đến từ phá giá tiền tệ nói chung là rất nhỏ, các chuyên gia kinh tế thuộc IMF kết luận.
Theo tổ chức này, một đồng tiền được điều chỉnh giảm 10% chỉ giúp cải thiện cán cân thương mại của quốc gia đó khoảng 0,3% GDP trong một năm, chủ yếu thông qua việc thu hẹp khối lượng hàng hóa nhập khẩu vì hoạt động thương mại phần lớn được tính theo đồng USD. Trong ba năm, mức cải thiện sẽ lên khoảng 1,2% GDP, khi xuất khẩu phản ứng mạnh hơn với biến động tỷ giá, dù vậy “hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu đầy đủ vẫn khá khiêm tốn”.
Thuế quan phản tác dụng
Ngoài ra, IMF cũng đề cập đến những biện pháp bị xem là phản tác dụng của các nhà hoạch định chính sách khi muốn giảm thiểu tác động bất lợi do đồng nội tệ tăng giá như áp thuế đối với hàng nhập khẩu từ các nước có đồng tiền được coi là bị định giá thấp.
Các chuyên gia kinh tế nhấn mạnh, thuế quan và tỷ giá hối đoái hoạt động rất khác nhau, và việc áp thuế nhập khẩu 10% không thể bù lại mức tăng giá 10% của đồng nội tệ, dẫn chứng từ các diễn biến gần đây trong chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.
“Từ đầu năm 2018, mức thuế trung bình của Mỹ áp trên hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng khoảng 10 điểm phần trăm và sẽ tăng thêm 5 điểm phần trăm nữa nếu kế hoạch áp thuế bổ sung gần đây trở thành hiện thực. Trong khi đó, đồng CNY đã mất giá khoảng 10% so với đồng USD, phần lớn là do những hành động thương mại và sự không chắc chắn này. Sự linh hoạt của đồng CNY đã giúp nó trở thành công cụ chống lại các cú sốc thương mại”, các chuyên gia kinh tế của IMF cho biết.
Dù nhiều người nghĩ tác động của mức thuế quan cao hơn đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc có thể được bù đắp bằng một đồng USD mạnh hơn khi giá cả hàng Trung Quốc đã sụt giảm, song trên thực tế, các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng Mỹ mới là đối tượng phải chịu gánh nặng thuế quan này. “Lý do: Sự mạnh lên của đồng USD đến nay chỉ có tác động tối thiểu lên giá hàng xuất khẩu của Trung Quốc vì hóa đơn thanh toán đều bằng đồng USD”.
Thêm vào đó, IMF cũng chỉ ra, hàng rào thuế quan song phương khó có thể làm giảm tình trạng mất cân bằng thương mại, song chỉ đơn thuần chuyển nó sang nơi khác, mà lại còn gây hại cho cả tăng trưởng nội địa lẫn quốc tế khi làm xói mòn niềm tin doanh nghiệp, khiến đầu tư suy giảm, phá vỡ chuỗi cung ứng, đẩy chi phí của nhà sản xuất, người tiêu dùng lên cao.
Giải pháp là gì?
Do đó, thay vì áp thuế, các quốc gia chịu thâm hụt thương mại như Mỹ, Anh nên đặt mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách mà không gây ảnh hưởng tới tăng trưởng, cũng như tăng cường sự cạnh tranh của các ngành công nghiệp xuất khẩu. Chính phủ nên tăng đầu tư để cải thiện kĩ năng của lực lượng lao động và khuyến khích tiết kiệm lâu dài, IMF khuyên.
Đối với các nước có thặng dư thương mại như Đức và Hàn Quốc, chính phủ nên triển khai những chính sách tài khóa đầu tư nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng, trong khi áp dụng các biện pháp cải cách để khuyến khích đầu tư tư nhân, như giảm thuế dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, hoặc hạ thấp rào cản đối với các ngành nghề chịu nhiều ràng buộc.
IMF cũng kêu gọi tất cả nước thặng dư và thâm hụt tìm giải pháp lâu dài cho những tranh chấp thương mại để giải quyết các mối lo ngại về trợ cấp xuất khẩu cũng như sự yếu kém trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thay vì sử dụng thuế quan và phá giá tiền tệ.
Sau khi tăng hơn 30 USD/ounce trong phiên giao dịch cuối tuần qua, giá vàng quốc tế sáng ngày 26/8 mở cửa đầu ngày tăng vọt thêm 20 USD/ounce, lên gần mốc 1.550 USD/ounce trong phiên giao dịch châu Á.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Đây là mức cao nhất kể từ tháng 4/2013 đến nay. Tính từ đầu tháng 8/2019 đến nay, thị trường vàng quốc tế đã bứt phá hơn 9%, tương đương với 130 USD/ounce.
Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang sau khi Bắc Kinh và Washington thay phiên áp thuế lẫn nhau đã thúc đẩy giới đầu tư tìm đến vàng như một tài sản trú ẩn an toàn trong bối cảnh rủi ro tăng cao.
Trung Quốc cho biết đang chuẩn bị nâng thuế từ 5-10% theo hai giai đoạn đối với 75 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ vào ngày 1/9/2019 và ngày 15/12/2019, trùng với ngày mà Washington dự kiến sẽ tăng thuế nhập khẩu với 300 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc từ 10% lên 15%. Đồng thời, Nhà Trắng cũng sẽ nâng thuế từ 25% lên 30% đối với 250 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc từ ngày 1/10/2019.
