TIN TỨC VỀ THUẾ

Giải đáp vướng mắc về khai thuế giá trị gia tăng đối với hàng bán trả lại

Giải đáp vướng mắc về khai thuế giá trị gia tăng đối với hàng bán trả lại

Tổng cục Thuế vừa có Công văn số 1788/TCT-DNL hướng dẫn doanh nghiệp khai thuế giá trị gia tăng đối với hàng bán trả lại.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Phúc đáp những thắc mắc của Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang về việc khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng bán trả lại, Tổng cục Thuế cho biết: Căn cứ Điều 7 Luật Thuế GTGT, giá tính thuế được quy định như sau: Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 14 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính, tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, người bán đã xuất hóa đơn, người mua đã nhận hàng, nhưng sau đó người mua phát hiện hàng hóa không đúng quy cách, chất lượng phải trả lại toàn bộ hay một phần hàng hóa, khi xuất hàng trả lại cho người bán, cơ sở phải lập hóa đơn, trên hóa đơn ghi rõ hàng hóa trả lại người bán do không đúng quy cách, chất lượng, tiền thuế GTGT.

Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hoá, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hoá luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng hoá dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa.

Căn cứ các quy định nêu trên và nội dung các Bản án sơ thẩm số 13/2017/KDTM-ST ngày 23/08/2017 của Tòa án Nhân dân quận Ba Đình, bản án phúc thẩm số 71/2018/KDTM-ST ngày 03/5, 28/5 và 29/5/2018 của Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội do Tổng công ty Dịch vụ viễn thông cung cấp, trường hợp Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang trả lại hàng cho người bán là Công ty dịch vụ viễn thông (nay thuộc Tổng công ty Dịch vụ viễn thông) nhưng không lập hóa đơn hàng bán trả lại cho người bán và hiện nay Công ty NHH thương mại và đầu tư Hồng Quang đang dừng kinh doanh có thời hạn; giao dịch trả lại hàng đã được xác nhận giữa 3 bên gồm bên mua, bên bán và ngân hàng bảo lãnh; đồng thời, giao dịch trả lại hàng đã được xác định là căn cứ để tính nghĩa vụ nợ của Công ty Hồng Quang khi xử lý tranh chấp giữa các bên trên cơ sở bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. Như vậy, Cục Thuế TP. Hà Nội có trách nhiệm xác định số thuế GTGT của Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang còn phải nộp hoặc còn được khấu trừ sau khi tính đến việc điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào của Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang đối với hàng hóa đã trả lại cho Công ty dịch vụ Viễn thông.

Đồng thời nhất trí với đề xuất của Cục Thuế TP. Hà Nội về việc điều chỉnh giảm số thuế GTGT hàng hóa, dịch vụ bán ra của Công ty dịch vụ viễn thông tương ứng với hàng hóa đã nhận lại từ Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang. Việc điều chỉnh phải đảm bảo nguyên tắc không thất thoát tiền thuế đối với giao dịch trả lại hàng hóa giữa hai bên. Khi Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang hoạt động kinh doanh trở lại Cục Thuế TP. Hà Nội có trách nhiệm chỉ đạo giám sát, xử lý nghiêm hành vi vi phạm của Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang theo quy định của pháp luật.

 

Bắt buộc sử dụng hoá đơn điện tử từ ngày 1/7/2022

Bắt buộc sử dụng hoá đơn điện tử từ ngày 1/7/2022

Theo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua, từ ngày 01/7/2022, cơ quan, tổ chức, cá nhân bắt buộc phải sử dụng hóa đơn điện tử.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Bắt buộc sử dụng hoá đơn điện tử

Luật Quản lý thuế (sửa đổi) gồm 17 chương 152 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2020, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 151 (Quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử có hiệu lực từ ngày 1/7/2022). 

Luật cũng quy định về việc khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử của Luật này có hiệu lực trước ngày 01/7/2022.

Trong đó, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua theo định dạng chuẩn dữ liệu mà cơ quan thuế quy định và phải ghi đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về kế toán, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán và các trường hợp xác định được doanh thu khi bán hàng hoá, dịch vụ sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.

Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không đáp ứng điều kiện phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế nhưng cần có hóa đơn để giao cho khách hàng hoặc trường hợp doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác được cơ quan thuế chấp nhận cấp hóa đơn điện tử để giao cho khách hàng thì được cơ quan thuế cấp hóa đơn điện tử có mã theo từng lần phát sinh và phải khai, nộp thuế trước khi cơ quan thuế cấp hóa đơn điện tử theo từng lần phát sinh...

Tiết kiệm chi phí và thời gian

Việc quy định cụ thể về việc áp dụng hóa đơn điện tử trong Luật Quản lý thuế (sửa đổi) đã thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc áp dụng hóa đơn điện tử trên diện rộng; góp phần giảm thiểu chi phí, rút ngắn thời gian và hạn chế sai sót.

Theo ông Sebastian Eckardt, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, việc đưa quy định về hóa đơn điện tử vào Luật Quản lý thuế (sửa đổi) có ý nghĩa tích cực, giúp tăng cường tính minh bạch; giúp cơ quan thuế theo dõi được các hoạt động kinh tế; giảm rủi ro của các giao dịch không chính thức.

Đồng quan điểm trên, ông Lê Quang Hùng, Chi cục trưởng Chi cục Thuế Đống Đa (Hà Nội) nhận định, quy định áp dụng hóa đơn điện tử là giải pháp hữu hiệu để cải cách chế độ hóa đơn, chứng từ, đẩy nhanh tốc độ phủ sóng hóa đơn điện tử, giảm thiểu tối đa các hành vi gian lận thuế, tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc.

Cho rằng việc áp dụng hóa đơn điện tử sẽ đem lại hiệu quả ngay lập tức, ông Nguyễn Xuân Hoàng, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần MISA dẫn chứng, tổng chi phí sử dụng hóa đơn giấy trung bình là 15.000 đồng gồm phí chuyển phát nhanh, thêm chi phí viễn thông, lưu kho, thất lạc. Nhưng khi chuyển sang hóa đơn điện tử, doanh nghiệp chỉ tốn 500 đồng.

"Nếu mỗi doanh nghiệp loại nhỏ dùng 1.000 hóa đơn điện tử một năm, trong khi Việt Nam có khoảng 700.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa thì nền kinh tế có thể tiết kiệm khoảng 10.000 tỷ đồng. Không chỉ giảm chi phí, hóa đơn điện tử còn rút ngắn thời gian làm việc giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế, giảm gánh nặng công việc cho bộ phận kế toán và rủi ro, sai sót cũng xuống thấp."- ông Hoàng nhấn mạnh.

Rà soát chính sách thuế, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp

Rà soát chính sách thuế, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp

Là một trong những yêu cầu của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại buổi làm việc với Tổng cục Thuế về tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách, công tác cải cách thủ tục hành chính và tinh gọn hệ thống tổ chức bộ máy vào chiều 20/6 tại Hà Nội. Cùng tham dự buổi làm việc có lãnh đạo Ủy ban Tài chính ngân sách, Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, Thứ trưởng Trần Xuân Hà, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Bùi Văn Nam cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Thu nội địa tăng 12,5%

Tại buổi làm việc, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Bùi Văn đã báo cáo với đoàn công tác về tình hình thu NSNN do cơ quan thuế quản lý 6 tháng đầu năm 2019. Theo đó, thực hiện các chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ Tài chính, ngay từ những ngày đầu năm Tổng cục Thuế đã phát động trong toàn ngành phong trào thi đua phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN mà Quốc hội, Chính phủ giao. Chỉ đạo Cục Thuế các tỉnh, thành phố tranh thủ sự chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tập trung triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tăng cường quản lý thu, chống thất thu, thu hồi nợ đọng thuế, kiểm soát chặt chẽ tình hình kê khai, nộp thuế, hoàn thuế, tăng cường công tác tuyên truyền, giải đáp vướng mắc cho NNT…

Kết quả thực hiện thu nội địa 6 tháng đầu năm 2019 do cơ quan thuế quản lý ước đạt 597.786 tỷ đồng, bằng 51,2% dự toán, tăng 12,5% so với cùng kỳ.

Mức thu NS đạt khá ở hầu hết các khoản thu, sắc thuế, trong đó bao gồm những khoản thu lớn như: Khu vực CTN-NQD ước đạt 49,3%; Thuế TNCN ước đạt 53,7%, lệ phí trước bạ ước đạt 54,3%, Tiền SD đất ước đạt 63%, tiền thuê đất ước đạt 67,3%, thu từ cấp quyền KTKS và tài nguyên nước ước đạt 109,8%,… Số thu của 03 khu vực kinh tế trong 6 tháng đầu năm ước đạt 48,2% dự toán, tăng 14,9% so với cùng kỳ, đạt khá so với một số năm trở lại đây. Tuy nhiên, nếu không kể các khoản thu đột biến và tăng thu do yếu tố chính sách thì thu từ khu vực kinh tế trong 6 tháng đầu năm tăng 11,1% so với cùng kỳ, đây là tốc độ tăng trưởng phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2019.

