TIN TỨC VỀ THUẾ

Sẽ xóa bỏ hơn 91% dòng thuế nhập khẩu từ Cuba

Sẽ xóa bỏ hơn 91% dòng thuế nhập khẩu từ Cuba

Theo dự thảo nghị định Bộ Tài chính vừa hoàn thiện để trình Chính phủ ban hành, 514 dòng thuế (91,3%) nhập khẩu (NK) ưu đãi đặc biệt của Việt Nam - Cuba sẽ xóa bỏ ngay khi hiệp định thương mại giữa 2 nước có hiệu lực.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY, Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế<<<

Ưu đãi này sẽ hứa hẹn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất NK giữa hai bên.

    Ban hành biểu thuế để tuân thủ các cam kết quốc tế

    Dự thảo nghị định ban hành Biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam được xây dựng để thực hiện theo các cam kết của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Cuba giai đoạn 2019 - 2022. Việc ban hành nghị định nhằm thực hiện đúng cam kết của Hiệp định thương mại; đảm bảo tính tương thích của nghị định với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Trong đó, bao gồm cả việc tuân thủ cam kết tại Hiệp định hải quan ASEAN về việc áp dụng Danh mục Biểu thuế hài hòa ASEAN phiên bản 2017 (AHTN 2017) của ASEAN và Danh mục HS phiên bản 2017 của Tổ chức Hải quan Thế giới khi xây dựng Biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện hiệp định.

    Về giai đoạn áp dụng của biểu thuế ban hành kèm theo nghị định, Bộ Tài chính đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2019 - 2022 để phù hợp với thời điểm hiệu lực của nghị định và đồng bộ hóa với lộ trình rà soát sửa đổi Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá của Tổ chức Hải quan Thế giới và Danh mục Biểu thuế hài hoà ASEAN (AHTN) định kỳ 5 năm. Việc áp dụng biểu thuế cho giai đoạn này cũng nhằm đảm bảo tính ổn định và dễ theo dõi cho doanh nghiệp. 

    Về thuế suất, nghị định này quy định về thuế suất thuế NK ưu đãi đặc biệt đối với các mặt hàng không thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan và các mặt hàng thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan. Đối với hàng hóa NK thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan, áp dụng mức thuế suất thuế NK ưu đãi đặc biệt quy định tại biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện hiệp định, ban hành kèm theo nghị định này đối với lượng hàng hóa NK trong hạn ngạch thuế quan theo quy định của Bộ Công thương. Bên cạnh đó, áp dụng mức thuế suất thuế NK ngoài hạn ngạch theo quy định của Chính phủ đối với lượng hàng hóa NK ngoài hạn ngạch thuế quan. Số lượng hạn ngạch thuế quan NK hàng năm theo quy định của Bộ Công thương.

    Mở cửa thị trường hàng hóa với Cuba

    Do thay đổi Danh mục từ AHTN 2012 sang AHTN 2017, biểu thuế có 34 dòng hàng AHTN 2017 ở cấp độ 8 số bị ảnh hưởng bởi việc thay đổi mã hàng, tách gộp dòng. Đây là những dòng hàng được gộp từ các dòng hàng theo AHTN 2012 có mức thuế suất cam kết với Cuba theo danh mục EIF (xóa bỏ thuế quan ngay khi hiệp định có hiệu lực) và các dòng hàng thuộc diện không có trong danh mục cam kết với Cuba. 

    Thuế suất được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ cam kết theo lộ trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam quy định tại hiệp định thương mại hàng hoá giữa 2 nước. Về tổng thể, Biểu thuế theo AHTN 2017 giai đoạn 2018 - 2022 gồm 563 dòng thuế AHTN 2017 theo cấp độ 8 số. Lộ trình cắt giảm thuế quan trong biểu thuế ban hành được áp dụng cho 4 giai đoạn: từ khi hiệp định có hiệu lực (trong năm 2019) đến 31/12/2019; từ 1/1/2020 đến 31/12/2020; từ 1/1/2021 đến 31/12/2021; từ 1/1/2022 đến 31/12/2022.

    Về danh mục cam kết, theo kết cấu mới của biểu thuế, số dòng thuế thuộc các danh mục cam kết theo AHTN 2017 là 563 dòng thuế. Theo đó, xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực 514 dòng thuế (91,3%); cắt giảm theo lộ trình 46 dòng thuế (chiếm 8,2%) và duy trì thuế suất cơ sở với 3 dòng thuế (0,5%).

    Sau khi thực hiện chuyển đổi từ Danh mục AHTN 2012 sang AHTN 2017, Việt Nam dành cho Cuba mức mở cửa thị trường hàng hóa chiếm 99,5% số dòng thuế, tương đương kim ngạch NK trị giá 5.662.155 USD. 

    Về kim ngạch NK từ thị trường Cuba, theo thống kê hải quan cho thấy, giá trị NK năm 2017 tăng khoảng 66% so với cùng kỳ năm 2016 (từ 4.998.145 USD lên 8.295.519 USD). Tuy nhiên, trong năm 2018, giá trị NK từ nước này lại giảm, đạt 5.966.113 USD, giảm khoảng 28% so với cùng kỳ năm 2017. 

    Trong cơ cấu NK năm 2018, NK từ thị trường Cuba tập trung vào nhóm hàng gồm dược phẩm; chế phẩm thực phẩm khác; nguyên phụ liệu thuốc lá và hàng hóa khác. Trong đó, nhóm hàng dược phẩm chiếm tỷ trọng đa số (98%). Theo ông Vũ Nhữ Thăng - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính, đây là những mặt hàng có lợi ích thương mại và kinh tế thực chất, nên trong biểu thuế dự kiến chưa xóa bỏ thuế quan vào thời điểm nghị định có hiệu lực mà sẽ giảm theo lộ trình. Về tác động tới thu ngân sách, trước mắt giảm thuế sẽ làm giảm thu, tuy nhiên dự kiến kim ngạch xuất nhập khẩu tăng sẽ góp phần tăng thu ngân sách.

Hàng hóa NK từ thị trường Cuba thời gian qua chịu thuế suất thuế MFN (thuế NK ưu đãi). Số thu của Việt Nam năm 2017 đạt khoảng 2,1 tỷ đồng, tăng 200% so với cùng kỳ năm 2016, tuy nhiên đã giảm xuống còn khoảng 1 tỷ đồng năm 2018 (giảm khoảng 50%).

Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế

Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế

Sau thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng, Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã sẵn sàng ra mắt sản phẩm Chứng quyền có bảo đảm. Sản phẩm này hứa hẹn mang lại nhiều sự hấp dẫn cho nhà đầu tư như: tính đòn bẩy, chi phí đầu tư thấp, giao dịch và thanh toán dễ dàng, không phải ký quỹ trước khi giao dịch, cố định khoản lỗ tối đa và ngoài ra, đây còn là sản phẩm không bị giới hạn sở hữu nước ngoài, do đó cũng tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường góp phần nâng cao thanh khoản thị trường chứng khoán. Song, sản phẩm này cũng được đánh giá là sản phẩm đầu tư có tính rủi ro cao. Do vậy, nhà đầu tư cần phải am hiểu về sản phẩm trước khi giao dịch nhằm hạn chế những rủi ro không mong muốn.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TYQuản lý thuế thương mại điện tử cần chuyên gia công nghệ cao <<<

Hoá đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương tiện điện tử. Đặc biệt, hóa đơn điện tử phải được khởi tạo, lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức đã được cấp mã số thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Trên thực tế, không chỉ từ Nghị định 119, cơ quan quản lý nhà nước mới đề cập đến hoá đơn điện tử, mà ngay từ 2011, hóa đơn điện tử đã được đưa vào sử dụng theo Thông tư 32/2011/TT-BTC.

Sau hơn 7 năm được đưa vào sử dụng, loại hình hoá đơn này đã và đang khẳng định được sự vượt trội của mình so với hoá đơn giấy truyền thống. Vậy đâu là những lợi ích nổi bật của hoá đơn điện tử đối với doanh nghiệp và cơ quan thuế, các cơ quan khác của nhà nước và đối với xã hội.

Giải pháp “vàng” cho doanh nghiệp

Hóa đơn điện tử – giải pháp “vàng” cho các doanh nghiệp thời đại cách mạng công nghệ 4.0. Sử dụng hóa đơn điện tử giúp doanh nghiệp giảm chi phí hơn so với sử dụng hóa đơn giấy (giảm chi phí giấy in, mực in, vận chuyển, lưu trữ hóa đơn, không cần không gian lưu trữ hóa đơn..); giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính thuế; khắc phục rủi ro làm mất, hỏng, cháy khi sử dụng hóa đơn giấy do hệ thống lưu trữ hóa đơn điện tử được sao lưu và thường xuyên cập nhật nên khả năng mất hoàn toàn dữ liệu hóa đơn là khó xảy ra.

Bên cạnh đó, sử dụng hóa đơn điện tử tạo sự yên tâm cho người mua hàng hóa, dịch vụ: Sau khi nhận hóa đơn điện tử, người mua hàng hóa, dịch vụ có thể kiểm tra ngay trên hệ thống của cơ quan thuế để biết chính xác thông tin của hóa đơn người bán khai báo với cơ quan thuế và thông tin người bán cung cấp cho người mua. Bên cạnh đó, với việc hệ thống của cơ quan thuế ngừng không cho doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích được xuất hóa đơn sẽ hạn chế việc người mua sử dụng phải hóa đơn của các doanh nghiệp này.