Hệ quả là thị trường tài chính toàn cầu hỗn loạn; trong đó, cổ phiếu là nạn nhân lớn nhất khi sắc đỏ bao trùm các thị trường từ Á, Âu đến Mỹ. Cộng thêm dấu hiệu suy thoái khi đường cong lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ bị đảo ngược, dòng tiền rút ra khỏi các tài sản rủi ro như cổ phiếu càng có động lực chạy vào các kênh đầu tư an toàn như vàng, khiến giá kim loại quý này leo cao.
Trong khi đó, Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell cuối tuần qua đã có bài phát biểu tại hội nghị ở Jackson Hole và cho biết FED "sẽ hành động thích hợp để duy trì đà tăng trưởng". Tuyên bố này đưa đến kỳ vọng ngân hàng trung ương lớn nhất thế giới này sẽ tiếp tục có động thái nới lỏng tiền tệ, sau khi đã có đợt giảm lãi suất gần đây xuống 2-2,25% vào tháng 7/2019.
Về cơ bản, khi FED nới lỏng tiền tệ sẽ giúp vàng tiếp tục đi lên trong khi gây áp lực lên đồng USD. Chỉ số đồng USD vốn đo lường sức mạnh của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác, đã rớt 0,5% vào hôm thứ sáu từ mức cao gần 98,5 về tận gần 97 điểm. Đồng USD suy yếu có thể thúc đẩy nhu cầu hàng hóa được định giá bằng đồng bạc xanh như vàng tiếp tục đi lên.
Chạy theo diễn biến giá vàng quốc tế, giá vàng trong nước hôm nay cũng nhảy vọt thêm 500.000/lượng, với giá vàng SJC mua vào tăng lên 42,6 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra đã tiếp cận mốc 43 triệu đồng/lượng. Tính từ đầu tháng 8/2019 đến nay, giá vàng SJC trong nước dù tăng chậm hơn giá thế giới nhưng cũng đã tăng gần 9%, từ mức 39,5 triệu đồng/lượng lên gần 43 triệu đồng/lượng theo giá bán ra.
Tuy nhiên, khác với tình trạng đổ xô đi mua vàng mỗi khi giá tăng cao trước đây, thì giao dịch trên thị trường trong thời gian qua vẫn khá ổn định. Hiện tại, giá vàng niêm yết trong nước vẫn ở mức thấp hơn so với giá vàng quốc tế quy đổi, cho thấy chưa có tình trạng đẩy giá. Tuy nhiên, nếu xu hướng này tiếp tục, không loại trừ khả năng sẽ kích thích làn sóng ồ ạt mua vàng vào để lướt sóng đầu cơ, mà có thể gây bất ổn cho nền kinh tế.
Dù vậy, với việc tăng giá quá mạnh chỉ trong thời gian ngắn vừa qua, giá vàng đang đứng trước rủi ro điều chỉnh trở lại để tìm điểm cân bằng. Theo đó, bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc hạ nhiệt đều sẽ gây áp lực lên thị trường kim loại quý này.
Vì vậy, rủi ro của việc mua vàng trong thời điểm giá đang ở mức cao này dường như đang lớn hơn. Hiện tại, giá vàng quốc tế cũng đang cho tín hiệu điều chỉnh, khi đang rớt gần 20 USD/ounce so với mức cao đầu ngày sáng nay.
Theo các chuyên gia, việc các ngân hàng thương mại trong nước và cá nhân đầu tư trái phiếu doanh nghiệp bất động sản dễ xảy ra những rủi ro. Mặc dù có thể kiểm soát được dòng vốn từ các doanh nghiệp này, nhưng khi thị trường bất động sản “vỡ” thì cũng khó có thể trở tay kịp thời.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam liên tục phát hành trái phiếu để huy động vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản. Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có công văn gửi các ngân hàng thương mại trong nước yêu cầu kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp bất động sản.
“Ồ ạt” đầu tư trái phiếu bất động sản
Theo thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam tăng trưởng lần lượt là 29,5% và 30,1% trong các năm 2017 và 2018.
Ước tính trong 6 tháng đầu năm 2019, có 89.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành, tăng 34% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong danh sách này có tên hầu như tất cả các doanh nghiệp bất động sản lớn thuộc Vingroup, Khang Điền, Đất Xanh, Novaland, Phát Đạt.
Trong đó, các doanh nghiệp bất động sản, xây dựng, hạ tầng đã phát hành gần 20.000 tỷ đồng. Đây cũng là nhóm ngành có lãi suất cao nhất, phổ biến trên 10%/năm. Thậm chí, một số doanh nghiệp bất động sản đã phát hành trái phiếu với mức lãi suất trên 14,5%/năm.
Chị Thu Hằng (quận Cầu Giấy, Hà Nội) mới đây cho biết một nhân viên ngân hàng khi làm đáo hạn sổ tiết kiệm trị giá 2 tỷ đồng cho chị đã chào mời mua trái phiếu của doanh nghiệp bất động sản với mức lãi suất 10,5%/năm với kỳ hạn 3 năm.
Nhân viên ngân hàng thuyết phục chị rằng với mức lãi suất này, mỗi năm với 2 tỷ đồng sẽ được nhận hơn 200 triệu đồng tiền lãi. Còn lãi suất ngân hàng từ 6,99-7,99%/năm thì mỗi năm chỉ nhận được hơn 100 triệu đồng tiền lãi. Thấy đây cũng là một kênh đầu tư sinh lời cao, nên chị đã quyết định đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp bất động sản này.