Kết quả khả quan trên nhiều mặt công tác thuế

Để đạt các kết quả khả quan trên, ngay từ đầu năm, cơ quan thuế thường xuyên kiểm tra, đối chiếu giữa tình hình thực tế với hệ thống dữ liệu của cơ quan thuế đảm bảo kiểm soát, nắm bắt, theo dõi và quản lý thuế kịp thời. Đẩy mạnh cải cách, ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai diện rộng hệ thống khai, nộp thuế điện tử theo kiến trúc và công nghệ mới, với nhiều tiện ích, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện khai thuế thuận lợi, chính xác

Trong 5 tháng đầu năm 2019, toàn quốc có 53.549 DN thành lập mới, tăng 2,09% so với cùng kỳ năm 2018; có 34.469 DN chấm dứt kinh doanh, giảm 13,92% so với cùng kỳ năm 2018; có 18.969 DN tạm ngừng kinh doanh, tăng 18,16% so với cùng kỳ năm 2018; có 10.096 DN khôi phục sản xuất kinh doanh, giảm 4,44% so với cùng kỳ năm 2018. Tại thời điểm 31/5/2019, toàn quốc hiện có 721.516 doanh nghiệp đang kinh doanh, tăng 23.921 doanh nghiệp (3,43%) so với thời điểm cuối năm 2018.

Về công tác quản lý hoàn thuế: Cơ quan thuế tăng cường công tác quản lý hoàn thuế, kiểm soát chặt chẽ số chi hoàn thuế GTGT, đảm bảo việc hoàn thuế đúng đối tượng, theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước. Tính đến hết ngày 30/5/2019, cơ quan thuế đã ban hành 8.452 quyết định hoàn thuế với tổng số tiền thuế GTGT được hoàn là 49.910,17 tỷ đồng, bằng 44,41% so với năm 2018, bằng 44,84% so với dự toán hoàn thuế GTGT đã được Quốc hội giao năm 2019.

Đối với công tác thanh tra, kiểm tra: Tính đến hết tháng 5 năm 2019, toàn ngành Thuế đã thực hiện 22.714 cuộc thanh tra, kiểm tra, đạt 26,07% kế hoạch năm 2019, bằng 100,43% so với cùng kỳ năm 2018; tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 4.045,27 tỷ đồng, giảm lỗ là 8.820,45 tỷ đồng bằng 127,84% so với cùng kỳ năm 2018;

Tổng số tiền thuế nộp vào ngân sách là 2.122,58 tỷ đồng đạt 52,47% số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra và bằng 106,37% so với cùng kỳ năm 2018.

Tinh gọn bộ máy không ảnh hưởng đến công tác thu thuế

Trong những năm qua, tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp từng bước được hoàn thiện và kiện toàn. Sau khi thực hiện sắp xếp lại tổ chức, bộ máy đã giảm được 1.590 đầu mối. Trong đó: Tại cơ quan Tổng cục hiện nay còn 17 Vụ/đơn vị và 3 Ban mềm với 20 phòng tại cơ quan Tổng cục Thuế (giảm 27 Phòng); Tại các Cục Thuế địa phương, giảm từ 789 Phòng xuống còn 736 Phòng (giảm 63 Phòng); Tại cấp Chi cục Thuế, giảm từ 4.780 Đội thuế xuống còn 3.280 Đội thuế (giảm 1.500 Đội thuế).

Hiện nay, Tổng cục Thuế đã nghiên cứu xây dựng Đề án Chi cục Thuế vùng theo nguyên tắc: Ghép các Chi cục Thuế liền kề trong phạm vi một tỉnh theo số thu, số doanh nghiệp quản lý, khoảng cách giữa trung tâm hai huyện liền kề. Đến nay, sau khi triển khai các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã thực hiện được 03 đợt sáp nhập tại 29/63 địa phương, hợp nhất 194 Chi cục Thuế, thành 91 Chi cục Thuế, giảm được 103 Chi cục Thuế (cuối năm 2018 cả nước có 711 Chi cục Thuế, nay còn 608 Chi cục Thuế).

Theo đánh giá của Tổng cục Thuế, cơ quan thuế các cấp đã bám sát chỉ đạo của Bộ Tài chính, khẩn trương sắp xếp tổ chức bộ máy, ổn định tình hình để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Riêng đối việc triển khai hợp nhất Chi cục Thuế khu vực tại các Cục Thuế đã thực hiện, cơ bản các đơn vị hợp nhất ổn định về tổ chức, nhân sự, tư tưởng đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn.

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật thuế

Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đánh giá cao những kết quả của ngành Thuế đã đạt được trong 6 tháng đầu năm, đặc biệt là công tác thu NSNN. Theo Chủ tịch Quốc hội, giai đoạn 2016-2020, kinh tế - xã hội đất nước ta đã có nhiều khởi sắc, song vẫn đứng trước nhiều khó khăn. Tuy nhiên với sự nỗ lực của toàn ngành Tài chính, đặc biệt là cơ quan quản lý thuế và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác thu ngân sách đã có những chuyển biến tích cực. Năm 2018, thu NS tăng cao và vượt 8% so với dự toán của Quốc hội và thu ngân sách trung ương cũng vượt dự toán sau 2 năm liên tiếp hụt thu. Trong 6 tháng đầu năm 2019, thu ngân ước đạt 51,2% dự toán, tăng 12,5% so với cùng kỳ. Đây là những con số ấn tượng, thể hiện sự cố gắng của ngành tài chính nói chung và của cơ quan quản lý thuế nói riêng. Công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu NSNN ngày được tăng cường, hiệu quả hơn; công tác cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa liên tục được đẩy mạnh và đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Số giờ nộp thuế giảm dần qua các năm từ 537 giờ xuống còn 351 giờ. Chủ tịch Quốc hội đề nghị ngành Thuế cần thiếp tục riển khai hệ thống hoàn thuế điện tử tại 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc và tiếp tục giảm dần số giờ nộp thuế.

Chủ tịch Quốc hội cũng đặc biệt đánh giao cao sự chỉ đạo và quyết tâm của Tổng cục Thuế trong việc sắp xếp và tinh gọn bộ máy. Điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh bộ máy tinh gọn và giảm đi nhưng không làm ảnh hưởng đến công tác thu thuế.

Về nghiệm vụ trong thời gian tới, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu ngành thuế cần tập trung thực hiện nhiều giải pháp tích cực, trong đó, trước mắt cần tập trung triển khai Luật Quản lý thuế sửa đổi: “Ngành Thuế cần phải dành một phần kinh phí để tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật thuế, nhất là Luật mới. Ban hành các văn bản hướng dẫn để Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2020”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Đối với chính sách thuế, Chủ tịch yêu cầu ngành Thuế cần rà soát tất cả các quy định về thu ngân sách tại các luật, các văn bản dưới luật; nghiên cứu các vướng mắc, các nội dung của chính sách không có tính khả thi, từ đó đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền xử lý, qua đó tháo gỡ khó khăn cho DN, người dân.

Về công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của cơ quan thuế phải đảm bảo vừa tinh gọn, hiệu quả, song không làm thất thu ngân sách nhà nước; đặc biệt là việc tổ chức các Chi cục Thuế khu vực cần được nghiên cứu một các thận trọng, đi kèm với các giải pháp phối hợp, gắn kết với chính quyền địa phương.

Ghi nhận những ý kiến, kiến nghị của Tổng cục Thuế, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân sẽ giao cho các cơ quan của Quốc hội nghiên cứu theo thẩm quyền. Đối với Nghị quyết xóa nợ thuế, Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân nhất trí với kiến nghị của Tổng cục Thuế về sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết của Quốc hội về xóa nợ thuế và đưa vào Chương trình kỳ họp thứ 8 của Quốc hội, song đề nghị các đơn vị chức năng cần nghiên cứu một cách thận trọng, bảo đảm minh bạch, công khai và đặc biệt là tính công bằng giữa người nộp thuế chấp hành tốt và người nộp thuế cố tình chây ỳ, lách luật để trốn thuế. Việc bổ sung chức năng thanh tra hành chính của cơ quan quản lý thuế cũng sẽ được Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Tài chính Ngân sách lưu ý nghiên cứu trong quá trình sửa đổi Luật Thanh tra, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành thuế thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách. Tuy nhiên, trước khi sửa Luật sử dụng công tác thanh tra nội bộ.

Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội cũng đã đến thăm Trung tâm giám sát công nghệ thông tin.

Một số hình ảnh tại buổi làm việc

NA

Quản lý rủi ro về thuế kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Quản lý rủi ro về thuế kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh nhận thức và phương pháp áp dụng cơ chế quản lý rủi ro (QLRR) trong công tác quản lý thuế còn chưa thống nhất, chưa thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn thì việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về QLRR và đưa ra các giải pháp áp dụng tại Việt Nam là cần thiết, giúp cơ quan thuế phân loại, xác định chính xác người nộp thuế (NNT) có mức độ tuân thủ thấp, khả năng gian lận cao để tập trung nguồn lực xử lý, qua đó nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của NNT.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng ;  DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Kinh nghiệm quốc tế

Phó Vụ trưởng Phụ trách Ban QLRR của Tổng cục Thuế - ông Bùi Khánh Toàn cho biết, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa rủi ro về thuế là những tổn thất có thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi trường, hoàn cảnh cụ thể. Rủi ro về thuế có ở tất cả các hoạt động từ xây dựng chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý của cơ quan thuế đến việc chấp hành nghĩa vụ của NNT. QLRR về thuế được hiểu là quá trình nhận diện, đánh giá, phân tích trên cơ sở thu thập các thông tin, hệ thống tiêu thức và phương pháp đánh giá rủi ro, để phân loại, xác định các nhóm NNT có mức độ rủi ro cao về thuế, từ đó lập kế hoạch xử lý, trọng tâm là áp dụng các biện pháp về tuyên truyền hỗ trợ, thanh tra và quản lý nợ thuế với mục tiêu tăng cường tính tuân thủ tự nguyện của NNT.