Sử dụng hóa đơn điện tử góp phần khắc phục được tình trạng gian lận sử dụng bất hợp pháp hóa đơn (lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên), khắc phục tình trạng làm giả hóa đơn góp phần tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp, giúp việc triển khai thương mại điện tử được hoàn thiện hơn từ việc đặt hàng trên mạng, giao hóa đơn điện tử qua mạng, thanh toán qua mạng; góp phần làm giảm bớt việc sử dụng giấy nên sẽ góp phần bảo vệ môi trường.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn

Hoá đơn điện tử có nhiều lợi ích, trong số đó không thể không nhắc tới lợi ích của hóa đơn điện tử đối với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của cơ quan thuế và cơ quan khác của nhà nước.

Việc sử dụng hóa đơn điện tử giúp cơ quan thuế xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn, theo đó, cơ quan thuế và các cơ quan khác của nhà nước không tốn nhiều chi phí, thời gian đối chiếu hóa đơn như hiện nay. Với độ an toàn, chính xác cao của hóa đơn điện tử, tình trạng gian lận thuế, trốn thuế, hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích kịp thời được các cơ quan quản lý nhà nước ngăn chặn.

Như vậy, hoá đơn điện tử đã và đang tiếp tục khẳng định sức mạnh tuyệt đối của mình so với hoá đơn truyền thống, tạo bước đột phá mạnh mẽ trong thời đại công nghệ 4.0: Tinh gọn về thủ tục giấy tờ, giúp các doanh nghiệp, cơ quan thuế và khách hàng giảm thiểu tối đa những công đoạn rườm rà, tránh được mọi rủi ro, tiết kiệm thời gian và chi phí một cách tối ưu nhất.

Ngày 10/01/2019, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác thuế 2018, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ kết luận về nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác thuế năm 2019 yêu cầu triển khai tích cực Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018 của Chính phủ về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, bảo đảm hoàn thành áp dụng hóa đơn điện tử trong năm 2019 ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn.

Với những lợi ích và thế mạnh mà hóa đơn điện tử đem lại, Dự kiến, trong thời gian tới Cục Thuế TP Hà Nội sẽ sớm triển khai các hoạt động nhằm đẩy mạnh việc sử dụng hóa đơn điện tử trong cộng đồng doanh nghiệp, người nộp thuế trên địa bàn Thủ đô.


NA

TP. Hồ Chí Minh: Giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng 1970 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh: Giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng 1970 tỷ đồng

Theo Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh, 3 tháng đầu năm, đơn vị đã xem xét giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) 391 hồ sơ, với tổng số tiền hoàn cho người nộp thuế là 1.970 tỷ đồng.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , Giảm thuế ngay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa<<<
 

Trong đó, số thuế hoàn đối với trường hợp xuất khẩu chiếm 92,28% trên tổng số thuế đã hoàn; số thuế hoàn từ trường hợp đầu tư và mua sắm tài sản cố định chiếm 7,43% và các trường hợp khác chiếm 0,29% so với tổng số thuế hoàn.

Báo cáo đánh giá công tác thu thuế quý I/2019 của Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh cho biết, nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ thuế GTGT trong kỳ chỉ tăng 7,29% so với quý I/2018 và đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 3 năm trở lại đây (quý I/2018 tăng 13,63%; quý I/2017 tăng 8,65%).

Được biết, toàn địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện có 241.505 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó, số lượng doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế qua mạng internet chiếm 99,99%; số lượng doanh nghiệp đăng ký tài khoản nộp thuế điện tử đạt 94,85%; số tài khoản doanh nghiệp đăng ký thành công tại ngân hàng thương mại 91,32%; số chứng từ thực hiện nộp thuế điện tử đạt 85,63% trên tổng số chứng từ truyền về Kho bạc Nhà nước; số tiền thuế nộp bằng phương thức điện tử chiếm 56,22% số nộp vào NSNN./.

Có cần thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế ?

Có cần thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế ?

Trong quá trình hoạt động của một doanh nghiệp thì việc phát sinh các thông tin thay đổi vẫn có thể thường xuyên xảy ra, trong đó cũng có thể  thay đổi thông tin về giám đốc công ty. Như vậy khi doanh nghiệp thay đổi giám đốc thì có cần thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế hay không ? Nếu có thì hồ sơ, thủ tục thực hiện như thế nào ?

>>>Xem thêm  CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<<

 

Khi nào thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế ?

Khi mà giám đốc là đại diện pháp luật của công ty và có thể hiện thông tin trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Như vậy nếu giám đốc cần thay đổi không phải là đại diện pháp luật thì doanh nghiệp chỉ cần giải quyết trong nội bộ mà không cần thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế.

Thực hiện thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế

Trước đây khi thay đổi giám đốc là đại diện pháp luật thì trước tiên doanh nghiệp phải thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh.

>>> Xem thêm Đổi địa chỉ văn phòng công ty trên giấy phép đăng ký kinh doanh<<<<

Sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới thì mới thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế bằng văn bản theo mẫu 08-MST ban hành kèm theo Thông tư 95/2016/TT-BTC Hướng dẫn về đăng ký thuế ngày 28/06/2016.

Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay do giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ quan thuế có hệ thống điện tử liên kết với nhau cho nên khi chúng ta thực hiện thay đổi giám đốc trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoàn tất thì thông tin mới sẽ được tự động cập nhật cho bên cơ quan thuế. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại nhiều lần.

Hồ sơ, trình tự thủ tục thực hiện thay đổi giám đốc bên Cơ quan đăng ký kinh doanh

Hồ sơ gồm các thành phần sau:

+ Thông báo thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh.

+ Quyết định thay đổi giám đốc.

+ Biên bản họp ( đối với công ty TNHH 2 thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh).

+ Bản sao hợp lệ giấy tờ chứng thực cá nhân của giám đốc mới.

Trình tự thực hiện thủ tục :

  1. Chuẩn bị hồ sơ theo hướng dẫn như trên.

  2. Nộp hồ sơ. Cơ quan đăng ký kinh doanh tiếp nhận và xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, sau đó trả biên nhận có ngày hẹn trả kết quả cho doanh nghiệp.

  3. Doanh nghiệp đến lấy kết quả như trng biên nhận.

  4. Đăng bố cáo thay đổi thông tin doanh nghiệp trong thời gian 30 ngày.

Không bổ sung thủ tục về thuế nếu pháp luật không quy định

Không bổ sung thủ tục về thuế nếu pháp luật không quy định

Tổng cục Thuế vừa ban hành Quyết định số 91/QĐ-TCT về việc triển khai nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) liên quan đến lĩnh vực thuế. Văn bản nêu rõ, các đơn vị phải kiểm soát chặt chẽ TTHC, đảm bảo không bổ sung thêm TTHC nếu không có quy định trong luật.

 
Mỹ tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với tháp gió của Việt Nam thêm 5 năm

Mỹ tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với tháp gió của Việt Nam thêm 5 năm

Bộ Thương mại Mỹ (DOC) sẽ tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với sản phẩm tháp gió Việt Nam thêm 5 năm nữa và hàng năm có thể sẽ tiến hành rà soát hành chính để điều chỉnh mức thuế áp dụng.
 
Dừng gia hạn nộp thuế và hoàn thuế đối với thiết bị tạo tài sản cố định

Dừng gia hạn nộp thuế và hoàn thuế đối với thiết bị tạo tài sản cố định

Sau ngày 20/5/2019, máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư sẽ không được gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT).

>>>Xem thêm Mở rộng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) cho 15 Tỉnh/Thành phố<<<

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 18/2019/TT-BTC bãi bỏ hoàn toàn Thông tư 134/2014/TT-BTC hướng dẫn thủ tục gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư tại Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 25/8/2014.

    Trước đó, ngày 13/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 150/NQ-CP để thống nhất dừng việc thực hiện giải pháp gia hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT tại Nghị quyết 63.

    Theo đó, để hướng dẫn thực hiện nội dung này, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 18/2019/TT-BTC bãi bỏ Thông tư 134 kể từ ngày 20/5/2019.

    Thông tư 18 quy định, đối với hồ sơ xin gia hạn nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo quy định tại Thông tư số 134 của Bộ Tài chính mà doanh nghiệp đã nộp cho cơ quan hải quan trước ngày 20/5/2019 thì cơ quan hải quan tiếp tục giải quyết gia hạn nộp thuế theo quy định tại Thông tư số 134.

    Đối với hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT theo quy định tại Thông tư số 134 mà doanh nghiệp đã nộp cho cơ quan thuế trước ngày 20/5/2019 thì cơ quan thuế tiếp tục giải quyết hoàn thuế theo quy định tại Thông tư số 134./.

Giảm thuế ngay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Giảm thuế ngay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong khi hầu hết các nước đều ưu đãi thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), thì từ ngày 1/1/2016, DNNVV Việt Nam phải nộp thuế như doanh nghiệp quy mô lớn với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20%. Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) cho biết, kể từ năm 2020, DNNVV sẽ được hưởng thuế suất thấp hơn mức 20%.

 >>>Xem thêm Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp về 15-17%<<<
 

Một trong những chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV được hầu hết các nước trên thế giới thực hiện là ưu đãi thuế. Thưa bà, vì sao Việt Nam không thực hiện chính sách này?

    Trong nhiều năm qua, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích khu vực DNNVV phát triển, nhất là mỗi khi hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn.

    Riêng lĩnh vực thuế, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã áp mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20% cho DNNVV (doanh thu không quá 20 tỷ đồng/năm) từ ngày 1/7/2013, trong khi doanh nghiệp quy mô lớn áp mức thuế suất 22%, phải đến ngày 1/1/2016, doanh nghiệp quy mô lớn mới được áp mức thuế  20%.

    Như vậy là kể từ ngày 1/1/2016, DNNVV không còn được hưởng ưu đãi về thuế, trong khi Đảng có Nghị quyết 10-NQ/TW, Quốc hội ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV, Chính phủ có Nghị quyết 35/NQ-CP (ngày 16/5/2016) về hỗ trợ và phát triển DNNVV?