Giám đốc một bộ phận chuyên môn nghiệp vụ của Techcombank cho biết nhiều tổ chức ngân hàng và cá nhân hiện nay đầu tư trái phiếu doanh nghiệp bất động sản, vì đây là một kênh đầu tư sinh lời, so với lãi suất ngân hàng rõ ràng lãi suất trái phiếu cao hơn.
Tuy nhiên, theo góc nhìn của vị giám đốc này, việc đầu tư trái phiếu doanh nghiệp bất động sản cũng tiềm ẩn rủi ro cho cả tổ chức ngân hàng và cá nhân khách hàng.
Trước đó, NHNN đã có công văn gửi tới các ngân hàng thương mại trong nước yêu cầu kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp bất động sản.

Rủi ro cao
Tại công văn, NHNN cho biết hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp của một số ngân hàng thương mại trong nước đang tiềm ẩn rủi ro khi các ngân hàng này có số dư trái phiếu doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và tiếp tục tăng nhanh.
Đặc biệt, số dư đầu tư trái phiếu vào lĩnh vực xây dựng, bất động sản lớn khi thị trường bất động sản chưa hồi phục vững chắc, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn.
Bình luận xung quanh vấn đề này, theo Giám đốc bộ phận chuyên môn nghiệp vụ của Techcombank, về nguyên tắc cá nhân đầu tư trái phiếu doanh nghiệp bất động sản rủi ro cao, vì doanh nghiệp bất động sản vay không có tài sản bảo đảm, khách hàng không quản lý dòng tiền thu được từ dự án bất động sản.
Đối với các tổ chức ngân hàng đầu tư vào trái phiếu, các doanh nghiệp bất động sản vay có tài sản bảo đảm, tài sản đó là dự án, ngân hàng kiểm soát được dòng tiền xem có sử dụng đúng mục đích không, thậm chí còn quản lý được dòng tiền thu được từ dự án.
Nhấn mạnh về nguyên nhân NHNN ban hành công văn, vị giám đốc này cho biết do các ngân hàng thương mại mặc dù giữ tài sản bảo đảm nhưng luôn định giá vốn. Ngân hàng thương mại kiểm soát dòng tiền đầu tư trái phiếu thì hời hợt để doanh nghiệp mang tiền đi làm việc khác, không đưa vào dự án, vẽ dự án ma để bán trái phiếu. Chính vì vậy, NHNN đã cảnh báo vì đầu tư cho vay bất động sản quá cao, quá rủi ro.
“Tuy nhiên, xu hướng cá nhân hiện nay vẫn đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp bất động sản, vì họ chọn trái phiếu thời hạn ngắn của các doanh nghiệp bất động sản đang có uy tín, làm ăn có lãi trên thị trường. Quan điểm của họ cho rằng chưa thể sập ngay được trong vòng vài năm. Còn các trái phiếu của nhiều doanh nghiệp khác mới, chưa có uy tín thì không nên mua”, vị giám đốc này nói.
Còn theo TS. Nguyễn Minh Phong, chuyên gia kinh tế, việc NHNN ban hành công văn cảnh báo là cần thiết. Trên thực tế, trong vấn đề này có đảm bảo tài sản từ ngân hàng, nợ của doanh nghiệp trở thành trái phiếu, khi doanh nghiệp bất động sản phá sản thì ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng và nợ xấu tăng lên.
Mặc dù trong chính sách nợ có phần biến nợ thành trái phiếu, thành cổ phần, nhưng không phải khuyến khích tất cả, nên Nhà nước phải có động thái kiểm soát.
Đối với cá nhân, ông Phong cho rằng đầu tư vào trái phiếu phụ thuộc vào uy tín của doanh nghiệp phát hành. Nếu doanh nghiệp làm ăn tốt thì khách hàng được hưởng lợi. Tuy nhiên, thị trường bất động sản luôn trồi sụt, nóng lạnh bất ngờ, trái phiếu của doanh nghiệp bất động sản trả lãi rất cao, nếu không thu hồi được vốn, trả lãi cao thì doanh nghiệp mất thanh khoản. Như vậy, cá nhân đầu tư vào trái phiếu mà doanh nghiệp bất động sản không có tài sản bảo đảm sẽ rủi ro rất lớn.
Trong 6 tháng qua, thị trường bất động sản (BĐS) ở Quảng Nam và Đà Nẵng trở nên rất ảm đạm. Sau những vụ lùm xùm của các chủ đầu tư và nhà phân phối, nhiều nhà đầu tư đã mất niềm tin vào thị trường này và có xu hướng tháo chạy để tìm vùng đất đầu tư mới an toàn hơn.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Cò đất tháo chạy
Thời điểm cuối năm 2018, một lô đất có diện tích khoảng 100m2 tại khu đô thị Hòa Xuân có giá trên dưới 3 tỷ đồng, khu đô thị Golden Hills hơn 2 tỷ đồng. Đến đầu năm 2019, cũng diện tích này, giá bán đã cao hơn nhiều. Chẳng hạn, tại khu đô thị Hòa Xuân giao dịch giá từ 3.8 – 4.5 tỷ đồng, khu đô thị Golden Hills giao động từ 2.8 – 3.5 tỷ đồng.
Nhưng hiện tại, cơn sốt đất tại đây đã không còn nữa, cò đất đã tháo chạy, khiến thị trường bất động sản ở Đà Nẵng và vùng ven Quảng Nam rất ảm đạm. Mặc dù giá đất đã giảm nhưng vẫn rất ít giao dịch và xu hướng này đang có chiều hướng gia tăng.