Có thể nói, nguyên lý và các tiêu chuẩn QLRR về thuế là thống nhất và được rất nhiều quốc gia áp dụng. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế xã hội, đặc trưng của hệ thống thuế mà mỗi nước có những cách thực hiện khác nhau. Điển hình như Australia, để quản lý tốt các DN siêu nhỏ (doanh thu dưới 2 triệu AUD/năm) cơ quan thuế đã chỉ ra 4 trụ cột để xác định rủi ro tuân thủ là: không kê khai, thời hạn tuân thủ (kê khai không đúng hạn), không nộp thuế, không đăng ký thuế; đồng thời, phân tích và xác định các nguyên nhân chính dẫn đến việc không tuân thủ trong từng phân đoạn. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế xây dựng chiến lược giải quyết các nguyên nhân chính dẫn đến không tuân thủ; phân bổ nguồn lực thực hiện; theo dõi, báo cáo, đánh giá và lặp lại các bước này hàng năm. 

Tại Anh, mỗi năm cơ quan thuế tiếp nhận khoảng 2,5 triệu tờ khai thuế GTGT, trong đó số thuế đề nghị hoàn khoảng 40 tỷ Bảng. Do số lượng NNT đề nghị hoàn thuế lớn, nên cơ quan thuế Anh đã xây dựng ứng dụng tự động phân tích và phân loại hồ sơ hoàn thuế theo 4 nhóm: rủi ro thấp, rủi ro vừa, rủi ro cao và rủi ro đặc biệt. Ứng dụng này phân tích hồ sơ hồ hoàn thuế theo 18 tiêu chí khác nhau và dựa trên 84 tham số đã được mã hoá. Thông qua ứng dụng phân tích rủi ro, mỗi năm cơ quan thuế Anh đã loại trừ khoảng 144 nghìn hồ sơ hoàn thuế (tương đương 6%). Ngoài ra, sau khi phân tích hồ sơ hoàn thuế trên ứng dụng, nếu cơ quan thuế thấy vẫn còn nghi vấn về kết quả phân tích sẽ tiến hành kiểm tra trực tiếp tại trụ sở của NNT.

Thái Lan cũng là nước châu Á áp dụng QLRR trong quản lý thuế từ rất sớm. Ngay từ những năm 2001, cơ quan thuế Thái Lan đã xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tuân thủ, thông qua việc triển khai xây dựng trung tâm giám sát, thanh tra. Từ đó đến nay, cơ quan thuế còn xây bộ tiêu chí đánh giá rủi ro của DN theo các sắc thuế gồm 145 tiêu chí. Bên cạnh đó, Thái Lan rất chú trọng thông tin phục vụ việc đánh giá rủi ro được tổng hợp trên cơ sở dữ liệu hồ sơ về NNT, từ các trung tâm quản lý cơ sở dữ liệu về đầu tư, hải quan, điện lực, ngân hàng thương mại… Theo cơ quan thuế Thái Lan, việc khai thác cơ sở dữ liệu là công cụ hữu hiệu trong quản lý tuân thủ và trong cả phân tích và tính điểm rủi ro. 

Bài học cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm quốc tế có thể thấy, để áp dụng cơ chế quản lý thuế dựa trên rủi ro, cơ quan thuế Việt Nam phải xây dựng chương trình QLRR tuân thủ tổng thể (TCP) về mức độ tuân thủ của từng phân đoạn NNT. Từ việc đánh giá mức độ tuân thủ của NNT trong từng khâu, chức năng quản lý thuế, cơ quan thuế sẽ có các giải pháp thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của NNT thông qua các chiến lược, biện pháp xử lý thích hợp như: tuyên truyền, giải thích, hỗ trợ thực hiện, thanh kiểm tra. Việc triển khai và thực hiện TCP nhằm đổi mới phương pháp quản lý thuế của Việt Nam, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của cơ quan thuế vào các lĩnh vực rủi ro theo một hệ thống nhất quán, thúc đẩy tính tuân thủ tự nguyện của NNT. 

Bên cạnh đó, ngành thuế cần tiếp tục hoàn thiện quy định QLRR trong Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn; bổ sung quy định áp dụng quản lý rủi ro ngay từ khâu đăng ký thuế, tạo điều kiện cho cơ quan thuế theo dõi, đánh giá, phân loại NNT ngay từ khâu kê khai; bổ sung thêm quy định thanh, kiểm tra lại khi nội dung kết luận không phù hợp với các chứng cứ thu thập được trong quá trình phân tích đánh giá rủi ro. Ngoài ra, để đảm bảo thực hiện áp dụng QLRR có hiệu lực, hiệu quả theo thông lệ quốc tế, ngành thuế cần nghiên cứu xây dựng hệ thống QLRR được tổ chức theo 3 cấp: Vụ Quản lý rủi ro trực thuộc Tổng cục Thuế; bộ phận QLRR thuộc phòng thanh, kiểm tra ở cấp cục thuế và đội thanh, kiểm tra chi cục địa phương có công chức được giao nhiệm vụ QLRR. 

Bổ sung thêm, Phó vụ trưởng Phó ban Cải cách Tổng cục Thuế Hoàng Thị Lan Anh cho rằng, cần nghiên cứu thêm các biện pháp quản lý trong nền kinh tế số và giải pháp để tăng cường phối hợp thông tin giữa các cấp, các ngành nhằm cập nhật đầy đủ dữ liệu về NNT. Đặc biệt cần có nghiên cứu để kết hợp việc QLRR với các chức năng khác của cơ quan thuế, tránh chồng lấn, vừa đảm bảo nâng cao hiệu quả công tác quản lý, vừa tạo thuận lợi cho DN.

Tiết kiệm 3,5 triệu trang giấy mỗi năm nhờ văn bản điện tử

Tiết kiệm 3,5 triệu trang giấy mỗi năm nhờ văn bản điện tử

Là một trong những Bộ ngành luôn dẫn đầu về chỉ số ứng dụng CNTT, từ lâu Bộ Tài chính đã sử dụng văn bản điện tử trong công tác chỉ đạo điều hành mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm nhiều thời gian và chi phí. Theo tính toán của Bộ Tài chính, với lượng văn bản gửi đến khoảng 358.643 văn bản mỗi năm, trung bình một văn bản dài 5 trang và cần phải chuyển đến 2 đơn vị phối hợp, thì mỗi năm cơ quan Bộ Tài chính sẽ tiết kiệm được lượng in ấn khổng lồ là 3.586.430 trang văn bản.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY, Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế<<<

Văn phòng không giấy tờ

Chương trình quản lý văn bản và điều hành (eDocTC) đã được cơ quan Bộ Tài chính triển khai tại tất cả các đơn vị vụ, cục kể từ ngày 1/12/2015. Đến nay, sau hơn 3 năm khai thác và sử dụng, số lượng văn bản điện tử được lưu trữ, quản lý trên hệ thống là hơn 1.624.000 văn bản. Trung bình có hơn 464.000 văn bản được lưu trữ, quản lý trên eDocTC mỗi năm.

Đáng lưu ý là văn bản điện tử của Bộ Tài chính đã được luân chuyển xử lý xuyên suốt giữa tất cả các vai trò trong cơ quan: từ văn thư Bộ, tổng hợp - thư ký, văn thư đơn vị, đến lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo cấp phòng và tới chuyên viên xử lý văn bản.

Nhờ đó, 100% văn bản giấy gửi đến được cập nhật các trường thông tin quản lý, quét thành văn bản điện tử, luân chuyển tới các đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp và lưu trữ trên chương trình eDocTC. Tất cả văn bản đi của Bộ được cấp số, được quét và ký số, lưu trữ và phát hành điện tử gửi tới các đơn vị tại cơ quan Bộ, các Tổng cục thuộc Bộ, 31 Bộ và cơ quan ngang Bộ, 63 Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố và Văn phòng Trung ương Đảng qua chương trình eDocTC...

Ngoài ra, các tiện ích như lịch công tác của lãnh đạo cũng được cập nhật và công khai trên chương trình eDocTC. Hoạt động điều động sử dụng xe ô tô, phòng họp được quản lý hoàn toàn trên chương trình. Điều này giúp công khai minh bạch trong quản lý hành chính, nâng cao kỷ cương kỷ luật trong hoạt động công vụ.

Với các lợi ích mang lại, chương trình quản lý văn bản và điều hành không chỉ được sử dụng ở các đơn vị tại cơ quan Bộ, mà các đơn vị cấp Tổng cục cũng tích cực khai thác sử dụng. Theo số liệu thống kê đến giữa tháng 3/2019, tổng số văn bản được quét, lưu trữ trên chương trình eDocTC tại Tổng cục Thuế gần 4,8 triệu văn bản, tại Tổng cục Hải quan là gần 1 triệu văn bản.

Chương trình quản lý văn bản và điều hành của Bộ Tài chính đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý văn bản đến và đi, cho phép tin học hóa các quy trình nghiệp vụ quản lý văn bản, quản lý nghiệp vụ lưu trữ, quản lý phòng họp, xe ô tô, lịch làm việc của lãnh đạo.

Việc sử dụng eDocTC còn góp phần giảm bớt đáng kể chi phí phí in ấn, chi phí photocopy văn bản, góp phần thực hiện tiết kiệm ngân sách nhà nước. Trước đó, từ ngày 1/6/2016, Văn phòng Bộ Tài chính đã thực hiện chuyển văn bản giấy và điện tử đến đơn vị chủ trì, chỉ chuyển văn bản điện tử đến đơn vị phối hợp. Với lượng văn bản đến cơ quan Bộ khoảng 358.643 văn bản/năm, mỗi văn bản trung bình khoảng 5 trang, với giả thiết cần photocopy mỗi văn bản đến cho hai đơn vị phối hợp thì việc triển khai chương trình eDocTC chỉ riêng tại khối cơ quan Bộ sẽ tiết kiệm chi phí photocopy khoảng 3.586.430 trang văn bản.