    Riêng về chính sách thuế, đúng là kể từ ngày 1/1/2016, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ phải đóng thuế bình đẳng như doanh nghiệp lớn. Nhằm tiếp tục chính sách ưu đãi thuế cho DNNVV, năm 2016, Bộ Tài chính đã kiến nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp. Trong các chính sách hỗ trợ, Bộ Tài chính đề xuất áp mức thuế suất 17% (áp dụng từ ngày 1/1/2017 đến hết năm 2020) cho doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 20 tỷ đồng/năm.

    Tuy nhiên, đề xuất này đã không được nhiều đại biểu Quốc hội đồng ý vì cho rằng, chính sách thuế cần bảo đảm ổn định lâu dài, nên phải sửa luật thay vì ban hành nghị quyết chỉ áp dụng đến hết năm 2020. Do vậy, Bộ Tài chính đã xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung 6 luật liên quan đến thuế, với đề xuất áp dụng thuế suất 17% đối với doanh nghiệp nhỏ và 15% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ.

    Nhưng đề xuất đã không được chấp thuận, DNNVV vẫn phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 20% như doanh nghiệp lớn, thưa bà?

    Phần sửa về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp trong Luật sửa đổi, bổ sung 6 luật liên quan đến thuế có nhiều nội dung như bù trừ thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản với lỗ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; miễn thuế đối với phần lợi nhuận không chia của cơ sở thực hiện xã hội hoá; khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; ưu đãi thuế cho một số lĩnh vực…, chứ không phải chỉ có nội dung giảm thuế cho khu vực DNNVV.

    Do sửa nhiều nội dung nên cần phải có thời gian tổng kết, nghiên cứu, đánh giá tác động, vì vậy, Quốc hội yêu cầu Bộ Tài chính tổng kết, đánh giá, nghiên cứu để sửa đổi đồng bộ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp vào thời gian tới.

    Tuy nhiên, theo chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội thì năm 2019 (và cả năm 2020) chưa đưa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp vào thảo luận, thông qua. Vì vậy, Bộ Tài chính đang hoàn thiện Dự thảo Nghị quyết về một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ, phát triển DNNVV. Nếu được Quốc hội thông qua thì kể từ năm 2020, doanh nghiệp nhỏ chỉ phải nộp thuế 17%, doanh nghiệp siêu nhỏ nộp thuế 15%, thay vì 20% như hiện nay.

    Dự kiến, Bộ Tài chính sẽ trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua Nghị quyết về một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ, phát triển DNNVV tại Kỳ họp Quốc hội thứ 8 vào cuối năm nay để có thể triển khai ngay vào năm 2020, nếu không sẽ quá muộn.

 >>>Xem thêm Mở rộng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) cho 15 Tỉnh/Thành phố<<<

    Tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP, ngoài căn cứ vào số lượng lao động, còn căn cứ vào doanh thu hoặc tổng nguồn vốn. Doanh nghiệp cũng được phân loại theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động. Thưa bà, vì sao Dự thảo Nghị quyết lại không căn cứ vào nguồn vốn, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động để phân loại doanh nghiệp?

    Như tôi đã nói, hầu hết các nước trên thế giới đều có chính sách hỗ trợ DNNVV, nhưng tiêu chí phân loại doanh nghiệp mỗi nước một khác. Có nước phân loại dựa vào vốn, có nước dựa vào số lao động, có nước lại dựa vào doanh thu, có nước sử dụng 2 tiêu chí, có nước lại kết hợp cả 3 tiêu chí. Nói chung, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, trình độ quản lý của mỗi nước mà áp dụng tiêu chí phân loại phù hợp nhất.

    Với Việt Nam, phân loại doanh nghiệp nếu dựa vào ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sẽ rất phức tạp, gây khó khăn cho cả cơ quan thuế lẫn doanh nghiệp, thậm chí có thể xảy ra tiêu cực trong việc xác định mức suất 15% hay 17% vì doanh nghiệp hoạt đa ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau, cả công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.

    Nếu phân loại doanh nghiệp căn cứ vào tiêu chí số lượng lao động và nguồn vốn cũng vô cùng phức tạp vì vốn hoạt động của doanh nghiệp có rất nhiều nguồn ngoài vốn chủ sở hữu, vốn đăng ký, còn có vốn vay ngân hàng, vốn huy động. Vì vậy, Dự thảo Nghị quyết chỉ phân loại doanh nghiệp để ưu đãi thuế căn cứ vào tiêu chí sử dụng lao động và doanh thu.

    Cụ thể, áp dụng thuế suất 15% đối với doanh nghiệp có doanh thu dưới 3 tỷ đồng/năm và sử dụng không quá 10 lao động; áp dụng thuế suất 17% đối với doanh nghiệp có doanh thu từ 3 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng/năm và sử dụng không quá 100 lao động.

Thêm 173 thủ tục hành chính được đưa lên một cửa quốc gia

Thêm 173 thủ tục hành chính được đưa lên một cửa quốc gia

 Tính đến ngày 15/3, đã có 13 bộ, ngành tham gia kết nối; thêm 173 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia là trên 1,97 triệu bộ hồ sơ và trên 28 nghìn doanh nghiệp tham gia.

Trong báo cáo công tác, Tổng cục Hải quan cập nhật tình hình triển khai thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia, Tổng cục Hải quan tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, trong đó có Bộ Y tế và Bộ Công an triển khai thêm 20 thủ tục hành chính mới thông qua Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay, đã có 13 Bộ, ngành tham gia kết nối; 173 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia. Dự kiến đến hết quý I/2019 hoàn thành thêm ít nhất 9 thủ tục hành chính (6 thủ tục của Bộ Y tế và 3 thủ tục của Bộ NN&PTNT).

Về triển khai Cơ chế một cửa ASEAN, ngành Hải quan tiếp tục triển khai trao đổi chính thức Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D (C/O form D) với 4 nước: Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan.

Đồng thời, tham gia trao đổi thử nghiệm C/O form D với 3 nước: Brunei, Campuchia, Phillipines. Trong thời gian tới, theo kế hoạch sẽ triển khai kết nối kỹ thuật thử nghiệm trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN, chứng nhận kiểm dịch thực vật (ePhyto), chứng nhận kiểm dịch động vật (e-AH).

Chuẩn bị triển khai kết nối Cơ chế một cửa quốc gia để trao đổi thông tin với liên minh kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc, trước mắt, test trao đổi thử nghiệm Gateway của Việt Nam với Gateway của liên minh kinh tế Á-Âu.

Tổng cục Hải quan đang triển khai mở rộng Hệ thống quản lý hải quan tự  động tại cảng, kho, bãi (VASSCM) trên phạm vi toàn quốc. Tính đến ngày 14/3, hệ thống VASSCM đã được triển khai tại 29/35 Cục Hải quan tỉnh, thành phố, 359 doanh nghiệp kinh doanh kho/bãi/cảng và kho ngoại quan.

Ngành đã tiến hành rà soát hiện trạng CNTT, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp yêu cầu nghiệp vụ xây dựng. Trên cơ sở đó nghiên cứu, phân tích để xây dựng kế hoạch mở rộng, nâng cấp, hoàn thiện Hệ thống CNTT Hải quan thông minh, tích hợp; đã hoàn thành dự thảo mô hình kiến trúc Chính phủ điện tử trong ngành Hải quan tuân thủ và phù hợp với Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Tài chính (dự kiến tháng 4/2019 sẽ ban hành).

Ngoài ra, ngành Hải quan tiếp tục triển khai Đề án đầu tư hệ thống seal định vị điện tử phục vụ công tác giám sát đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan vận chuyển bằng container của Tổng cục Hải quan (đã hoàn thành mua sắm và lắp đặt máy chủ). Ngoài ra, Hải quan còn nâng cấp phần mềm hỗ trợ hoạt động đổi mới quản lý nguồn nhân lực; hệ thống kế toán thuế xuất nhập khẩu; hệ thống miễn giảm hoàn thuế; cung cấp thông tin tờ khai cho các đơn vị (các Bộ, ngành, ngân hàng và doanh nghiệp) và tiếp nhận xử lý thông tin nhận được từ Tổng cục Thuế; hệ thống thông tin tình báo, hệ thống kiểm tra sau thông quan để kết nối, xử lý thông tin với hệ thống VNACCS/VCIS và các hệ thống xử lý tập trung ngành Hải quan.

Ngành Hải quan đang duy trì, vận hành ổn định Hệ thống Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của ngành Hải quan. Tính đến nay, tổng số DVCTT đạt tối thiểu mức độ 3 trong lĩnh vực hải quan là 171/181 TTHC (chiếm trên 94,4% số lượng TTHC). Số hồ sơ trên hệ thống dịch vụ công từ ngày 1/3/2017 đến hết ngày 10/3/2019 đạt 212.648 bộ với 23159 doanh nghiệp và 389 cá nhân tham gia.