Nhiều nhà đầu tư bất động sản cho rằng, sở dĩ thị trường BĐS ở đây giảm nhiệt là do giới 'cò' trước đây đã dùng các chiêu trò 'thổi' giá đất lên quá cao. Những 'cò cá mập' đã ôm đủ lãi và rút lui, để lại đây một thị trường tiêu điều và khốn khổ của những người bị 'sập bẫy'.
Cùng với đó là sự vào cuộc kịp thời của chính quyền như: các quận trên địa bàn Đà Nẵng đã tiến hành tháo dỡ hàng trăm ki ốt giao dịch bất động sản xây dựng trái phép đã góp phần lập lại trật tự, ổn định tình hình.
Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cũng đã có công văn chỉ đạo Công an Thành phố và các đơn vị liên quan khẩn trương vào cuộc điều tra, xử lý nghiêm những đối tượng “cò đất” tung tin thất thiệt, bịa đặt nhằm 'thổi' giá đất…
Con sâu làm rầu nồi canh
Bên cạnh việc cò đất tung tin, đẩy giá rồi tháo chạy khiến nhà đầu tư lao đao thì sự lùm xùm pháp lý tại một số dự án, lùm xùm giữa chủ đầu tư và nhà phân phối cũng khiến các nhà đầu tư không khỏi hoang mang.
Điển hình như các dự án của Công ty Cổ phần Bách Đạt An và đơn vị phân phối Hoàng Nhất Nam không ra sổ đỏ được cho khách hàng như đã cam kết. Sau đó, những dự án của Công ty CP Bách Đạt An đã bị UBND tỉnh Quảng Nam thanh tra toàn diện.
Mới đây, ông Đinh Văn Thu, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đã yêu cầu Sở Xây dựng kiểm tra, xử phạt hành chính về các sai phạm trong hoạt động đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản đối với Công ty TNHH sản xuất và thương mại Bách Đạt (nay là Công ty CP Bách Đạt An) làm chủ đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Thanh tra tỉnh cũng được giao phải làm rõ trách nhiệm của Sở TN&MT, Sở Xây dựng, UBND thị xã Điện Bàn và Ban Quản lí phát triển đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc (hiện đã giải thể) và các cá nhân có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo xử lí trách nhiệm theo qui định của pháp luật.
Tiếp đến, Công ty CPĐT&PT Đô thị Dana Home Land thi công trái phép một số hạng mục tại Khu biệt thự song lập (B3-1) - Dự án Khu đô thị số 6 cũng khiến không ít khách hàng và giới đầu tư bất an, mất lòng tin.
Mới đây lại có lùm xùm giữa Công ty CP GTVT Quảng Nam, Công ty Cổ phần Đầu tư kinh doanh nhà Phú Gia Thịnh và khách hàng tại dự án ở Khu đô thị số 4 Điện Nam – Điện Ngọc khi chủ đầu tư và nhà phân phối cũng không ra sổ đúng hẹn như đã cam kết với khách hàng…
Theo một chuyên gia về BĐS cho rằng, cần phải có thời gian để thị trường BĐS Đà Nẵng, Quảng Nam điều chỉnh, cũng như để nhà đầu tư lấy lại niềm tin qua các vụ lùm xùm về mua bán dự án trong thời gian vừa qua.
Ngày 28/8/2019, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng và ông Abdulhamid Alkhalifa, Tổng Giám đốc Quỹ Phát triển Quốc tế của Tổ chức các nước Xuất khẩu dầu mỏ (OFID) đã ký kết Hiệp định vay trị giá 45 triệu USD cho Dự án “Cải thiện hạ tầng giao thông TP. Đà Nẵng”.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng và ông Abdulhamid Alkhalifa, Tổng Giám đốc Quỹ Phát triển Quốc tế của Tổ chức các nước Xuất khẩu dầu mỏ (OFID) đã ký kết Hiệp định vay.
Chứng kiến lễ ký có ông Đặng Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng; đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, TP. Đà Nẵng và lãnh đạo các đơn vị của Bộ Tài chính.
Dự án “Cải thiện hạ tầng giao thông TP. Đà Nẵng” có tổng mức đầu tư là 61,37 triệu USD, trong đó vốn vay Quỹ OFID là 45 triệu USD, vốn đối ứng trong nước khoảng 16,37 triệu USD được bố trí từ nguồn ngân sách của TP. Đà Nẵng. Cơ quan chủ quản của Dự án là UBND TP. Đã Nẵng; Cơ quan thực hiện - chủ đầu tư là Ban Quản lý các Dự án Đầu tư Cơ sở Hạ tầng ưu tiên TP. Đà Nẵng.
Dự án ký kết nhằm xây dựng hoàn chỉnh khoảng 14,3 km tuyến đường Vành đai phía Tây 2, có bề rộng khoảng từ 44-48m, các cầu trên tuyến có bề rộng 38,5m và hạ tầng kỹ thuật khác gồm hệ thống thoát nước, cống kỹ thuật, cây xanh, điện chiếu sáng và di dời các công trình hạ tầng hiện trạng; Xây dựng hoàn chỉnh khoảng 1,2km đường trải nhựa kết nối cầu Cổ Cò tới nút giao đường Trần Đại Nghĩa, đường Võ Chí Công và các hạ tầng kỹ thuật khác; Thi công 100m cầu vắt ngang sông Cổ Cò và nối từ đường Võ Quý Huân tới đường Võ Chí Công.