Tạo nền tảng cho Chính phủ điện tử

Để thực hiện kết nối việc gửi nhận văn bản đến, văn bản đi giữa chương trình quản lý văn bản và điều hành của Bộ Tài chính với các Tổng cục và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc, Hệ thống tích hợp trao đổi văn bản điện tử ngành Tài chính (eDocHub) đã được đưa vào sử dụng từ tháng 8/2015.

Vừa qua, hệ thống tích hợp trao đổi văn bản điện tử ngành Tài chính đã chính thức kết nối với Trục liên thông văn bản quốc gia, thực hiện gửi nhận văn bản với 95 đầu mối cấp trung ương và ủy ban nhân dân 63 tỉnh, thành phố. Văn phòng Bộ Tài chính bước đầu đã thực hiện tiếp nhận văn bản điện tử từ 95 bộ, ngành, ủy ban nhân dân thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Bộ phận văn thư đã không phải quét lại các văn bản mà sử dụng luôn tệp nội dung của các đơn vị gửi, giúp giảm thiểu được thời gian nhập văn bản, quét văn bản đưa vào hệ thống...

Có thể thấy, việc triển khai chương trình eDocTC và eDocHub tại Bộ Tài chính đã góp phần tạo nền tảng bước đầu xây dựng Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử. Đây là một trong những bước đi đầu tiên trong quá trình hiện thức hóa xây dựng văn phòng không giấy tờ, môi trường cộng tác số. Việc triển khai sử dụng các chương trình nêu trên đã làm thay đổi về phương pháp làm việc từ cấp quản lý, chỉ đạo cho tới cấp chuyên viên xử lý. Nhờ đó công tác chỉ đạo điều hành được kịp thời, đạt kết quả tốt, đồng thời tiết kiệm thời gian, chi phí và tăng khả năng khai thác, xử lý thông tin văn bản của các cấp.

Tuệ Anh

Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công

Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công

Sáng 16/5/2019, Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị trực tuyến đánh giá tình hình triển khai thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương và các điểm cầu trực tuyến trên cả nước.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY, Tổ công tác về kiểm tra công vụ của Thủ tướng làm việc với Bộ Tài chính<<<

Quản lý tài sản công được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết: Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV và có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 14 Nghị định, 03 Quyết định, trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã ban hành 08 Thông tư hướng dẫn. Ngoại trừ Nghị định quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho các Hợp đồng BT Chính phủ đang xem xét để ban hành, cho đến nay, tất cả văn bản hướng dẫn Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đã được ban hành đầy đủ, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện.

Sau 01 năm triển khai luật, đã có 11 Bộ, ngành ở trung ương và 62 địa phương đã ban hành văn bản về phân cấp thẩm quyền trong việc quản lý, sử dụng tài sản công; 12 Bộ, ngành và 32 địa phương đã ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dụng; tạo ra sự đồng bộ chung trong việc thực thi quy định pháp luật.

Trong năm qua, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành địa phương, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước thực hiện sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất, tạo điều kiện cho các đơn vị trong việc bố trí trụ sở làm việc cũng như rà soát các cơ sở nhà, đất để xây dựng phương án cổ phần hóa đối với các các doanh nghiệp nhà nước chặt chẽ, đúng quy định. Bên cạnh đó, các bộ ngành địa phương cũng đã rà soát để phân loại các tài sản là kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa, hiện nay cũng đang rà soát để phân loại tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ theo tinh thần Nghị định Chính phủ mới ban hành.

Bộ Tài chính tiếp tục hoàn thiện hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, hướng dẫn phân cấp đăng nhập dữ liệu tài sản công và sử dụng các phần mềm khác để quản lý tài sản chuyên dùng, tạo điều kiện cho các đơn vị truy cập vào hệ thống để quản lý tài sản của mình, đồng thời đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ, hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách cho các cơ quan, đơn vị.

"Việc quản lý tài sản công theo luật mới đã được thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu quả, bước đầu đạt được nhiều kết quả quan trọng", Thứ trưởng đánh giá.

Cũng theo Thứ trưởng Trần Xuân Hà, trong quá trình thực hiện cho thấy có một số vấn đề cần được tập trung trao đổi để hoàn thiện, cụ thể là: Việc phân cấp quản lý tài sản công cần được phân cấp mạnh hơn nữa, tạo điều kiện cho các bộ, ngành, địa phương có thẩm quyền quyết định phương án xử lý sắp xếp xử lý tài sản công ở đơn vị, địa phương mình, có thể là quyết định hình thức bán đấu giá tài sản trên đất để lấy tiền thu vào NSNN; Một số quy định trong các văn bản hướng dẫn, chủ yếu ở cấp Nghị định cần được nêu rõ hơn như đối tượng áp dụng, đặc biệt là việc sắp xếp lại các cơ sở nhà, đất đối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có trên 50% vốn của nhà nước, doanh nghiệp có hình thức công ty mẹ, công ty con,…đều cần có hướng dẫn cụ thể; Việc ban hành các tiêu chuẩn, định mức tài sản chuyên dùng của một số Bộ ngành như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Lao động, thương binh và xã hội chậm, từ đó đã có những khó khăn nhất định trong việc thực hiện ở các đơn vị cơ sở; Việc sắp xếp cơ sở nhà, đất của các cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp cũng cần đẩy nhanh hơn nữa tiến độ thực hiện và có biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ để sử dụng quản lý tài sản công đúng mục đích, hiệu quả, tránh thất thoát tài sản nhà nước.

Do đó, Hội nghị là dịp để Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, các địa phương đánh giá và làm rõ hơn những kết quả đã đạt được, những khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ.

>>>Xem thêm TP HCM mở rộng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhânTiết kiệm 3,5 triệu trang giấy mỗi năm nhờ văn bản điện tử<<<

Toàn cảnh Hội nghị

"Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoàn thiện cơ chế chính sách, đồng thời các Bộ, ngành, địa phương cũng sẽ phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát thực hiện, nhằm phát huy hiệu quả việc quản lý, sử dụng tài sản công, đồng thời phòng phòng tránh các biểu hiện tiêu cực, thất thoát tài sản công”, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết.

Những kết quả đạt được

Trình bày báo cáo tại Hội nghị, Cục trưởng Cục Quản lý Công sản La Văn Thịnh cho biết về kết quả tổ chức triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công ở các bộ, ngành, địa phương. Cụ thể:

Thứ nhất, về công tác phổ biến pháp luật và các văn bản quy định chi tiết: Đã có 30 Bộ, ngành và 60 địa phương tổ chức tập huấn triển khai Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành đến các cơ quan chủ quản, cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Nhiều địa phương đã tổ chức tập huấn đến tận lãnh đạo, cán bộ tài chính cấp xã. Các Bộ, ngành, địa phương còn lại đã có văn bản gửi các đơn vị thuộc phạm vi quản lý đề nghị triển khai thi hành Luật hoặc tổ chức họp để quán triệt việc triển khai Luật.

Thứ hai, về việc rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật do Bộ, cơ quan trung ương, địa phương ban hành: Đã có 29 Bộ, ngành và 63 địa phương thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ, ngành, địa phương liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công.

Thứ ba, về phân cấp thẩm quyền trong quản lý, sử dụng tài sản công theo quy định tại Nghị định số 151/2017/NĐ-CP: Đã có 11 Bộ, ngành và 62 địa phương ban hành quy định về phân cấp quản lý tài sản công.Một số Bộ, ngành, địa phương báo cáo đã thực hiện phân cấp; tuy nhiên, văn bản phân cấp là văn bản đã ban hành theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Đến nay, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã hết hiệu lực thi hành; vì vậy, chưa được xác định là đã ban hành văn bản quy định về phân cấp quản lý tài sản công.

Thứ tư, về việc ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công chuyên dùng: Đối với máy móc, thiết bị, đã có 06 Bộ, ngành và 15 địa phương ban hành quy định về phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng; 02 Bộ, ngành và 01 địa phương báo cáo không thực hiện phân cấp thẩm quyền ban hành; các Bộ, ngành, địa phương còn lại đang trong quá trình xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc chưa thực hiện. Về định mức cụ thể: Đã có 12 Bộ, ngành và 32 địa phương ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng cho các đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Trong đó, có 05 Bộ, ngành và 03 địa phương tiếp tục thực hiện theo các Quyết định về tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng đã ban hành theo quy định tại Quyết định số 58/2015/QĐ-TTg. 02 Bộ, ngành báo cáo không có máy móc, thiết bị chuyên dùng.

Đối với trụ sở làm việc, công trình sự nghiệp thuộc cơ sở hoạt động sự nghiệp: Đã có 03 Bộ, ngành và 05 địa phương ban hành quy định về phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức công trình sự nghiệp thuộc cơ sở hoạt động sự nghiệp thuộc phạm vi quản lý; 07 Bộ, ngành và 01 địa phương báo cáo không thực hiện phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức công trình sự nghiệp thuộc cơ sở hoạt động sự nghiệp. Về định mức cụ thể: Đã có 02 Bộ, ngành và 05 địa phương ban hành tiêu chuẩn, định mức diện tích trụ sở làm việc chuyên dùng, công trình sự nghiệp trong cơ sở hoạt động sự nghiệp.

 

Cục trưởng Cục Quản lý công sản trình bày báo cáo tại Hội nghị

Thứ năm, về việc mở tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước: Theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Nghị định số 151/2017/NĐ-CP thì Bộ Tài chính, Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng, Cục Tài chính - Bộ Công an, Sở Tài chính, Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện có trách nhiệm mở tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước để quản lý số tiền thu được từ việc xử lý tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị. Căn cứ quy định nêu trên, Bộ Tài chính đã giao Cục Quản lý công sản đã mở tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước để quản lý số tiền thu được từ xử lý tài sản công thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương, Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng, Cục Tài chính - Bộ Công an và 62 địa phương đã thực hiện việc mở tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước theo quy định; 01 địa phương chưa thực hiện việc mở tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước theo quy định.