Trong quý I/2019, Tổng cục Hải quan hoàn thành việc rà soát các quy định liên quan và quy trình thực hiện thủ tục hành chính bằng phương thức điện tử để chuẩn bị cho việc nâng cấp 02 thủ tục hành chính đang cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 thành dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 theo kế hoạch đã đăng ký với Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính kiến nghị thu hồi 15 tỷ từ Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị

Bộ Tài chính kiến nghị thu hồi 15 tỷ từ Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị

Bộ Tài chính cũng kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện thủ tục gia hạn rút vốn cho Hiệp định vay và hoàn thiện hồ sơ rút vốn năm 2019 đối với các dự án ODA hết hạn giải ngân.Bộ Tài chính vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về tình hình thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ 3 tháng năm 2019.Theo đó, ước tính trong 3 tháng đầu năm 2019, các bộ, ngành, địa phương đã giải ngân số vốn 46.721,07 tỷ đồng, đạt 11,21% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 12,97% so kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.Nếu so sánh với cùng kỳ năm 2018 là 8,83% thì số vốn giải ngân trong quý 1 năm nay đã cao hơn 2,38% so với năm ngoái. Tuy nhiên tỷ lệ của các bộ, ngành địa phương không đồng đều, có bộ ngành và địa phương giải ngân đạt trên 21%, song vẫn còn có Bộ, ngành và địa phương gần như chưa giải ngân kế hoạch vốn (tỷ lệ giải ngân đạt dưới 1%).Theo Bộ Tài chính, nguyên nhân chủ yếu là do đây là những tháng đầu năm, kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách mới được Thủ tướng và Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao nên các địa phương mới cơ bản hoàn thành việc phân bổ chi tiết kế hoạch vốn cho các dự án.Riêng các chủ đầu tư đang hoàn thiện các các thủ tục chuẩn bị đầu tư hoặc lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện các thủ tục đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, hoàn thiện hồ sơ tạm ứng, thanh toán theo quy định, cũng khiến cho việc giải ngân bị chậm.Đối với nguồn vốn nước ngoài, kế hoạch 2019 mới được giao, sau đó các Bộ ngành, địa phương mới triển khai phân bổ chi tiết cho từng dự án nên kế hoạch vốn 2019 chỉ thực sự được giải ngân từ tháng 3/2019.Đa số các dự án vẫn tiếp tục giải ngân theo kế hoạch vốn 2018, đang hoàn thiện hồ sơ để được kiểm soát chi, rút vốn theo kế hoạch 2019. Một số dự án kế hoạch 2019 giao không đủ so với nhu cầu của Dự án nên Dự án không thực hiện giải ngân nhiều ngay. Một số dự án đã hết hạn giải ngân theo Hiệp định vay, đang làm thủ tục gia hạn rút vốn cho Hiệp định vay và hoàn thiện hồ sơ rút vốn năm 2019, vì vậy cũng ảnh hưởng tới tiến độ giải ngân vốn ngoài nước.Để đảm bảo tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ một số các giải pháp. Cụ thể, giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ để hoàn thành việc giao kế hoạch vốn trong tháng 3/2019 đối với số vốn còn lại chưa đủ điều kiện giao kế hoạch vốn năm 2019 là hơn 52 nghìn tỷ đồng. Đối với số vốn còn lại, đề nghị thu hồi về ngân sách.Đối với nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện việc phân bổ hết kế hoạch vốn năm 2019 đã được giao. Trong đó việc phân bổ vốn đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia đảm bảo thanh toán tối thiểu 50% tổng số nợ xây dựng cơ bản còn lại giai đoạn 2016-2020, thu hồi vốn ứng trước và bố trí kế hoạch vốn để thực hiện Đề án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đúng quy định.Đối với phần kế hoạch vốn năm 2019 đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho các địa phương (Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nam,Thanh Hóa) nhưng đến nay các địa phương vẫn chưa phân bổ chi tiết hoặc chưa phân bổ hết cho các dự án, Bộ Tài chính đề nghị giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tổ chức kiểm tra để xác định nguyên nhân không phân bổ chi tiết kế hoạch vốn đã được giao cho các dự án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ thu hồi số vốn này về ngân sách trung ương. Bộ Tài chính cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ thu hồi về ngân sách số vốn 15,23 tỷ đồng thuộc kế hoạch năm 2019 của Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị do bố trí thừa, không có nhu cầu sử dụng.Ngoài ra, Bộ Tài chính còn đề xuất với Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện thủ tục gia hạn rút vốn cho Hiệp định vay và hoàn thiện hồ sơ rút vốn năm 2019 đối với các dự án ODA hết hạn giải ngân theo Hiệp định vay.Đối với các dự án chưa giải ngân hết kế hoạch vốn năm 2018, có nhu cầu kéo dài sang năm 2019 để tiếp tục thanh toán, đề nghị các Bộ, ngành chỉ đạo các chủ đầu tư ra làm việc với Kho bạc nhà nước làm thủ tục kéo dài kế hoạch vốn sang năm 2019 để thanh toán vốn ngay cho các dự án theo đúng quy định.

Sau ngày 31/3/2019, đối với các dự án không ra Kho bạc Nhà nước làm thủ tục kéo dài kế hoạch vốn năm 2018 sang năm 2019 đề nghị thu hồi về ngân sách số vốn chưa giải ngân hết.
TP HCM mở rộng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân

TP HCM mở rộng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân

 

(TCT online) - Số thu thuế TNCN trên địa bàn TP HCM năm 2018 đạt 34.573 tỷ đồng, chiếm trên 13% trong cơ cấu thu NSNN của Cục thuế TP HCM (269.078 tỷ đồng), chiếm 37% so với tổng số thu thuế TNCN cả nước. Năm 2019, xác định đây là nguồn thu quan trọng, Phòng Quản lý thuế TNCN (Cục Thuế TP HCM) đã phân tích và đưa ra các biện pháp nhằm quản lý, kiểm tra và khai thác hiệu quả hơn nữa nguồn thu này.

Trong chương trình hỗ trợ người nộp thuế (NNT) quyết toán thuế TNCN năm 2018 vừa diễn ra từ ngày 18/3 đến 1/4/2019, Cục Thuế TP HCM đã tiếp nhận tổng số 13.273 hồ sơ. Trong đó, có 5.817 hồ sơ NNT phải nộp thêm vào NSNN số tiền thuế gần 280 tỷ đồng; 6.892 hồ sơ đề nghị hoàn số tiền hơn 46 tỷ đồng; hơn 564 hồ sơ bù trừ chuyển kỳ sau, với số tiền trên 9,1 tỷ đồng.

Theo phân tích của Phòng Quản lý thuế TNCN, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, số lượng người có thu nhập cao ngày càng tăng, đối tượng nộp thuế, hình thức thu nhập của người lao động cũng ngày càng đa dạng. Bên cạnh đó, tình trạng các cá nhân lợi dụng kẽ hở trong công tác quản lý thuế để thực hiện các hành vi gian lận, trốn lậu thuế gây thất thu cho NSNN ngày càng nhiều. Để hạn chế tình trạng này, từ thực tế công tác quản lý, Phòng Quản lý thuế TNCN đã đúc kết cách phát hiện, nhận diện rủi ro thành những lưu ý trong thanh kiểm tra thuế TNCN. Cụ thể, qua phân tích cơ cấu số thu từ 10 loại thu nhập của thuế TNCN tại TP HCM thì thu nhập từ tiền lương, tiền công chiếm 74% tổng số thu thuế TNCN năm 2018. Do đó, cơ quan thuế cần tập trung khai thác ở lĩnh vực tiền lương, tiền công để tăng nguồn thu cho NSNN. Bên cạnh đó, trong quá trình xử lý hồ sơ, cán bộ thuế cần lưu ý những sai sót thường gặp trong kê khai, chỉ kê khai tổng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công mà không kê khai các khoản thu nhập khác, nhất là các khoản nhận ở nước ngoài. Riêng các DN liên doanh, DN đầu tư nước ngoài, nhà thầu nước ngoài thường cố tình lập lờ khi cung cấp, khai báo lương của người nước ngoài trong hợp đồng lao động. Vì thế, cơ quan thuế cần thu thập đầy đủ thông tin của NNT để xây dựng cơ sở dữ liệu, sau đó phân tích, đánh giá và phân loại theo mức độ rủi ro để lựa chọn đối tượng cần kiểm tra, thanh tra.

Với những hồ sơ thuộc diện nghi vấn, cán bộ thuế cần tập trung kiểm tra các dấu hiệu liên quan đến giao dịch lớn, bất thường vào cuối năm tài chính; các giao dịch  có mâu thuẫn, không giải thích được sự khác biệt trên số dư tài khoản kế toán hoặc báo cáo hoạt động của DN với sổ phụ của ngân hàng; các giao dịch với nhà cung cấp và các giao dịch nợ phải trả khác không được kế toán ghi chép trong sổ sách. Về dấu hiệu gian lận tiền lương, thường phát sinh trong khoản chi lớn cho các đối tượng là thành viên HĐQT, ban giám đốc, ban kiểm soát; các khoản thu nhập liên quan đến tiền lương, thưởng chi trả cho cá nhân cao hơn mức TNCN trung bình cùng ngành nghề, lĩnh vực; gia tăng chi phí hoa hồng…

Liên quan đến quy trình kiểm tra thuế TNCN theo Quyết định 746/QĐ-TCT, Tổng cục Thuế quy định: “Riêng đối với thuế TNCN thì áp dụng phần mềm quản lý thuế TNCN để phát hiện rủi ro trong hồ sơ khai thuế, cá nhân có thu nhập từ 2 nơi trở lên chưa được khấu trừ thuế, không tự quyết toán thuế theo quy định”. Trên thực tế, phần mềm quản lý thuế cũng không đủ dữ liệu để kiểm tra giám sát. Mặt khác, Quyết định 746 áp dụng chủ yếu cho DN, còn đối với cá nhân thường gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, Phòng Quản lý thuế TNCN kiến nghị Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế sớm hoàn thiện quy trình áp dụng riêng cho kiểm tra thuế thu nhập của cá nhân. Đồng thời, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về thu nhập chịu thuế của người nước ngoài làm cơ sở để triển khai hiệu quả công tác thanh kiểm tra. Kết quả thanh kiểm tra, truy thu thuế TNCN cũng cần cập nhật kịp thời vào hệ thống dữ liệu, để phân tích NNT theo mức độ rủi ro. Ngoài ra, cơ quan thuế cần tập trung thanh kiểm tra thuế TNCN liên quan đến lao động người nước ngoài như: khai thác thu nhập phát sinh ở nước ngoài chưa kê khai tại Việt Nam; khai thác hồ sơ liên quan đến hiệp định tránh đánh thuế 2 lần để xác định quyền thu thuế tại Việt Nam.