Dự án “Cải thiện hạ tầng giao thông TP. Đà Nẵng” dự kiến được hoàn thành vào cuối năm 2022 sẽ giúp TP. Đà Nẵng phát triển cơ sở hạ tầng giao thông một cách hiệu quả và bền vững, qua đó, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân, giảm tai nạn giao thông, giảm ô nhiễm môi trường và cải thiện điều kiện đi lại của người dân Thành phố.
Nếu tại Nhật, người dân nước này coi những chiếc keicar là ưu tiên số một trong lựa chọn xe đi lại, hoặc giả là các dòng xe nội địa, xe của hãng Nhật sẽ được lựa chọn thì tại Việt Nam, xu hướng tiêu dùng xe hơi đang đa dạng hơn, phức tạp và khó nắm bắt hơn.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Loay hoay tìm xe chiến lược cho Việt Nam
Rất nhiều chuyên gia về xe hơi Việt Nam cho biết hiện không có câu trả lời rõ ràng về dòng xe chiến lược cho người Việt. Dựa vào số tiêu thụ xe hơi hiện nay, sedan vẫn là dòng xe có doanh số cao nhất, chiếm khoảng 50 - 60% thị phần tiêu dùng và thị trường xe du lịch Việt. Tuy nhiên, để chọn sedan là xe chiến lược cho Việt Nam không hề dễ.
Trong khi đó, ở phân khúc đang nóng bỏng hiện nay là xe giá rẻ hatchback, trong hai năm trở lại đây, dòng xe này nhận được sự quan tâm rất lớn trên thị trường với doanh số cao. Tuy nhiên, qua thời gian dòng xe này đã tỏ rõ nhược điểm: Gầm thấp, chở ít người, tiêu chuẩn xe không cao, dễ tổn thương do ngập lụt đô thị và là sự lựa chọn thứ yếu để di chuyển xa.
Với ưu điểm là giá rẻ, dáng nhỏ gọn, phù hợp với đường sá nhỏ hẹp ở đô thị, hatchback đã tỏ rõ sự lợi hại ở thành thị và mấy năm nay, dòng xe này đã được rất nhiều ông lớn đổ bộ đầu tư.
Hiện, xe có giá từ 300 đến dưới 500 triệu đồng được mặc định là xe giá rẻ ở Việt Nam, hai thương hiệu đi đầu phân khúc này là Kia Morning và Hyundai Grand i10. Tuy nhiên, gần đây các ông lớn này cũng phải chia sẻ thị trường xe phân khúc nhóm A cho các đối tác nhập khẩu khác như Honda với Brio hay Toyota với Wigo và hãng xe nội địa VinFast với mẫu Fadil.
Theo chuyên gia ô tô của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), thị trường có, nguồn cung dồi dào là cơ sở để Việt Nam ưu tiên, chọn các mẫu hatchback làm xe chiến lược, "xe quốc dân" của mình giống như Keicar của Nhật, pickup của Thái Lan chẳng hạn.
Tuy nhiên, để lựa chọn dòng xe hatchback giá rẻ này làm xe chiến lược, không phải ai cũng hài lòng, nhất là bối cảnh người Việt có mức thu nhập thấp, để mua chiếc xe giá rẻ, họ phải dành dụm tiêu dùng ít nhất 2 - 3 năm, nhiều có thể 5 - 10 năm. Xe giá rẻ tại Việt Nam thực tế chỉ rẻ so với thu nhập của người dân đô thị, còn đối với nông thôn, nó vẫn là phương tiện giao thông tương lai.
Theo cách tính thu nhập bình quân GDP/người của người Việt, năm 2018, thu nhập của người Việt vào khoảng 59 triệu đồng/người/năm. Trong khi đó, theo các báo cáo của Nielsen, Q&Me, người Việt chi tiêu khoảng 50% tổng thu nhập cho các hoạt động nhà ở, ăn uống, mua sắm gia đình, chữa bệnh; 20% dành cho con cái học tập và cưới hỏi, lễ nghĩa... còn lại mới là khoản tiền dành cho tiết kiệm.
Người Việt phải bỏ nhiều tiền để chơi xe
Như vậy, với hộ có thu nhập bình quân đầu người bằng với bình quân chung của cả nước, nếu sức khỏe tốt sẽ phải mất ít nhất 3 năm mới đủ tiền tiết kiệm mua xe.
Trong khi đó, hơn 90% người sở hữu xe hơi là những người thu nhập trung bình hoặc cao ở Việt Nam, chính vì vậy chiếc xe không còn chỉ là phương tiện di chuyển mà để thể hiện sự an toàn, vị thế trong xã hội và thuận lợi trong các quan hệ đối tác. Chính vì vậy, những chiếc xe quá rẻ, quá nhỏ, nghiễm nhiên không được chọn.
Theo lời một giám đốc truyền thông của tập đoàn xe hơi tại Việt Nam: "Để kinh doanh ổn định, tôi luôn muốn chọn các dòng xe giá rẻ. Nhưng để có lợi nhuận, tôi phải chọn dòng xe cao cấp hơn".
Gần đây, thị trường xe hơi Việt nổi lên các dòng xe đa dụng cỡ nhỏ, xe đô thị có kiểu dáng bắt mắt và phù hợp với đa số tầng lớp người dân giàu nhanh.