Thứ sáu, về việc rà soát danh mục tài sản mua sắm tập trung theo quy định tại Điều 67 Nghị định số 151/2017/NĐ-CP, Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành danh mục tài sản mua sắm tập trung cấp bộ, cơ quan trung ương, địa phương (trừ thuốc): Đã có 26 Bộ, ngành và 51 địa phương đã thực hiện việc rà soát danh mục tài sản mua sắm tập trung.

Thứ bảy, về một số nội dung khác liên quan đến phân cấp trong quản lý, sử dụng tài sản công: Đã có 01 Bộ, ngành và 09 địa phương ban hành quy định về tài sản có giá trị lớn để phân định thẩm quyền phê duyệt Đề án sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập vào mục đích kinh doanh, cho thuê; 09 địa phương đang xây dựng dự thảo; 02 địa phương đang xin ý kiến dự thảo; 02 địa phương đang trình Uỷ ban nhân dân tỉnh; 37 địa phương chưa thực hiện. Các Bộ, ngành khác không có báo cáo về nội dung này.

Đã có 02 Bộ và 30 địa phương ban hành quy định phân cấp thẩm quyền quản lý, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; 01 Bộ và 01 địa phương báo cáo không thực hiện phân cấp. Các Bộ, ngành, địa phương còn lại đang trong quá trình xây dựng dự thảo, trình cấp có thẩm quyền ban hành theo quy định.

Thứ tám, về việc rà soát, phân loại, xác định giá trị tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa: Đã có 14 địa phương thực hiện việc rà soát, phân loại, xác định giá trị tài sản; 02 địa phương báo cáo không phát sinh công việc do địa bàn tỉnh không có hệ thống giao thông đường thuỷ nội địa; các địa phương còn lại chưa thực hiện hoặc không báo cáo nội dung này.

Thứ chín, về Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công: Bộ Tài chính đã có văn bản gửi từng Bộ, ngành, địa phương đề nghị thực hiện việc cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu về tài sản công trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công để bảo đảm hệ thống dữ liệu đáp ứng yêu cầu quản lý. Về việc cập nhật, chuẩn hóa: Đã có 31 Bộ, ngành và 62 địa phương thực hiện cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công; 04 Bộ, ngành và 01 địa phương chưa thực hiện cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu.

Về phân cấp đăng nhập dữ liệu về tài sản công và sử dụng các Phần mềm khác để quản lý tài sản cố định: Có 19 Bộ, ngành và 34 địa phương thực hiện phân cấp đăng nhập dữ liệu về tài sản công vào Phần mềm quản lý đăng ký tài sản nhà nước; có 34 địa phương thực hiện phân cấp đăng nhập dữ liệu về tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ vào Phần mềm quản lý đăng ký tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

Về việc sử dụng các Phần mềm khác để quản lý tài sản cố định: Có 21 Bộ, ngành và 35 địa phương có sử dụng các Phần mềm khác (ngoài Phần mềm Quản lý đăng ký tài sản nhà nước) để quản lý tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Cũng theo ông La Văn Thịnh, một số loại tài sản và lĩnh vực còn thiếu các văn bản quy định chi tiết hoặc không còn phù hợp với luật, nhưng chưa được thay thế, sửa đổi, bổ sung, như: việc quản lý, khai thác quỹ nhà, đất do công ty quản lý kinh doanh nhà quản lý, việc chuyển đổi mô hình chợ, tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ, một số loại tài sản kết cấu hạ tầng khác; tiến độ ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích trụ sở chuyên dùng, công trình sự nghiệp, máy móc, thiết bị chuyên dùng còn chậm, mới có khoảng 50% bộ, ngành, địa phương ban hành đã ảnh hưởng tới việc đầu tư xây dựng, mua sắm, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo và xử lý tài sản. Nguyên nhân là do các bộ chuyên ngành như: Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chưa ban hành quy định chi tiết hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo nên các bộ, ngành, địa phương không có cơ sở để xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, định mức cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý.

Một số bộ, ngành, địa phương chưa tích cực, chủ động trong việc triển khai thực hiện luật nên đến nay vẫn chưa ban hành kịp thời các văn bản phân cấp thẩm quyền, có thể dẫn đến sai thẩm quyền khi quyết định mua sắm, thuê, sử dụng, xử lý tài sản công, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân...

Để tiếp tục triển khai luật trong thời gian tới, ông La Văn Thịnh cho biết, Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết thi hành luật. Bộ Tài chính cũng đề nghị Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội khẩn trương ban hành văn bản quy định chi tiết hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công chuyên dùng trong lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo.

Bộ Tài chính đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương ban hành quy định về tài sản có giá trị lớn để phân định thẩm quyền phê duyệt Đề án sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý vào mục đích kinh doanh, cho thuê. Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan được giao quản lý tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi khẩn trương hoàn thành việc rà soát, phân loại, xác định giá trị tài sản hiện có để thực hiện việc quản lý, sử dụng và khai thác theo quy định.

Hội nghị đã nhận được nhiều ý kiến tham gia đóng góp của đại biểu tham dự cũng như ghi nhận nhiều kết quả tích cực, qua đó cho thấy Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đã thực sự đi vào cuộc sống. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cũng đưa ra những mặt còn vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện và đề xuất các ý kiến để hoàn thiện thêm về cơ chế, chính sách cũng như cách thức quản lý để phù hợp hơn khi thực hiện luật.

KL

Tổ công tác về kiểm tra công vụ của Thủ tướng làm việc với Bộ Tài chính

Tổ công tác về kiểm tra công vụ của Thủ tướng làm việc với Bộ Tài chính

Chiều 14/5, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về kiểm tra công vụ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân - Tổ trưởng Tổ công tác làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc và kiểm tra chấp hành các quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại Bộ Tài chính. Tham dự buổi làm việc, về phía Bộ Tài chính có Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tài chính.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY, Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế<<<

Báo cáo đánh giá về chấp hành các quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại Bộ Tài chính, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Phạm Đức Thắng cho biết: Thời gian qua, Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ Tài chính luôn quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chấp hành các quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động nghiệp vụ của ngành. Thường xuyên phổ biến, quán triệt và kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa quy định, hướng dẫn của Đảng, pháp luật của Nhà nước về chấp hành việc thực hiện các quy định của pháp luật trong hoạt động công vụ của Bộ; do đó, việc chấp hành các quy định của pháp luật trong hoạt động công vụ của Bộ Tài chính được thực hiện nề nếp, bài bản, đúng quy định, phù hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện của ngành Tài chính.

Công tác đánh giá cán bộ là một trong những nội dung được Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ Tài chính đặc biệt quan tâm và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bám sát quy định để đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, toàn diện; lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu trong đánh giá; chú trọng tính liên kết giữa kết quả công việc của công chức, viên chức với kết quả công việc chung của đơn vị.

“Việc đánh giá công tác cán bộ của ngành Tài chính bảo đảm đầy đủ, quy trình đánh giá rõ ràng, cụ thể, thể hiện sự dân chủ, minh bạch. Công tác phòng, chống tiêu cực được thực hiện đồng bộ các giải pháp để phòng, chống tiêu cực, đặc biệt là ngăn chặn tình trạng tham nhũng như: hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong chỉ đạo điều hành và thực thi công vụ; thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Vụ trưởng Phạm Đức Thắng nhấn mạnh.

Đánh giá cao công tác cải cách tổ chức bộ máy cũng như những nỗ lực cải cách hành chính, nỗ lực phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng... của Bộ Tài chính, các thành viên Tổ công tác cho rằng, đây là một trong những báo cáo có đầy đủ số liệu, không né tránh, phản ánh được hai mảng lớn của công tác công vụ đó là: công tác quản lý, sử dụng công chức, viên chức, người lao động và sự nỗ lực của ngành trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế.

Tổ công tác ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực trong công tác kiểm tra và tự kiểm tra của Bộ Tài chính cũng như công tác cải cách hành chính của ngành và đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin được đánh giá đứng đầu trong các cơ quan Nhà nước.

Phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã tiếp thu, và làm rõ thêm các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo, chấn chỉnh việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật hành chính, đạo đức công vụ…Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định: sẽ tiếp thu để hoàn thiện báo cáo và chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước về hoạt động công vụ của ngành trong thời gian sớm nhất.

Bộ trưởng cho biết, có được kết quả như báo cáo trên là do Bộ Tài chính đã đổi mới phương thức quản lý gắn với hiện đại hóa, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Cùng với đó là đẩy mạnh thực hiện văn hóa công sở, văn hóa công vụ, luân phiên, luân chuyển vị trí công tác. Đồng thời phòng ngừa tiêu cực và tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra để phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng tăng cường công tác phân cấp, phân quyền, rõ trách nhiệm cho các cấp, thống nhất về nhận thức, đảm bảo các cơ quan, đơn vị có đủ thẩm quyền và trách nhiệm để thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt, công tác phân công, phối hợp giữa các địa phương với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính cũng được chú trọng triển khai.

Không những vậy, công tác tổ chức bộ máy, quản lý đội ngũ công chức, viên chức cũng được Bộ Tài chính đổi mới, trong đó, định hình lại vị trí việc làm, tiến hành cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức. Bộ Tài chính đã sáng tạo trong khi thực hiện cơ cấu lại bộ máy tổ chức và phù hợp với thực tế, phù hợp với yêu cầu quản lý.

Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Thanh – Phó Tổ trưởng Tổ công tác tại buổi làm việc

Kết luận buổi làm việc, thay mặt Tổ công tác, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân đánh giá cao kết quả đạt được của Bộ Tài chính trong thời gian qua, đặc biệt là công tác cải cách hành chính, cải cách tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, ứng dụng công nghệ thông tin và luân chuyển vị trí công tác...Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân đề nghị Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ Tài chính chỉ đạo thực hiện tốt các nghị quyết Trung ương 6, Trung ương 7 Khóa XII và thực hiện tốt Quyết định 1847 của Thủ tướng Chính phủ về văn hóa công vụ.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về công tác cán bộ để hết năm 2019 đảm bảo 100% các đơn vị thuộc và trực thuộc được kiểm tra; tiếp tục sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong các đơn vị, nghiên cứu đề xuất mô hình tổng cục; đẩy mạnh tinh giản biên chế và tự chủ các đơn vị sự nghiệp công lập./.

H.Thọ

Dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi đáp ứng được yêu cầu mới của thực tiễn

Dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi đáp ứng được yêu cầu mới của thực tiễn

Để hoàn thiện dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) trình Quốc hội vào Kỳ họp thứ 7 khai mạc ngày 20/5 tới, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP.Hà Nội đã làm việc với Cục Thuế Hà Nội sáng 14/5 để tiếp tục lấy lý kiến cho dự thảo luật.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY, Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế<<<

Số thu tăng khoảng 35%/năm

Báo cáo tại buổi làm việc, ông Mai Sơn - Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội cho biết, sau hơn 10 năm thực hiện Luật Quản lý thuế, công tác quản lý thuế, thu thuế đã đạt được những kết quả tích cực, đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn thu. Nhận thức của người dân, doanh nghiệp đối với việc thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước (NSNN) được nâng cao; bộ máy cơ quan thuế ngày càng kiện toàn, đội ngũ công chức thuế ngày càng chuyên nghiệp.

Đặc biệt, số thu ngân sách do Cục Thuế Hà Nội thực hiện luôn hoàn thành vượt mức dự toán được giao. Theo thống kê, thu nội địa giai đoạn 2009 - 2018 đạt 1.420.828 tỷ đồng. Với kết quả trên, số thu tăng bình quân mỗi năm khoảng 35%/năm.

Ngoài kết quả thu, đại diện Cục Thuế Hà Nội cho biết, công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; công tác kê khai, nộp thuế; thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách; thu hồi nợ thuế… đã đạt được những kết quả hết sức tích cực.

Một số công tác quản lý thuế khác như: Quản lý hộ kinh doanh, quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại điện tử và chống chuyển giá, công tác ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, giải quyết đơn thư khiếu nại về thuế của người nộp thuế... cũng đã được Cục Thuế Hà Nội thực hiện nghiêm túc, đảm bảo bao quát các nguồn thu, cũng như đảm bảo thu đúng, thu đủ vào NSNN, nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế.

Đề cập đến Luật Quản lý thuế (sửa đổi), ông Mai Sơn kiến nghị với các đại biểu Quốc hội tiếp thu các ý kiến góp ý vào dự thảo để sớm hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua. Đây sẽ là cơ sở cho công tác quản lý thuế hiện đại, tiếp cận tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế.

“Để Luật Quản lý thuế sửa đổi phát huy hiệu lực, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý thuế, rất cần sự quan tâm, chỉ đạo và hỗ trợ của các cấp, các ngành đối với cơ quan thuế. Cần có quy chế, cơ chế chia sẻ thông tin, phối hợp cung cấp thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu chung phục vụ quản lý nhà nước nói chung và quản lý thuế nói riêng” - ông Mai Sơn nói.

Dự luật đảm bảo minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế

Sau khi nghe ý kiến đại diện cho các cử tri đến từ các hiệp hội, các chuyên gia, người đang công tác trong cơ quan thuế, bà Bùi Huyền Mai - Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hà Nội cho biết, sẽ tiếp thu tất cả những ý kiến đã phát biểu tại hội nghị.

“Đây sẽ là nền tảng cơ bản cung cấp thông tin cho các vị đại biểu Quốc hội cân nhắc, lựa chọn và thảo luận, cũng như xem xét thông qua dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 7 sắp tới” - bà Mai nói.

Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hà Nội cũng đánh giá cao sự nỗ lực của ngành Thuế nói chung và công tác quản lý thuế trên địa bàn TP.Hà Nội nói riêng trong nhiều năm qua. Các đóng góp của Cục Thuế Hà Nội đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung và của Hà Nội nói riêng.

Theo đánh giá của Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hà Nội, công tác quản lý thuế ngày càng chuyên nghiệp, công tác cải cách hành chính rõ nét và đạt được những kết quả quan trọng. Bà Mai dẫn chứng, liên tục trong nhiều năm qua, Cục Thuế Hà Nội không chỉ đảm bảo nguồn thu ngân sách cho việc thực hiện các nhiệm vụ chi của TP.Hà Nội mà còn đóng góp vào ngân sách trung ương.

“Qua báo cáo của Cục Thuế Hà Nội thì số thu qua các năm đều tăng, với mức tăng khoảng 35%/năm, tương ứng với 1/4 tổng thu ngân sách của cả nước. Công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế đã đạt được nhiều kết quả tích cực và rút ngắn được thời gian thực hiện. Cục thuế cũng ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý thuế; hệ thống khai thuế điện tử trên địa bàn thành phố đã được triển khai đạt tỷ lệ trên 98%. Đây là những số liệu hết sức sống động” - bà Mai nói.

Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hà Nội cũng tiếp thu những ý kiến đóng góp của cử tri về những vấn đề liên quan đến dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi). Cụ thể, ý kiến của các cử tri về các nguyên tắc quản lý thuế, sau khi tiếp thu thì thấy rằng cần đưa các nguyên tắc quản lý thuế trong luật để đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với thực tiễn.

Liên quan đến giao dịch điện tử trong dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi (khoản 2, Điều 89 của dự thảo luật), bà Mai cho biết quy định trên đã cụ thể hóa các loại hóa đơn điện tử. Đây là bước tiến so với luật hiện hành và là hành lang pháp lý cơ bản để hiện đại hóa các hoạt động quản lý thuế áp dụng rộng rãi quản lý thuế với thương mại điện tử, đáp ứng yêu cầu quản lý thị trường…/.

Nhật Minh
TBTC

Chuyên gia phản hồi về đề xuất đánh thuế tiêu thụ đặc biệt của TP.HCM

Chuyên gia phản hồi về đề xuất đánh thuế tiêu thụ đặc biệt của TP.HCM

Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa có góp ý gửi Bộ Tài chính về dự thảo “Đề án mở rộng cơ sở thuế và chống xói mòn nguồn thu ngân sách Nhà nước."

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY, Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế<<<

Theo đó, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Tài chính có thể nghiên cứu, bổ sung vào đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với một số loại hàng hóa, dịch vụ điện thoại di động, camera, nước hoa, mỹ phẩm, dịch vụ kinh doanh game, dịch vụ thẩm mỹ.

Đánh giá về đề xuất bổ sung đối tượng chịu thuế thu nhập đặc biệt đối với điện thoại di động, camera, mỹ phẩm và dịch vụ thẩm mỹ, giới chuyên gia cho rằng đây là đề xuất thiếu tính khoa học và thực tiễn.

Theo chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh, Học viện Tài chính, đề xuất đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các mặt hàng tiêu dùng phải dựa trên cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn thì mới thuyết phục được những người làm chính sách.

Hơn nữa, những đề xuất này cần được số đông người dân chấp nhận được, chứ không thể đưa ra những ý tưởng “trên trời” như vậy.

Theo vị chuyên gia kinh tế này, các quốc gia đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào các mặt hàng có thể gây tác hại đến sức khỏe của người tiêu dùng, đến thuần phong mỹ tục, văn hóa, đến môi trường để hạn chế sử dụng, hoặc không sử dụng những sản phẩm này.

Một số quốc gia cũng đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với một số loại hàng hóa đặc biệt mà những người có thu nhập cao trong xã hội mới có khả năng sử dụng để điều tiết thu nhập từ người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng giữa các thành phần trong xã hội.

>>>Xem thêm TP HCM mở rộng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhânĐể tiết kiệm thời gian chi phí, cá nhân nên nộp quyết toán qua mạng<<<

Ngoài ra, một số quốc gia đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào một số mặt hàng không cần thiết trong cuộc sống nhằm khuyến khích việc tiết kiệm thu nhập của người tiêu dùng, từ đó hướng nguồn thu nhập đến mục đích tốt hơn, có ích hơn.

Trở lại đề xuất của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ông Thịnh cho rằng, điện thoại di động và camera là bước phát triển cao của đời sống xã hội và đang là mục tiêu hướng đến của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Những sản phẩm này trở thành nhu cầu thông thường của mọi người, đặc biệt trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, điện thoại di động đã trở thành vật bất li thân với hầu hết người dân Việt Nam.

Người dân sử dụng điện thoại thông minh để thực hiện các giao dịch khác nhau từ giao dịch tài chính, ví điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, mua bán hàng hóa trên mạng, trả tiền điện, nước...

Rõ ràng, chúng ta muốn mở rộng cách mạng công nghiệp lần thứ tư, muốn phát triển trí tuệ thông minh thì việc người dân sử dụng điện thoại di động là việc quan trọng và cần thiết.

Có thể thấy, điện thoại thông minh đã rất phổ biến đến cả các vùng nông thôn. Những nông dân có thể sử dụng điện thoại di động để biết nhiệt độ, độ ẩm không khí trong vườn, từ đó giúp ích cho việc chăm sóc cây trồng.