Quản lý thuế thương mại điện tử cần chuyên gia công nghệ cao

Quản lý thuế thương mại điện tử cần chuyên gia công nghệ cao

 

Việc  ban hành chính sách và quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) tại mỗi nước phụ thuộc vào mục tiêu, trình độ quản lý và mức độ phát triển. Tuy nhiên, các nước đều có chung nhận định, TMĐT đặt ra nhiều thách thức đối với cơ quan thuế, nên cần có những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý. 

Đa dạng hình thức quản lý 

Tại Liên minh châu Âu (EU), do tuân thủ các quy định của OECD nên luật thuế đối với hoạt động TMĐT hầu như giống với thương mại truyền thống. Theo đó, cơ quan thuế tập trung vào việc xác định đối tượng chịu thuế, giá trị giao dịch để tính toán số thuế phải nộp vào NSNN. Để chọn lọc các website của người nộp thuế không tuân thủ, cơ quan thuế thực hiện đối chiếu thông tin từ internet với khai thác từ cơ sở dữ liệu nội bộ, bao gồm thông tin trên tờ khai thuế GTGT, thuế TNDN và thuế xuất nhập khẩu để từ đó lập hồ sơ phân tích rủi ro về người nộp thuế. Cụ thể, cơ quan thuế tại Đức đã sử dụng công cụ Xpider để phát hiện các webistes của các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh TMĐT; nhận diện các hoạt động TMĐT chưa thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật thuế; thu thập và lưu trữ thông tin để phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Trong khi cơ quan thuế của Áo, Pháp, Ailen, Italia và Thụy Điển cho thành lập các nhóm điều tra đặc biệt để giảm thiểu rủi ro liên quan đến mạng internet.

Còn tại Nhật Bản, do các giao dịch TMĐT đều có đặc điểm là tính nặc danh cao, dễ dàng thực hiện, phạm vi rộng, dữ liệu được mã hóa dưới định dạng số và được bảo mật, nên cơ quan thuế đã yêu cầu các ngân hàng cung cấp số tài khoản được sử dụng để thanh toán các giao dịch TMĐT; thực hiện mua sắm thử để nhận email từ người bán; sử dụng phần mềm khôi phục dữ liệu trên các thiết bị từ tính, hoặc đĩa cứng của các máy tính cá nhân, nhằm xác định các khoản thu nhập và chuẩn bị trong trường hợp khiếu kiện. Tuy nhiên, để thực hiện biện pháp này, ngoài việc cần sự hỗ trợ của người nộp thuế, cơ quan thuế còn thành lập tổ quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT bao gồm các chuyên gia công nghệ cao, các cán bộ thanh tra, kiểm tra có kinh nghiệm; tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu thu thập từ các nhà cung cấp dịch vụ TMĐT; phát triển hệ thống dò tìm tự động trên mạng internet cho phép người dùng tìm được tên và địa chỉ URL của các trang web.

Trong khi đó ở Hàn Quốc, cơ quan thuế thành lập phòng quản lý thuế đối với TMĐT với nhiệm vụ phân tích xu hướng các ngành nghề liên quan đến TMĐT, đồng thời thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau để phát hiện các nghi vấn trốn thuế. Bằng cách kiểm tra số tài khoản được công bố trên trang web, hoặc thực hiện một đơn đặt hàng giả, sau đó tiến hành xác minh giao dịch tài chính, cơ quan thuế có thể xác định được doanh thu có kê khai sai hay không. Ngược lại, tại Thái Lan mặc dù có khoảng 300.000 DN kinh doanh trực tuyến đăng ký với Cục TMĐT, nhưng chỉ có 2.000 DN thực hiện đăng ký kê khai thuế, nên hàng năm số thu NSNN từ hoạt động này chỉ đạt 300 triệu baht (khoảng 9 triệu USD). Do vậy, để chống thất thu, kể từ 1/5/2017 Thái Lan đã gửi hóa đơn điện tử qua email cho các công ty có doanh thu hàng năm dưới 30 triệu baht (khoảng 900 nghìn USD) để hỗ trợ các DN TMĐT vừa và nhỏ xử lý thuế GTGT. Đối với DN lớn, hệ thống tạo lập hóa đơn điện tử đầy đủ sẽ sớm được triển khai để thay thế hóa đơn giấy. 

Kinh nghiệm cho Việt Nam

Tại Việt Nam TMĐT đang phát triển mạnh mẽ. Do vậy, việc học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đi trước là cần thiết để xây dựng chiến lược quản lý thuế đối với hoạt động này, đảm bảo sự công bằng cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Theo TS Lê Quang Thuận, Viện Chiến lược và chính sách tài chính (Bộ Tài chính), để quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT, Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp lý chung về TMĐT, đặc biệt là đối với các hình thức kinh doanh mới như tiền điện tử, tiền ảo, tài sản ảo, các mô hình “kinh tế chia sẻ”. Cụ thể, cần sửa đổi Luật Quản lý thuế hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến quản lý thuế điện tử; quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế, theo các thông lệ quốc tế, nhất là trong hoạt động với các cá nhân, tổ chức nước ngoài. Mặt khác, có thể nghiên cứu thành lập đơn vị chuyên trách để quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT. Bên cạnh đó, cần phát triển công cụ tìm kiếm để thu thập thông tin xử lý các nhóm rủi ro khác nhau.

Ông Thuận cũng đề xuất, cơ quan thuế cần phối hợp với Ngân hàng Nhà nước cung cấp bảng sao kê tài khoản của các tổ chức, cá nhân hoạt động TMĐT, các tổ chức không phải là ngân hàng cấp phép cung ứng dịch vụ thanh toán trung gian; phối hợp với các công ty chuyển phát, công ty bưu chính, viễn thông cung cấp số lượng hàng hóa vận chuyển. Đồng thời, kết hợp với hệ thống ngân hàng thương mại để thanh, kiểm tra các DN có dấu hiệu trốn thuế, thông qua việc kiểm soát dòng tiền. Sự phối hợp này đặc biệt cần thiết khi việc kiểm soát các giao dịch nhỏ lẻ rất khó thực hiện được.

Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp về 15-17%

Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp về 15-17%

 

Mức thuế thu nhập doanh nghiệp với doanh nghiệp nhỏ và vừa được đề xuất giảm từ 20% hiện tại về mức 15-17%. Điều này có thể khiến ngân sách giảm thu hàng nghìn tỷ đồng nhưng mang lại lợi ích về lâu dài.

Đây là nội dung vừa được Bộ Tài chính nêu lên trong "Dự thảo tờ trình Chính phủ về việc xây dựng dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa."

Doanh thu dưới 3 tỷ đồng chỉ chịu thuế 15%

Theo quy định, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang áp dụng mức thuế suất như đối với doanh nghiệp nói chung là 20%.

Tuy nhiên, đại diện Bộ Tài chính dẫn kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều nước đã thông qua các chính sách, chương trình hỗ trợ nhằm tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó có chính sách thuế.

Theo Bộ Tài chính, hiện nhiều nước có quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa được áp dụng mức thuế suất thấp hơn mức thuế suất phổ thông. Ví dụ, ở Trung Quốc, mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông là 25% nhưng doanh nghiệp nhỏ  được áp dụng mức thuế suất ưu đãi là 20%.

Một số nước như Hàn Quốc, Hà Lan, Brazil,... không có quy định như trên nhưng thuế thu nhập doanh nghiệp được đánh lũy tiến, tức là mức thuế suất cao hơn áp dụng đối với phần thu nhập chịu thuế ở mức cao.

Ví dụ, Hàn Quốc áp dụng mức thuế suất 10% đối với 200 triệu won chịu thuế đầu tiên, 20% đối với phần thu nhập chịu thuế từ 200 triệu won đến 20 tỷ won, 22% đối với phần thu nhập chịu thuế trên 20 tỷ won. Hoặc, Hà Lan áp dụng thuế suất 20% đối với 200.000 euro thu nhập chịu thuế đầu tiên, 25% đối với phần thu nhập chịu thuế vượt 200.000 euro.

Với Việt Nam, Bộ Tài chính cho rằng, hiện số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như ổn định xã hội.

Để tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, Bộ Tài chính dự kiến báo cáo Chính phủ trình Quốc hội cho áp dụng một số chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Cụ thể, nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa được giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp xuống còn 15- 17%.

Theo đó, thuế suất 15% áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm dưới 3 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người.

Thuế suất 17% áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ 3 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người. 

Miễn thuế 2 năm với doanh nghiệp mới từ hộ lên

Bên cạnh đề nghị giảm thuế trên, theo Bộ Tài chính, để khuyến khích các đối tượng là hộ, cá nhân kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp, bộ đề xuất thực hiện chính sách riêng cho các đối tượng này.

Cụ thể, Bộ Tài chính đề xuất: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với doanh nghiệp thành lập mới từ hộ, cá nhân kinh doanh.

Sau thời gian miễn thuế này, trường hợp doanh nghiệp mới thành lập từ hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện dự án đầu tư thuộc ngành nghề, địa bàn ưu đãi thuế thì tiếp tục được hưởng mức ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Hết thời gian miễn thuế và thời gian hưởng ưu đãi thuế (nếu có), doanh nghiệp thực hiện mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tương ứng với điều kiện thực tế của doanh nghiệp theo quy định.

Ở hướng khác, để tạo điều kiện thuận lợi hơn, Bộ Tài chính đề xuất thêm phương pháp tính thuế riêng với doanh nghiệp có doanh thu hàng năm dưới 3 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người.