Theo thống kế của VAMA, doanh số các dòng xe SUV và MPV trong 7 tháng qua đã tăng mạnh, cụ thể lượng bán ra xe SUV đạt hơn 32.000 chiếc, tăng gần 20.000 chiếc so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ tiêu dùng xe SUV đang bằng gần 60% so với xe sedan. Trong khi đó, mẫu xe MPV cũng có doanh số đạt hơn 18.500 chiếc, tăng hơn 7.500 chiếc so với cùng kỳ. Cả hai dòng xe đều có mức tăng mạnh hơn so với mức tăng doanh số của mẫu sedan.
Không thể phủ nhận thực tế, các dòng xe đa dụng đô thị của SUV, MPV hiện nay có giá bán đều trên 600 triệu đồng/chiếc, cộng chi phí lăn bánh có thể lên trên 700 triệu đồng, gấp 11 lần thu nhập/năm của người Việt bình thường. Như vậy, nếu phải ăn dè hà tiện, tiết kiệm 11 năm, theo thu nhập hiện nay người bình thường mới có thể mua được xe.
Theo ông Nguyễn Việt, một doanh nghiệp kinh doanh xe hơi tại Việt Nam: "Việt Nam đã từng chọn xe chiến lược là các dòng MPV gia đình, có khung trục của các dòng xe cỡ lớn chở được cả gia đình, kinh tế hơn và nếu doanh nghiệp nắm vững thiết kế có thể cho nhiều biến thể khác nhau. Tuy nhiên, sau khi nội địa hóa Innova dừng lại, từ đó đến nay không còn dòng xe chiến lược của Việt Nam, về cơ bản Việt Nam không có dòng xe chiến lược, thị trường chạy theo xu hướng của người tiêu dùng và doanh nghiệp đặt ra, về lâu dài sẽ không có lợi cho nhóm doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, lắp ráp xe trong nước".
Mặc dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) kiểm soát đầu tư trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), song TPDN vẫn đang là kênh huy động vốn hiệu quả cho doanh nghiệp trong bối cảnh tín dụng trung- dài hạn bị siết chặt.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo Bộ Tài chính, trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng mức phát hành trái phiếu doanh nghiệp là 116.085 tỷ đồng, tăng 74% so với cùng kỳ 2018.
Bùng nổ trái phiếu doanh nghiệp
Ngoài giá trị số lượng phát hành và dư nợ trái phiếu ghi nhận tăng trưởng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một số ngân hàng, đặc biệt là trái phiếu của các doanh nghiệp bất động sản (BĐS) và xây dựng, thì thị trường trái phiếu cũng xuất hiện các đợt phát hành thành công giá trị lớn của nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác.
Điều này được cho là các doanh nghiệp đã nỗ lực tìm nguồn vốn trung và dài hạn, ổn định hơn trong bối cảnh tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn bị siết lại, nhiều ngân hàng thương mại phải giảm cho vay với “quota” tín dụng thấp nhằm đảm bảo tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (CAR) theo quy định của NHNN.
Ngoài ra, so với những năm trước đây, khi chính sách tín dụng thắt chặt, nếu thị trường chứng khoán còn tăng trưởng và các nhà đầu tư vẫn đặt niềm tin lớn vào cổ phiếu, các doanh nghiệp vẫn có điều kiện phát hành cổ phiếu riêng lẻ để huy động hoặc chào bán lần đầu ra công chúng (IPO). Tuy nhiên từ năm 2019, thị trường chứng khoán đã bắt đầu ảm đạm, nên doanh nghiệp cũng gặp khó khăn huy động vốn qua kênh này.
Trước thực trạng trên, hàng loạt doanh nghiệp cả địa ốc lẫn sản xuất, kinh doanh đã đẩy mạnh phát hành trái phiếu để bổ sung vốn lưu động, tái cấu trúc tài chính…
Cảnh báo rủi ro là cần thiết
Công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang được Bộ Tài chính ứng dụng sâu rộng vào hầu hết các hoạt động nghiệp vụ tài chính, góp phần quan trọng trong nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý tài chính - ngân sách. Chia sẻ với Cổng TTĐT Bộ Tài chính, ông Nguyễn Đại Trí - Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính cho biết, những nỗ lực không ngừng trong nhiều năm qua của Bộ Tài chính đã được ghi nhận khi liên tiếp dẫn đầu bảng xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo công bố của Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Tin học Việt Nam, Bộ Tài chính tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT (Vietnam ICT Index 2019). Đây cũng là năm thứ 7 liên tiếp Bộ tài chính đứng ở vị trí số 1, Ông đánh giá như thế nào về kết quả này?
Có thể nói, kết quả này đã phản ánh chân thực những nỗ lực không ngừng của Bộ Tài chính trong hoạt động triển khai ứng dụng CNTT trong những năm qua. Thời gian qua, ngành Tài chính đã có những bước phát triển nhanh và vững chắc, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đến nay, công nghệ thông tin đã được ứng dụng sâu, rộng vào hầu hết các hoạt động nghiệp vụ tài chính, trở thành huyết mạch trong các hoạt động nghiệp vụ chủ chốt như: quản lý điều hành ngân sách nhà nước; quản lý thu-chi ngân sách nhà nước; thanh toán điện tử và quản lý trái phiếu chính phủ; quản lý trong lĩnh vực thuế, hải quan; triển khai thuế điện tử, hải quan điện tử, cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN; quản lý nợ công; quản lý giá, quản lý tài sản công; quản lý, giám sát thị trường tài chính; quản lý dự trữ nhà nước....; cùng các nhiệm vụ quản lý nội ngành.