“Chính vì vậy, theo tôi không nên đánh thuế vào điện thoại di động, vì đây là sản phẩm đại trà và là sản phẩm cần khuyến khích phát triển,” ông Thịnh nói.

Tuy nhiên, theo ông Thịnh, nhìn ở góc độ không muốn khuyến khích người dân tiêu tốn vào việc không cần thiết, tiết kiệm thu nhập cá nhân để sử dụng vào việc có ích hơn thì cơ quan quản lý có thể xem xét đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào một số dòng điện thoại di động có giá trị cao.

Tương tự, đối với mặt hàng nước hoa cũng đã trở nên thông dụng với tất cả mọi người, không chỉ với nữ giới, thậm chí nam giới cũng sử dụng. Rõ ràng không khuyến khích sử dụng là không hợp lý, vì đây là nhu cầu làm đẹp bản thân, làm xã hội đẹp hơn, đặc biệt là việc làm đẹp này phù hợp với mức thu nhập của người dân.

Như vậy không nên đánh thuế đối với mỹ phẩm son phấn nước hoa. Tuy nhiên, có một số dịch vụ làm đẹp cao cấp, người tiêu dùng phải bỏ ra chi phí lớn, vượt quá mức sống và nhu cầu của đại bộ phận người dân, chúng ta cũng nên xem xét có một mức thuế suất tiêu thụ đặc biệt, ông Thịnh đề xuất.

Có quan điểm khá tương đồng, ông Nguyễn Văn Được - Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Tư vấn thuế Trọng Tín cho rằng, việc mở rộng cơ sở tính thuế, hay mở rộng đối tượng thu thuế là điều nên làm. Tuy nhiên, không nên tăng thuế chỉ vì mục đích tăng thu ngân sách mà cần phải xem xét nhiều yếu tố khác.

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, điều chỉnh hành vi người tiêu dùng hạn chế sử dụng hàng hóa dịch vụ đấy.

Việc mở rộng cơ sở tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với điện thoại, nước hoa, camera và các dịch vụ thẩm mỹ là không hợp lý. Rõ ràng là các sản phẩm này không gây hại nhiều đối với người tiêu dùng. Thực tế, chưa có công trình nào chứng minh các sản phẩm này gây hại. Ngược lại, các sản phẩm này có rất nhiều tác dụng cho nền kinh tế, kích thích tiêu dùng và mang lại lợi ích cho toàn xã hội.

Đặc biệt, với nền kinh tế phát triển như hiện nay thì thông tin là tiền bạc, các thông tin cần nhanh. Chính vì vậy, việc đánh thuế vào các sản phẩm công nghệ như điện thoại sẽ làm hạn chế sự phát triển của nền kinh tế, ảnh hưởng lớn đến việc phát triển thanh toán online, nộp thuế điện tử, phát triển nền kinh tế số hóa... mà Chính phủ đang khuyến khích thực hiện.

Có quan điểm không đồng tình với ý kiến đề xuất của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLAW cho rằng, mục tiêu của thuế tiêu thụ đặc biệt là đánh vào mặt hàng xa xỉ và hạn chế người dân tiêu dùng những mặt hàng không có lợi, điều tiết, phân phối lại thu nhập tầng lớp giàu có trong xã hội.

Tuy nhiên, đối với camera giám sát và điện thoại di động thì tất cả người dân đều có nhu cầu sử dụng, nên việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào những mặt hàng mà người dân ai cũng cần là không hợp lý.

Theo ông Nguyễn Thanh Hà, dù cơ quan quản lý mong muốn mở rộng nguồn thu để tăng thuế, nhưng thay vì mở rộng mặt hàng chịu thuế thu nhập đặc biệt, cơ quan quản lý nên kiểm soát nguồn thu, kiểm soát đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt hiệu quả hơn.

Vị luật sư này cho rằng, phần lớn mặt hàng xa xỉ như rượu, xì gà hoặc những hàng hóa thuộc đối tượng thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay nhà nước khó thu thuế, bởi vì những mặt hàng này là hàng xách tay rất nhiều nên không kiểm soát được.

Chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh thì gợi mở, thay vì đánh thuế các mặt hàng như Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất, nên tăng thuế thu nhập đặc biệt đối với mặt hàng rượu, bia, nước ngọt, thuốc lá, vì đây là những mặt hàng gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng, tác hại nhiều về mặt xã hội.

Hơn nữa, hiện nay thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia của Việt Nam vẫn thấp so với khu vực và thế giới. Trong khi đó, việc tiêu thụ rượu, bia ở Việt Nam rất lớn so với thế giới, nên cần phải có biện pháp hạn chế tiêu dùng những sản phẩm gây hại này./.

Sẽ xóa bỏ hơn 91% dòng thuế nhập khẩu từ Cuba

Sẽ xóa bỏ hơn 91% dòng thuế nhập khẩu từ Cuba

Theo dự thảo nghị định Bộ Tài chính vừa hoàn thiện để trình Chính phủ ban hành, 514 dòng thuế (91,3%) nhập khẩu (NK) ưu đãi đặc biệt của Việt Nam - Cuba sẽ xóa bỏ ngay khi hiệp định thương mại giữa 2 nước có hiệu lực.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY, Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế<<<

Ưu đãi này sẽ hứa hẹn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất NK giữa hai bên.

    Ban hành biểu thuế để tuân thủ các cam kết quốc tế

    Dự thảo nghị định ban hành Biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam được xây dựng để thực hiện theo các cam kết của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Cuba giai đoạn 2019 - 2022. Việc ban hành nghị định nhằm thực hiện đúng cam kết của Hiệp định thương mại; đảm bảo tính tương thích của nghị định với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Trong đó, bao gồm cả việc tuân thủ cam kết tại Hiệp định hải quan ASEAN về việc áp dụng Danh mục Biểu thuế hài hòa ASEAN phiên bản 2017 (AHTN 2017) của ASEAN và Danh mục HS phiên bản 2017 của Tổ chức Hải quan Thế giới khi xây dựng Biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện hiệp định.

    Về giai đoạn áp dụng của biểu thuế ban hành kèm theo nghị định, Bộ Tài chính đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2019 - 2022 để phù hợp với thời điểm hiệu lực của nghị định và đồng bộ hóa với lộ trình rà soát sửa đổi Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá của Tổ chức Hải quan Thế giới và Danh mục Biểu thuế hài hoà ASEAN (AHTN) định kỳ 5 năm. Việc áp dụng biểu thuế cho giai đoạn này cũng nhằm đảm bảo tính ổn định và dễ theo dõi cho doanh nghiệp. 

    Về thuế suất, nghị định này quy định về thuế suất thuế NK ưu đãi đặc biệt đối với các mặt hàng không thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan và các mặt hàng thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan. Đối với hàng hóa NK thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan, áp dụng mức thuế suất thuế NK ưu đãi đặc biệt quy định tại biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện hiệp định, ban hành kèm theo nghị định này đối với lượng hàng hóa NK trong hạn ngạch thuế quan theo quy định của Bộ Công thương. Bên cạnh đó, áp dụng mức thuế suất thuế NK ngoài hạn ngạch theo quy định của Chính phủ đối với lượng hàng hóa NK ngoài hạn ngạch thuế quan. Số lượng hạn ngạch thuế quan NK hàng năm theo quy định của Bộ Công thương.

    Mở cửa thị trường hàng hóa với Cuba

    Do thay đổi Danh mục từ AHTN 2012 sang AHTN 2017, biểu thuế có 34 dòng hàng AHTN 2017 ở cấp độ 8 số bị ảnh hưởng bởi việc thay đổi mã hàng, tách gộp dòng. Đây là những dòng hàng được gộp từ các dòng hàng theo AHTN 2012 có mức thuế suất cam kết với Cuba theo danh mục EIF (xóa bỏ thuế quan ngay khi hiệp định có hiệu lực) và các dòng hàng thuộc diện không có trong danh mục cam kết với Cuba. 

    Thuế suất được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ cam kết theo lộ trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam quy định tại hiệp định thương mại hàng hoá giữa 2 nước. Về tổng thể, Biểu thuế theo AHTN 2017 giai đoạn 2018 - 2022 gồm 563 dòng thuế AHTN 2017 theo cấp độ 8 số. Lộ trình cắt giảm thuế quan trong biểu thuế ban hành được áp dụng cho 4 giai đoạn: từ khi hiệp định có hiệu lực (trong năm 2019) đến 31/12/2019; từ 1/1/2020 đến 31/12/2020; từ 1/1/2021 đến 31/12/2021; từ 1/1/2022 đến 31/12/2022.

    Về danh mục cam kết, theo kết cấu mới của biểu thuế, số dòng thuế thuộc các danh mục cam kết theo AHTN 2017 là 563 dòng thuế. Theo đó, xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực 514 dòng thuế (91,3%); cắt giảm theo lộ trình 46 dòng thuế (chiếm 8,2%) và duy trì thuế suất cơ sở với 3 dòng thuế (0,5%).

    Sau khi thực hiện chuyển đổi từ Danh mục AHTN 2012 sang AHTN 2017, Việt Nam dành cho Cuba mức mở cửa thị trường hàng hóa chiếm 99,5% số dòng thuế, tương đương kim ngạch NK trị giá 5.662.155 USD. 

    Về kim ngạch NK từ thị trường Cuba, theo thống kê hải quan cho thấy, giá trị NK năm 2017 tăng khoảng 66% so với cùng kỳ năm 2016 (từ 4.998.145 USD lên 8.295.519 USD). Tuy nhiên, trong năm 2018, giá trị NK từ nước này lại giảm, đạt 5.966.113 USD, giảm khoảng 28% so với cùng kỳ năm 2017. 