Cụ thể, trường hợp doanh nghiệp thuộc diện như trên không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ.

Doanh nghiệp trong ngành nghề phân phối, cung cấp hàng hóa có mức thuế suất là 0,4% (mức thuế thu nhập cá nhân hiện hành áp dụng với hộ kinh doanh ngành nghề trên là 0,5%). Tương tự, tỷ lệ % doanh thu theo ngành nghề khác như sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa,... sẽ bằng 0,75 lần mức thuế suất đang áp dụng.

Đánh giá tác động, Bộ Tài chính tính toán, việc thực hiện các giải pháp trên có thể làm giảm thu ngân sách khoảng 9.200 tỷ đồng/năm. Trong số này, giải pháp giảm thuế suất cho doanh nghiệp giảm khoảng 6.500 tỷ đồng và giải pháp miễn thuế trong vòng 2 năm đối với doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh khoảng 2.722 tỷ đồng/năm.

"Tuy việc giảm nghĩa vụ này trong ngắn hạn có gây áp lực lên cân đối ngân sách Nhà nước nhưng về dài hạn sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tăng tích tụ, tích lũy, tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần tăng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách Nhà nước vào những năm sau," dự thảo đánh giá./.

Hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế năm 2018: Thành công ngoài mong đợi

Hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế năm 2018: Thành công ngoài mong đợi

Trao đổi với phóng viên TBTCVN về công tác hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế năm 2018, bà Lê Thị Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế (Tổng cục Thuế) cho biết, mỗi buổi hỗ trợ đã thu hút hàng chục nghìn lượt người truy cập, điều này đã mang lại thành công ngoài mong đợi.

Theo bà Lê Thị Thủy, đây là năm đầu tiên Tổng cục Thuế triển khai tháng hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế (www.gdt.gov.vn).

“Mặc dù là năm đầu tiên Tổng cục Thuế tổ chức chương trình hỗ trợ trực tuyến về quyết toán thuế, nhưng đã mang lại kết quả ngoài mong đợi. Ban đầu, chúng tôi nghĩ sẽ không có nhiều người quan tâm đến vấn đề này. Tuy nhiên, ngay buổi hỗ trợ đầu tiên, chúng tôi đã tiếp nhận rất nhiều câu hỏi liên quan đến chính sách thuế, cũng như thủ tục quyết toán thuế TNCN”, bà Thủy nói.

Cũng theo đại diện Tổng cục Thuế, số người truy cập vào website của Tổng cục Thuế tăng đột biến do đây là tháng cao điểm để người nộp thuế phải thực hiện quyết toán thuế, do đó người nộp thuế tìm hiểu lại chính sách cũng như thủ tục để thực hiện.

“Mặc dù cơ quan thuế các cấp đã hỗ trợ rất thường xuyên về chính sách thuế, hàng năm đều tổ chức những hội nghị đối thoại, tháo gỡ vướng mắc cho người nộp thuế. Tuy nhiên, đến thời điểm người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế thì họ lại tìm hiểu lại chính sách thuế để thực hiện”, bà Thủy cho biết.

Trước đó như TBTCVN đã thông tin, để hỗ trợ người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế năm 2018, Vụ Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế (Tổng cục Thuế) đã chủ trì, phối hợp với Vụ Quản lý thuế TNCN, Vụ Chính sách, Vụ Kê khai kế toán thuế và Cục Công nghệ thông tin tổ chức chương trình hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế TNCN, TNDN năm 2018 trên website Tổng cục Thuế. Chương trình đã được tổ chức vào các ngày 6/3, 13/3, 14/3, 20/3 và 27/3/2019.

Trong đó, Tổng cục Thuế đã tổ chức 4 buổi hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế TNCN vào các ngày 6/3, 13/3, 20/3 và 27/3. Trong các buổi hỗ trợ, số lượng câu hỏi tiếp nhận khoảng 600 câu hỏi, đã trả lời trực tiếp khoảng 140 câu hỏi.

Riêng 1 buổi hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế TNDN (ngày 14/3), số lượng câu hỏi tiếp nhận khoảng 120 câu hỏi, đã trả lời trực tiếp khoảng 25 câu hỏi.

Tại các buổi hỗ trợ trực tuyến đã nhận được sự quan tâm của nhiều cơ quan báo chí, cũng như  đông đảo người nộp thuế đã theo dõi và trực tiếp đặt câu hỏi. Theo thống kê của Tổng cục Thuế, số lượt truy cập website của Tổng cục Thuế tăng đột biến trong thời gian các buổi hỗ trợ trực tuyến diễn ra, khoảng 10.000 lượt/buổi./.

Hỗ trợ các DN nhỏ và siêu nhỏ nhiều nước áp dụng cách tính thuế đơn giản

Hỗ trợ các DN nhỏ và siêu nhỏ nhiều nước áp dụng cách tính thuế đơn giản

Hiện, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về một số chính sách thuế TNDN nhằm hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), trong đó có nội dung liên quan đến phương pháp tính thuế theo tỷ lệ cho DN siêu nhỏ. Về vấn đề này, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm ở một số nước.

Thuế ưu đãi ở mức thấpDNNVV đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, khi chiếm tới 97%-99% trong tổng số DN và được xác định là “xương sống” của nền kinh tế. Do đó, mức độ hỗ trợ DNNVV tập trung vào các chính sách như: tín dụng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng hoặc miễn giảm thuế.Cụ thể ở Thái Lan, thuế TNDN phổ thông là 20%, nhưng các DNNVV được áp dụng thuế suất ưu đãi ở mức thấp hơn. Theo đó, các DNNVV có thu nhập chịu thuế từ 300.000 Bath trở xuống được miễn thuế, từ 300.001 - 3.000.000 Bath được áp dụng mức thuế suất 15% và trên 3.000.000 Bath áp dụng mức thuế suất phổ thông 20%. Đặc biệt, trong giai đoạn 2016 - 2017, để thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, Thái Lan thực hiện ưu đãi từ 1/1/2016 - 31/12/2016 miễn thuế hoàn toàn cho DNNVV; từ 1/1/2017 - 31/12/2017,  DN có thu nhập chịu thuế từ 300.000 Bath trở xuống, được miễn thuế; DN có thu nhập chịu thuế lớn hơn 300.000 Bath, được áp dụng thuế suất 10%. Để được ưu đãi thuế, các DNNVV phải đáp ứng điều kiện: vốn góp tại thời điểm cuối của bất kỳ kỳ kế toán nào không vượt 5 triệu Bath; thu nhập từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ của bất kỳ kỳ kế toán nào không vượt 30 triệu Bath; và DN được thành lập trước ngày 1/1/2016. Trong khi đó tại Indonesia, hiện thuế TNDN phổ thông là 25%. Tuy nhiên, các DN có doanh thu nhỏ hơn 4,8 tỷ Rupi được áp dụng mức thuế suất 1% tính trên doanh thu năm; có doanh thu từ 4,8 tỷ Rupi đến 50 tỷ rupi được áp dụng mức thuế suất 12,5% đối với phần thu nhập chịu thuế tương ứng với mức doanh thu 4,8 tỷ Rupi (giảm 50% so với mức thuế suất phổ thông là 25%). Từ 1/7/2018, thuế suất thuế TNDN đối với DNNVV giảm từ 1% xuống còn 0,5% (tính trên doanh thu.Tương tự, Singapore áp dụng thuế TNDN phổ thông hiện hành ở mức 17%, nhưng đối với các DNNVV, mức thuế suất áp dụng thấp hơn. Cụ thể, 0% đối với thu nhập tính thuế không quá 100.000 SGD; 8,5% đối với thu nhập tính thuế từ trên 100.000 SGD đến không quá 300.000 SGD; DN có thu nhập tính thuế vượt quá 300.000 SGD thì áp dụng mức thuế suất phổ thông là 17%.Với Trung Quốc, từ 1/1/2019-31/12/2021, cho phép nới rộng tiêu chí về DN nhỏ và lợi nhuận để các DN được hưởng mức thuế ưu đãi hơn. Cụ thể đối với tiêu chí DN nhỏ, nếu như trước đây căn cứ vào mức có thu nhập tính thuế dưới 1 triệu NDT, thì nay là dưới 3 triệu NDT; số lao động dưới 300 người (cũ là dưới 80); tổng tài sản dưới 50 triệu NDT (cũ là dưới 10 triệu NDT). Về thuế suất, trước đây mức thuế TNDN ưu đãi là 10% đối với DN có thu nhập chịu thuế hàng năm lên tới 1 triệu NDT, nhưng hiện nay, các DN đủ điều kiện sẽ chỉ phải nộp thuế ở mức 5% đối với 1 triệu NDT thu nhập tính thuế đầu tiên và 10% cho 2 triệu NDT thu nhập tính thuế tiếp theo.Ngược lại, Hàn Quốc, Hà Lan, Brazin không có quy định về mức thuế TNDN phổ thông, cũng như mức thuế ưu đãi đối với DNNVV. Tuy nhiên, thuế TNDN được đánh lũy tiến với các mức thuế suất cao hơn áp dụng đối với phần thu nhập chịu thuế ở mức cao. Theo đó, Hàn Quốc áp dụng mức thuế suất 10% đối với 200 triệu Won chịu thuế đầu tiên, 20% đối với phần thu nhập chịu thuế từ 200 triệu Won đến 20 tỷ Won, 22% đối với phần thu nhập chịu thuế trên 20 tỷ Won. Hà Lan áp dụng thuế suất 20% đối với 200.000 EUR thu nhập chịu thuế đầu tiên, 25% đối với phần thu nhập chịu thuế vượt 200.000 EUR.Phương pháp tính thuế theo tỷ lệ cho DN siêu nhỏNghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, nhằm hỗ trợ DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ, phần lớn các nước áp dụng các phương thức xác định nghĩa vụ thuế đơn giản, bao gồm áp dụng thuế suất đơn nhất đối với doanh thu, hay thuế khoán. Theo đó, đối với phương thức áp dụng một mức thuế suất đơn nhất tính trên tổng doanh thu của các DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ, từ 1/7/2013, tại Indonesia đối tượng nộp thuế là cá nhân và DN (ngoại trừ các DN có cơ sở trường trú vĩnh viễn) có tổng doanh thu dưới 4,8 tỷ Rp/năm phải chịu mức thuế suất là 1% trên tổng doanh thu hàng tháng. Còn Pháp, mức thuế TNDN phổ thông là 33,33% cũng được áp dụng cho các loại hình DN nhỏ, tuy nhiên áp dụng trên một tỷ lệ nhất định của doanh thu. Cụ thể, đối với DN nhỏ hoạt động trong lĩnh vực bán hàng hóa có doanh thu thấp hơn 82.200 Euro/năm thì được miễn thuế GTGT và nộp thuế theo mức thuế suất thuế TNDN phổ thông trên 29% doanh thu hàng năm. Đối với DN nhỏ hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ có doanh thu thấp hơn 32.900 Euro được miễn thuế GTGT và nộp thuế theo mức thuế suất thuế TNDN phổ thông trên 50% doanh thu hàng năm.Trong khi đó, tại Brazil, hình thức khoán theo chế độ thuế cá nhân vi mô chủ yếu áp dụng đối với các cá nhân tự làm chủ DN nhỏ, thuê tối đa một nhân viên và có doanh thu ít hơn 60 triệu BRL/năm. Theo đó,  DN sẽ được miễn các loại thuế liên bang như thuế TNDN, nhưng sẽ phải trả thuế khoán hàng tháng, nhằm thực hiện công tác xã hội. Mức thuế khoán được quy định cụ thể: 40,4 RealBrazil (BRL)/tháng đối với thương mại và công nghiệp; 44,4 BRL/tháng đối với dịch vụ và 45,4 BRL/tháng thương mại và dịch vụ. Ngoài ra, Brazil cũng áp dụng biểu thuế suất lũy tiến tính trên tiêu chí doanh thu của các DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ ở các ngành nghề và lĩnh vực khác nhau. Các DN có tổng doanh thu tối đa đạt 3,6 tỷ BRL, có thể chọn áp dụng chế độ thuế đơn giản, với mức lũy tiến cho từng lĩnh vực. Ví dụ đối với lĩnh vực thương mại, thuế suất 4% đối với DN có doanh thu ít hơn 180.000 BRL; 11,61% với doanh thu đạt 3,4 - 3,6 triệu BRL. Đồng thời, các DN chỉ cần nộp một tờ khai thuế hàng năm, cũng như không cần phải giữ các sổ sách kế toán truyền thống, mà chỉ cần lưu giữ các báo cáo thuế theo quy định.Riêng phương thức đơn giản hóa các yêu cầu liên quan đến việc nộp thuế (xét theo tiêu chí doanh thu), Đức không yêu cầu các DN nhỏ, siêu nhỏ giữ sổ sách kế toán cho mục đích thuế nếu có doanh thu dưới 500.000 Euro/năm. Còn ở Ấn Độ, chỉ DN có thu nhập vượt quá 120.000 INR, hoặc trong bất kỳ năm nào của 3 năm liền kề trước đó, DN có thu nhập vượt quá 1 triệu INR, thì mới phải duy trì sổ sách kế toán. Tại Chi Lê, mặc dù DNVVN không cần phải giữ các báo cáo cân đối kế toán, tồn kho, khấu hao tài sản hoặc các thông tin về lợi nhuận chịu thuế, song phải giữ các hồ sơ đăng ký tiền mặt theo thời gian và sổ cái về giao dịch mua bán.
Mở rộng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) cho 15 Tỉnh/Thành phố