Việc Bộ Tài chính liên tiếp dẫn đầu Vietnam ICT Index gần một thập kỷ qua đã cho thấy sự ủng hộ, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ cùng quyết tâm và cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tài chính trong việc triển khai ứng dụng CNTT. Cùng với đó là nỗ lực không nhỏ của các cán bộ làm công tác CNTT và thống kê ngành Tài chính.

Ông Nguyễn Đại Trí - Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính, Bộ Tài chính
Theo ông, điều gì đã giúp cho Bộ Tài chính luôn giữ vững vị trí dẫn đầu bảng xếp hạng Vietnam ICT Index 2019?
Thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và của Bộ Tài chính như: Nghị quyết 36a/NQ-CP, Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 02-NQ/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính…, nhiệm vụ triển khai ứng dụng CNTT đối với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính để hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược Tài chính và thực hiện theo định hướng đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp, đặc biệt trong xu thế cách mạng 4.0… là rất lớn và khó khăn.
Tuy nhiên, với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ, sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị liên quan trong Bộ, cùng sự quyết tâm, nỗ lực cao của đội ngũ cán bộ công chắc làm công tác CNTT – Thống kê tài chính, chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Có thể kể đến những kết quả chính mà Bộ Tài chính đã đạt được như sau:
Đã phát triển, quản lý và vận hành nhiều hệ thống thông tin lớn, cốt lõi trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách được Đảng và Nhà nước giao quản lý, đặc biệt là trong các lĩnh vực chuyên ngành tài chính, thuế, hải quan, ngân sách, kho bạc, chứng khoán, dự trữ. Các hệ thống thông tin này đã góp phần quan trọng trong nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý tài chính - ngân sách của Bộ Tài chính.
Xây dựng, triển khai cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính gồm 12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành (thuế, hải quan, thu chi ngân sách, giá, công sản…) bước đầu đã mang lại sự cải thiện đáng kể trong công tác quản lý tài chính công theo hướng hiện đại. Qua đó từng bước tăng cường hiệu lực, hiệu quả giám sát tài chính, góp phần quan trọng trong thúc đẩy cải cách các thể chế, thay đổi quy trình, thủ tục trong lĩnh vực thuế, hải quan, ngân sách, kho bạc... tăng độ chính xác, tính kịp thời và minh bạch trong báo cáo tài khoá, kế toán và thống kê NSNN.
Số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử đã đạt 99,98% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong cả nước. 99% doanh nghiệp đăng ký sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử, 94,73% số hồ sơ thực hiện theo phương thức hoàn thuế điện tử.
Thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại tất cả các đơn vị hải quan, đã có 13/14 bộ ngành tham gia kết nối cơ chế một cửa quốc gia, với 173 thủ tục hành chính được thực hiện qua cơ chế này.
Ứng dụng CNTT trong nội bộ Bộ Tài chính cũng đạt được một số kết quả nhất định: 100% các thông tin chỉ đạo điều hành của lãnh đạo được đưa lên Cổng thông tin diện tử; liên thông văn bản điện tử trong toàn ngành Tài chính qua việc triển khai chương trình eDocTC; triển khai, hoàn thiện một số hệ thống thông tin quản lý tập trung nội ngành như: phần mềm quản lý tài sản nội ngành, kế toán nội ngành, phần mềm thi đua khen thưởng…
Duy trì hoạt động ổn định hệ thống hạ tầng truyền thông thống nhất của ngành Tài chính, là nền tảng cho hạ tầng mạng đa dịch vụ và ảo hóa phục vụ triển khai các ứng dụng CNTT toàn ngành Tài chính.
Bảo đảm an toàn thông tin được tổ chức triển khai một cách bài bản và toàn diện, các hoạt động đảm bảo an toàn thông tin đã được thực hiện và tích hợp trong tất cả các công đoạn liên quan đến thông tin và hệ thống thông tin, không làm ảnh hưởng hay ngừng trệ hoạt động của hệ thống.
Bước đầu triển khai ứng dụng một số công nghệ mới của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 như: công nghệ ảo hóa máy chủ nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư phần cứng; công nghệ phân tích dữ liệu lớn; bước đầu ứng dụng công nghệ mạng xã hội, công nghệ di động trong việc cung cấp các DVCTT, hệ thống thuế điện tử, hải quan điện tử, hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển, hệ thống một cửa quốc gia hải quan ASEAN.
Bộ Tài chính đã rất tích cực trong việc thúc đẩy đưa CNTT vào cải cách thủ tục hành chính, nhờ đó các dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tài chính đã được các doanh nghiệp và người dân đánh giá rất cao. Xin ông chia sẻ thêm về những kết quả đạt được?
Tính đến tháng 8/2019, Bộ Tài chính đã triển khai, cung cấp 9730 dịch vụ công trực tuyến, trong đó có 112 dịch vụ công trực tuyến mức độ 1; 354 dịch vụ công trực tuyến mức độ 2; 197 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 310 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Bộ Tài chính luôn dẫn đầu các bộ, ngành về số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Kết quả xử lý hồ sơ trực tuyến tính đến hết tháng 8/2019 của toàn ngành Tài chính cũng đạt tới 97% trên tổng số hồ sơ tiếp nhận, vượt chỉ tiêu của các Bộ tại Nghị quyết 17/NQ-CP giai đoạn 2019-2020 là 20%... Với những kết quả đạt được, dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tài chính luôn nằm trong nhóm dẫn đầu khối các bộ, ngành trong báo cáo xếp hạng Vietnam ICT Index hàng năm.
Cùng với việc triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Bộ Tài chính cũng đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2019, Bộ Tài chính đã ban hành 6 Quyết định công bố bãi bỏ 22 thủ tục hành chính, sửa đổi, bổ sung 15 thủ tục hành chính và ban hành mới 15 thủ tục hành chính trong các lĩnh vực: thuế, hải quan, chứng khoán, ngân hàng và bảo hiểm. Đồng thời, rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa 117/190 điều kiện kinh doanh thuộc 13 ngành nghề (cắt giảm 47 điều kiện và đơn giản hóa 70 điều kiện) thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Để tăng cường hiệu quả việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến trong toàn ngành Tài chính trong thời gian tới, Bộ Tài chính cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tăng cường sử dụng kênh giao tiếp trực tuyến qua các ứng dụng dịch vụ công trực tuyến thay vì thực hiện các thủ tục hành chính qua kênh giao tiếp trực tiếp; tăng cường công tác số hóa hồ sơ nhằm hỗ trợ cho cán bộ nghiệp vụ và người dân, doanh nghiệp có thể dễ dàng tra cứu, sử dụng lại các hồ sơ điện tử trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính; tiếp tục rà soát, triển khai xây dựng, nâng cấp dịch vụ công trực tuyến nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục hành chính của ngành Tài chính.
Hiện nay, chuyển đổi số đang được nhắc đến như một câu chuyện nóng. Là đơn vị nhiều năm dẫn đầu về ứng dụng công nghệ thông tin trong khối các cơ quan Chính phủ, xin ông cho biết Bộ Tài chính đang thực hiện chuyển đổi số như thế nào?
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức trong việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông minh và các phương thức sản xuất, kinh doanh mới để thúc đẩy phát triển kinh tế. Để tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, các bộ ngành đang khẩn trương nghiên cứu và tiến hành thực hiện quá trình chuyển đổi số để tiến tới Chính phủ số. Ngành Tài chính đang tiếp cận với giai đoạn phát triển đầu tiên của Chính phủ số, đó là giai đoạn xây dựng Chính phủ điện tử và Tài chính điện tử.
Mục tiêu chuyển đổi số ngành Tài chính là chủ động áp dụng các thành quả công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, xây dựng nền tảng quản trị thông minh, cung cấp các dịch vụ tài chính thông minh, tham gia tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế số. Theo đó, Bộ Tài chính đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ hoàn thành xây dựng Tài chính điện tử và cơ bản thiết lập nền tảng Tài chính số hiện đại, bền vững, công khai, minh bạch dựa trên dữ liệu lớn, dữ liệu tài chính mở và hệ sinh thái Tài chính số. Ngành Tài chính đóng vai trò kiến tạo, kết nối, chia sẻ dữ liệu và các nền tảng số hóa, đáp ứng toàn diện nhu cầu giao dịch tài chính công, nhu cầu khai thác sử dụng thông tin số của Chính phủ, người dân, doanh nghiệp và các tổ chức.
Việc thực hiện chuyển đổi số trong ngành Tài chính thể hiện trên một số nhiệm vụ, giải pháp chủ đạo sau: Xây dựng chiến lược Tài chính toàn diện trong đó nhấn mạnh vai trò ứng dụng CNTT và chiến lược của từng lĩnh vực trong ngành phù hợp định hướng phát triển kinh tế số; xây dựng các cơ chế chính sách về thuế, tài chính đảm bảo tính đồng bộ, công khai, minh bạch, ổn định và phù hợp với yêu cầu thực tiễn nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho các hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển, đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực CNTT và các công nghệ tiên tiến khác, đồng thời tạo ra nhiều nguồn thu mới từ nền kinh tế số.
Bộ Tài chính phấn đấu hoàn thành các mục tiêu về Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến năm 2025, đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan để tiếp tục cải thiện môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tạo điều kiện doanh nghiệp nhanh chóng hấp thụ và phát triển công nghệ sản xuất mới.
Các lĩnh vực của ngành Tài chính sẽ từng bước ứng dụng công nghệ mới của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 theo hướng lấy người dùng làm trung tâm. Hình thành hệ sinh thái Tài chính số trên cơ sở dữ liệu mở ngành Tài chính, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức dễ dàng, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin của ngành Tài chính.
Môi trường làm việc điện tử trong ngành sẽ dần hoàn thiện theo hướng tích hợp và chia sẻ dữ liệu, tinh giản và tự động hóa các quy trình hoạt động nội bộ, cung cấp khả năng tra cứu thông tin và xử lý nghiệp vụ trên thiết bị di động, hướng tới văn phòng không giấy tờ.
Bộ Tài chính cũng triển khai hạ tầng điện toán đám mây ngành Tài chính, quy hoạch và từng bước chuyển đổi các ứng dụng sang môi trường đám mây; thiết lập hệ thống quản trị an toàn thông tin toàn diện, thống nhất, phù hợp với các giai đoạn chuyển đổi số ngành Tài chính, tuân thủ các quy định của Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thông tin.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính còn tổ chức tập huấn, nâng cao nhận thức, kiến thức về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và định hướng chuyển đổi số trong ngành Tài chính cho lãnh đạo, cán bộ các cấp của ngành Tài chính để có cách tiếp cận, giải pháp phù hợp, hiệu quả.
thành lập công ty tại đà nẵng, dịch vụ thành lập công ty tại đà nẵng, thủ tục thành lập công ty
Page 12 of 17