Mở rộng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) cho 15 Tỉnh/Thành phố

Với mục tiêu tạo điều kiện tốt nhất để Người nộp thuế thực hiện tốt chính sách pháp luật thuế, ngành Thuế sẽ triển khai mở rộng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) thay thế hệ thống Khai thuế điện tử (nhantokhai.gdt.gov.vn), Nộp thuế điện tử (nopthue.gdt.gov.vn) đang cung cấp cho các doanh nghiệp, đồng thời bổ sung thêm một số tính năng mới.

Hiện tại hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) đã triển khai được cho người nộp thuế tại 30 Cục Thuế (Phú Thọ, Bắc Ninh, Lào Cai, Điện Biên, Hoà Bình, Lai Châu, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương, Hưng Yên, Yên Bái, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông). Trong tháng 5/2019 Tổng cục Thuế triển khai mở rộng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) cho 15 tỉnh: Hà Nội, Tuyên Quang, Hà Nam, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đồng Nai.

Kể từ ngày 6/5/2019, người nộp thuế tại 15 tỉnh/thành phố nêu trên sẽ ngừng sử dụng hệ thống Khai thuế điện tử (nhantokhai.gdt.gov.vn) và Nộp thuế điện tử (nopthue.gdt.gov.vn) để chuyển sang sử dụng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử eTax (thuedientu.gdt.gov.vn).Hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) đáp ứng hoàn toàn các chức năng của các hệ thống Khai thuế điện tử (nhantokhai.gdt.gov.vn) và Nộp thuế điện tử. Đồng thời, để tạo thuận lợi cho người nộp thuế tiếp cận với hệ thống eTax được dễ dàng, thuận tiện trong sử dụng, phân hệ khai thuế, nộp thuế trên eTax được thiết kế tương đồng và đáp ứng hoàn toàn như hệ thống khai thuế, nộp thuế điện tử tại các trang web nhantokhai.gdt.gov.vn, nopthue.gdt.gov.vn mà người nộp thuế sử dụng trước đây.Đối với các doanh nghiệp đã giao dịch với Cơ quan thuế trên các hệ thống Khai thuế, Nộp thuế điện tử (đã có tài khoản giao dịch), mọi thông tin về tài khoản giao dịch và hồ sơ của người nộp thuế sẽ được chuyển sang hệ thống eTax để tiếp tục sử dụng các dịch vụ của Cơ quan thuế mà không phải đăng ký lại. Cách thức truy cập như sau:Trường hợp người sử dụng có mật khẩu của hệ thống Nộp thuế điện tử đã sử dụng trước đó tại website nopthue.gdt.gov.vn, đăng nhập vào eTax bằng tài khoản: MST-QL (ví dụ: 0100231226-QL), mật khẩu là mật khẩu đăng nhập vào hệ thống Nộp thuế điện tử, để sử dụng tất cả các dịch vụ: Khai thuế; Hoàn thuế; Nộp thuế; Tra cứu; Quản lý và phân quyền tài khoản. Từ tài khoản này, có thể tạo, phân quyền cho các tài khoản phụ (phân quyền theo chức năng) tùy theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, cách thức phân quyền chi tiết người nộp thuế có thể tải tại phần hướng dẫn sử dụng ứng dụng.Trường hợp người sử dụng có mật khẩu của hệ thống Khai thuế điện tử đã sử dụng trước đó tại website nhantokhai.gdt.gov.vn, đăng nhập vào eTax bằng tài khoản: MST (ví dụ: 0100231226), mật khẩu là mật khẩu đăng nhập vào hệ thống Khai thuế điện tử, để sử dụng dịch vụ Khai thuế; Hoàn thuế; Tra cứu.Với hệ thống Dịch vụ Thuế điện tử - eTax, người nộp thuế có thể tiếp cận và quản lý tất cả các dịch vụ thuế điện tử trên một hệ thống duy nhất thay vì phải đăng nhập vào nhiều ứng dụng khác nhau như trước đây. Một số tính năng nổi bật của hệ thống Thuế điện tử - eTax:Đăng nhập vào 01 hệ thống để sử dụng tất cả các dịch vụ, quản lý tất cả các hồ sơ thuế mà không cần thay đổi địa chỉ trang web hay đăng nhập lại hệ thống. Điều này sẽ giúp người nộp thuế dễ dàng thực hiện đầy đủ các bước trong các quy trình kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, tra cứu thông tin hồ sơ, nghĩa vụ thuế.Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, ngoài 01 tài khoản chính của mỗi một mã số thuế, doanh nghiệp có thể tạo thêm các tài khoản cho các chức danh khác nhau trong doanh nghiệp như Giám đốc, Kế toán trưởng, Kế toán viên,... giúp cho việc kiểm soát trách nhiệm các thành viên một cách đảm bảo, linh hoạt.Chức năng tra cứu: Người nộp thuế có thể tra cứu các hồ sơ thuế đã gửi đến Cơ quan thuế, các thông báo xử lý kết quả của các hồ sơ thuế, tra cứu thông tin nghĩa vụ thuế, số thuế phải nộp.Chức năng hỏi đáp: Cho phép người nộp thuế gửi câu hỏi đến Cơ quan thuế quản lý, tra cứu câu trả lời của Cơ quan thuế.Đặc biệt đợt triển khai lần này Hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) bổ sung thêm chức năng Đăng ký thuế điện tử. Chức năng Đăng ký thuế điện tử cho phép người nộp thuế kê khai và nộp các hồ sơ đăng ký thuế đến Cơ quan thuế với các trường hợp đăng ký cấp mới MST; các trường đăng ký thuế đối với trường hợp đã có MST, đăng ký thuế hoặc thay đổi thông tin qua tổ chức chi trả thu nhập, tạm ngừng – khôi phục mã số thuế, chấm dứt hiệu lực MST, khôi phục hiệu lực MST.Chi tiết chức năng và hướng dẫn sử dụng tại: http://thuedientu.gdt.gov.vn.

Thu ngân sách nhà nước 2 tháng đạt trên 246 nghỉn tỷ đồng

Thu ngân sách nhà nước 2 tháng đạt trên 246 nghỉn tỷ đồng

 

Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 2/2019 ước đạt 84,8 nghìn tỷ đồng, luỹ kế thu 2 tháng đầu năm đạt gần 246,5 nghìn tỷ đồng, bằng 17,5% dự toán năm, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó, thu nội địa trong tháng 2/2019 ước đạt 69,5 nghìn tỷ đồng, luỹ kế thu 2 tháng đạt gần 204,8 nghìn tỷ đồng, bằng 17,4% dự toán, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2018; Thu từ dầu thô ước đạt 4,5 nghìn tỷ đồng, luỹ kế thu 2 tháng đạt gần 8,7 nghìn tỷ đồng, bằng 19,5% dự toán, giảm 1,7% so cùng kỳ năm 2018;Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu tháng 2/2019 ước đạt 17,7 nghìn tỷ đồng, lũy kế thu 2 tháng đạt 51,5 nghìn tỷ đồng, bằng 17,1% dự toán, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Đáng chú ý, do với dự toán, có 9/18 khoản thu, sắc thuế đạt khá (trên 18%), trong đó một số khoản thu lớn như: khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 18,4%; khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 19,8%; thuế thu nhập cá nhân đạt 18,3%... Chỉ còn 3/18 khoản thu, sắc thuế nhỏ thu thấp hơn cùng kỳ là: tiền thuê đất, thuế sử dụng đất nông, thu tiền bán nhà.

Về chi ngân sách, tổng chi cân đối ngân sách nhà nước tháng 2/2019 ước đạt 103,2 nghìn tỷ đồng, luỹ kế chi 2 tháng đầu năm đạt khoảng 195,4 nghìn tỷ đồng, bằng 12% dự toán, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Các nhiệm vụ chi ngân sách trong tháng 2 và 2 tháng đầu năm được đảm bảo theo đúng dự toán và tiến độ triển khai thực hiện của các đơn vị sử dụng ngân sách, đáp ứng các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội.

Lũy kế trả nợ 2 tháng đầu năm 2019 của Chính phủ là 60.360 tỷ đồng trong đó trả gốc là 39.667 tỷ đồng, trả lãi là 20.693 tỷ đồng.

Trong 2 tháng đầu năm Bộ Tài chính đã xuất cấp trên 41,2 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia cho các địa phương để hỗ trợ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán. Ngoài ra, đã hoàn thành xuất cấp 241 tấn/32.524 tấn gạo hỗ trợ học sinh học kỳ II năm học 2018-2019.

Để tiết kiệm thời gian chi phí, cá nhân nên nộp quyết toán qua mạng

Để tiết kiệm thời gian chi phí, cá nhân nên nộp quyết toán qua mạng

Nhằm giải đáp kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện quyết toán thuế, từ ngày 6/3, Tổng cục Thuế đã tổ chức chương trình hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế năm 2018 trên website của ngành tại địa chỉ www.gdt.gov.vn. Để tìm hiểu rõ hơn về chương trình này, phóng viên Tạp chí Thuế đã trao đổi với bà Tạ Thị Phương Lan (ảnh)  - Phó vụ trưởng Vụ quản lý thuế DN nhỏ, vừa và hộ kinh doanh, cá nhân.

Xin bà cho biết những điểm mới trong công tác hỗ trợ quyết toán thuế năm nay? 

Năm 2019, lần đầu tiên Tổng cục Thuế tổ chức chương trình hỗ trợ quyết toán thuế trên website của ngành nhằm giải đáp các vướng mắc của người nộp thuế (NNT). Theo đó trong tháng 3, chương trình hỗ trợ trực tuyến được tổ chức vào thứ 4 hàng tuần từ 14h đến 16h, riêng tuần cuối cùng của tháng 3, chương trình hỗ trợ sẽ tăng lên 3 buổi/tuần vào các ngày thứ 2, 4 và thứ 6 và có thể nhiều hơn theo thực tế yêu cầu của NNT. Tổng cục Thuế sẽ có thông báo chính thức trên trang web về thời gian hỗ trợ trực tuyến.

Ngoài việc Tổng cục Thuế tổ chức hỗ trợ quyết toán trực tuyến thì tại các cục thuế địa phương, đặc biệt 2 địa bàn lớn là Hà Nội và TP HCM đều tổ chức Tháng hỗ trợ để giải đáp trực tiếp những vướng mắc. Chính vì vậy, đối với NNT không có điều kiện theo dõi, đặt câu hỏi trực tuyến trên website của Tổng cục Thuế vẫn có thể đến trực tiếp cơ quan thuế địa phương để được hỗ trợ tháo gỡ kịp thời những khó khăn .

Bà có thể nêu rõ hơn những ưu điểm của hình thức hỗ trợ trực tuyến  so với những hỗ trợ truyền thống trước đây?

Mọi năm, Tổng cục Thuế không hỗ trợ trực tuyến, mà việc hỗ trợ quyết toán thuế được thực hiện tại các cơ quan thuế các địa phương hoặc do một số cơ quan báo chí phối hợp với các chuyên gia thuế tổ chức. Tuy nhiên, việc cùng lúc tổ chức hỗ trợ trực tuyến tại nhiều điểm có thể dẫn đến việc thông tin đưa ra không thống nhất, hoặc các câu hỏi trùng lặp, vừa tốn thời gian phải trả lời nhiều lần, vừa làm nhiễu loạn thông tin, gây khó khăn cho NNT. Chính vì vậy, năm nay Tổng cục Thuế trực tiếp tổ chức tiếp nhận và trả lời, giúp NNT giải tỏa ngay các vướng mắc, đồng thời cũng giúp cơ quan thuế tại địa phương xử lý ngay những vấn đề cần giải quyết. Như vậy công tác hỗ trợ quyết toán thuế sẽ nhanh chóng hiệu quả hơn. 

Qua thực tế hỗ trợ trực tuyến trong tuần đầu tiên của tháng 3, bà có thể cho biết những vướng mắc phổ biến mà NNT hay gặp phải?   

Để hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tháo gỡ ngay những vướng mắc trong quá trình quyết toán thuế TNCN, Tổng cục Thuế đã tổ chức hỗ trợ trực tuyến ngay từ đầu tháng 3 và đã có thông báo rộng rãi trên website của ngành.      Với 2 tiếng trong ngày đầu tiên triển khai hỗ trợ trực tuyến, cơ quan thuế đã nhận được trên 150 câu hỏi liên quan đến quyết toán thuế và xác định thu nhập phải quyết toán thuế TNCN năm 2018.  Đây là các câu hỏi không có nội dung gì quá phức tạp và đã được quy định cụ thể tại các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Về mặt chính sách quyết toán thuế TNCN năm 2018 cũng không có điểm gì mới so với năm trước. Tuy nhiên, do đặc thù thuế TNCN không phải năm nào cũng phải quyết toán nên đối với những cá nhân năm nay mới phát sinh nộp thuế TNCN thì mọi thông tin vẫn là mới. Do đó, tất cả vướng mắc của NNT đều được các đơn vị chức năng của cơ quan thuế trả lời tận tình và đăng tải công khai trên website của Tổng cục Thuế. 

Bà có lời khuyên gì để các cá nhân tránh bị xử phạt chậm nộp do thiếu hồ sơ hay có sai sót trong quá trình thực hiện quyết toán thuế?

Đối với thuế TNCN, NNT nên nộp hồ sơ quyết toán ngay từ đầu tháng 3, tránh để đến tuần cuối cùng của kỳ quyết toán mới đi nộp bởi lúc đó, nếu phát sinh sai sót rất khó điều chỉnh. Hơn nữa vào thời điểm gấp gáp, cơ quan thuế cũng không thể hướng dẫn chi tiết cho NNT. Hiện nay, Tổng cục Thuế đã hỗ trợ kê khai quyết toán thuế điện tử nên các cá nhân thực hiện khai thuế bằng hình thức này sẽ được hỗ trợ tiếp nhận tờ khai, tính số thuế phải nộp một cách tự động bằng các ứng dụng hỗ trợ kê khai, ngoài ra còn nhận được nhiều hỗ trợ khác, nhất là xác định chính xác nơi nộp hồ sơ quyết toán. Chính vì vậy, NNT nên áp dụng hình thức khai thuế điện tử.  

Cũng phải nhấn mạnh thêm một lần nữa là chỉ những cá nhân có số thuế phải nộp thêm hoặc những người có số thuế được hoàn, có đề nghị hoàn mới phải quyết toán thuế TNCN chứ không bắt buộc 100% cá nhân có thu nhập trong năm đều phải nộp quyết toán thuế. Do đó, cá nhân cần lưu ý để tránh phải đi lại nhiều lần gây tốn thời gian, công sức, đồng thời góp phần giảm sức ép cho cơ quan thuế./.

Xử lý nợ thuế không có khả năng thu hồi

Xử lý nợ thuế không có khả năng thu hồi

Đó là ý kiến của nhiều đại biểu tham dự Hội thảo góp ý về dự thảo nghị quyết xử lý nợ thuế không còn khả năng nộp ngân sách do Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội và Bộ Tài chính tổ chức.

Image

ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: 41 Phan Triêm, Phường Hòa Xuân, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0236.3.707404
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@dng.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: Tầng 7, Tòa nhà HP, 60 Nguyễn Văn Thủ, Đakao, Quận 1, Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 02822446739
Mobile: 0915.888.404
Email: info@hcm.com.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HÀ NỘI

Địa chỉ: Tòa nhà Anh Minh, 36 Hoàng Cầu, p. Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 02422612929
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@hno.vn 
Website: thanhlapcongtydanang.com

 

GỌI NGAY

0915.888.404