    Trong cơ cấu NK năm 2018, NK từ thị trường Cuba tập trung vào nhóm hàng gồm dược phẩm; chế phẩm thực phẩm khác; nguyên phụ liệu thuốc lá và hàng hóa khác. Trong đó, nhóm hàng dược phẩm chiếm tỷ trọng đa số (98%). Theo ông Vũ Nhữ Thăng - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính, đây là những mặt hàng có lợi ích thương mại và kinh tế thực chất, nên trong biểu thuế dự kiến chưa xóa bỏ thuế quan vào thời điểm nghị định có hiệu lực mà sẽ giảm theo lộ trình. Về tác động tới thu ngân sách, trước mắt giảm thuế sẽ làm giảm thu, tuy nhiên dự kiến kim ngạch xuất nhập khẩu tăng sẽ góp phần tăng thu ngân sách.

Hàng hóa NK từ thị trường Cuba thời gian qua chịu thuế suất thuế MFN (thuế NK ưu đãi). Số thu của Việt Nam năm 2017 đạt khoảng 2,1 tỷ đồng, tăng 200% so với cùng kỳ năm 2016, tuy nhiên đã giảm xuống còn khoảng 1 tỷ đồng năm 2018 (giảm khoảng 50%).

Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế

Hóa đơn điện tử: Lợi ích toàn diện cho doanh nghiệp và cơ quan thuế

Sau thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng, Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã sẵn sàng ra mắt sản phẩm Chứng quyền có bảo đảm. Sản phẩm này hứa hẹn mang lại nhiều sự hấp dẫn cho nhà đầu tư như: tính đòn bẩy, chi phí đầu tư thấp, giao dịch và thanh toán dễ dàng, không phải ký quỹ trước khi giao dịch, cố định khoản lỗ tối đa và ngoài ra, đây còn là sản phẩm không bị giới hạn sở hữu nước ngoài, do đó cũng tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường góp phần nâng cao thanh khoản thị trường chứng khoán. Song, sản phẩm này cũng được đánh giá là sản phẩm đầu tư có tính rủi ro cao. Do vậy, nhà đầu tư cần phải am hiểu về sản phẩm trước khi giao dịch nhằm hạn chế những rủi ro không mong muốn.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TYQuản lý thuế thương mại điện tử cần chuyên gia công nghệ cao <<<

Hoá đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương tiện điện tử. Đặc biệt, hóa đơn điện tử phải được khởi tạo, lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức đã được cấp mã số thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Trên thực tế, không chỉ từ Nghị định 119, cơ quan quản lý nhà nước mới đề cập đến hoá đơn điện tử, mà ngay từ 2011, hóa đơn điện tử đã được đưa vào sử dụng theo Thông tư 32/2011/TT-BTC.

Sau hơn 7 năm được đưa vào sử dụng, loại hình hoá đơn này đã và đang khẳng định được sự vượt trội của mình so với hoá đơn giấy truyền thống. Vậy đâu là những lợi ích nổi bật của hoá đơn điện tử đối với doanh nghiệp và cơ quan thuế, các cơ quan khác của nhà nước và đối với xã hội.

Giải pháp “vàng” cho doanh nghiệp

Hóa đơn điện tử – giải pháp “vàng” cho các doanh nghiệp thời đại cách mạng công nghệ 4.0. Sử dụng hóa đơn điện tử giúp doanh nghiệp giảm chi phí hơn so với sử dụng hóa đơn giấy (giảm chi phí giấy in, mực in, vận chuyển, lưu trữ hóa đơn, không cần không gian lưu trữ hóa đơn..); giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính thuế; khắc phục rủi ro làm mất, hỏng, cháy khi sử dụng hóa đơn giấy do hệ thống lưu trữ hóa đơn điện tử được sao lưu và thường xuyên cập nhật nên khả năng mất hoàn toàn dữ liệu hóa đơn là khó xảy ra.

Bên cạnh đó, sử dụng hóa đơn điện tử tạo sự yên tâm cho người mua hàng hóa, dịch vụ: Sau khi nhận hóa đơn điện tử, người mua hàng hóa, dịch vụ có thể kiểm tra ngay trên hệ thống của cơ quan thuế để biết chính xác thông tin của hóa đơn người bán khai báo với cơ quan thuế và thông tin người bán cung cấp cho người mua. Bên cạnh đó, với việc hệ thống của cơ quan thuế ngừng không cho doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích được xuất hóa đơn sẽ hạn chế việc người mua sử dụng phải hóa đơn của các doanh nghiệp này.

Sử dụng hóa đơn điện tử góp phần khắc phục được tình trạng gian lận sử dụng bất hợp pháp hóa đơn (lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên), khắc phục tình trạng làm giả hóa đơn góp phần tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp, giúp việc triển khai thương mại điện tử được hoàn thiện hơn từ việc đặt hàng trên mạng, giao hóa đơn điện tử qua mạng, thanh toán qua mạng; góp phần làm giảm bớt việc sử dụng giấy nên sẽ góp phần bảo vệ môi trường.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn

Hoá đơn điện tử có nhiều lợi ích, trong số đó không thể không nhắc tới lợi ích của hóa đơn điện tử đối với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của cơ quan thuế và cơ quan khác của nhà nước.

Việc sử dụng hóa đơn điện tử giúp cơ quan thuế xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn, theo đó, cơ quan thuế và các cơ quan khác của nhà nước không tốn nhiều chi phí, thời gian đối chiếu hóa đơn như hiện nay. Với độ an toàn, chính xác cao của hóa đơn điện tử, tình trạng gian lận thuế, trốn thuế, hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích kịp thời được các cơ quan quản lý nhà nước ngăn chặn.

Như vậy, hoá đơn điện tử đã và đang tiếp tục khẳng định sức mạnh tuyệt đối của mình so với hoá đơn truyền thống, tạo bước đột phá mạnh mẽ trong thời đại công nghệ 4.0: Tinh gọn về thủ tục giấy tờ, giúp các doanh nghiệp, cơ quan thuế và khách hàng giảm thiểu tối đa những công đoạn rườm rà, tránh được mọi rủi ro, tiết kiệm thời gian và chi phí một cách tối ưu nhất.

Ngày 10/01/2019, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác thuế 2018, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ kết luận về nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác thuế năm 2019 yêu cầu triển khai tích cực Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018 của Chính phủ về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, bảo đảm hoàn thành áp dụng hóa đơn điện tử trong năm 2019 ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn.

Với những lợi ích và thế mạnh mà hóa đơn điện tử đem lại, Dự kiến, trong thời gian tới Cục Thuế TP Hà Nội sẽ sớm triển khai các hoạt động nhằm đẩy mạnh việc sử dụng hóa đơn điện tử trong cộng đồng doanh nghiệp, người nộp thuế trên địa bàn Thủ đô.


NA

TP. Hồ Chí Minh: Giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng 1970 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh: Giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng 1970 tỷ đồng

Theo Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh, 3 tháng đầu năm, đơn vị đã xem xét giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) 391 hồ sơ, với tổng số tiền hoàn cho người nộp thuế là 1.970 tỷ đồng.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Đà Nẵng , Giảm thuế ngay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa<<<
 

Trong đó, số thuế hoàn đối với trường hợp xuất khẩu chiếm 92,28% trên tổng số thuế đã hoàn; số thuế hoàn từ trường hợp đầu tư và mua sắm tài sản cố định chiếm 7,43% và các trường hợp khác chiếm 0,29% so với tổng số thuế hoàn.

Báo cáo đánh giá công tác thu thuế quý I/2019 của Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh cho biết, nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ thuế GTGT trong kỳ chỉ tăng 7,29% so với quý I/2018 và đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 3 năm trở lại đây (quý I/2018 tăng 13,63%; quý I/2017 tăng 8,65%).

Được biết, toàn địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện có 241.505 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó, số lượng doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế qua mạng internet chiếm 99,99%; số lượng doanh nghiệp đăng ký tài khoản nộp thuế điện tử đạt 94,85%; số tài khoản doanh nghiệp đăng ký thành công tại ngân hàng thương mại 91,32%; số chứng từ thực hiện nộp thuế điện tử đạt 85,63% trên tổng số chứng từ truyền về Kho bạc Nhà nước; số tiền thuế nộp bằng phương thức điện tử chiếm 56,22% số nộp vào NSNN./.

Có cần thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế ?

Có cần thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế ?

Trong quá trình hoạt động của một doanh nghiệp thì việc phát sinh các thông tin thay đổi vẫn có thể thường xuyên xảy ra, trong đó cũng có thể  thay đổi thông tin về giám đốc công ty. Như vậy khi doanh nghiệp thay đổi giám đốc thì có cần thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế hay không ? Nếu có thì hồ sơ, thủ tục thực hiện như thế nào ?

>>>Xem thêm  CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<<

 

Khi nào thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế ?

Khi mà giám đốc là đại diện pháp luật của công ty và có thể hiện thông tin trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Như vậy nếu giám đốc cần thay đổi không phải là đại diện pháp luật thì doanh nghiệp chỉ cần giải quyết trong nội bộ mà không cần thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế.

Thực hiện thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế

Trước đây khi thay đổi giám đốc là đại diện pháp luật thì trước tiên doanh nghiệp phải thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh.

>>> Xem thêm Đổi địa chỉ văn phòng công ty trên giấy phép đăng ký kinh doanh<<<<

Sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới thì mới thông báo thay đổi giám đốc với cơ quan thuế bằng văn bản theo mẫu 08-MST ban hành kèm theo Thông tư 95/2016/TT-BTC Hướng dẫn về đăng ký thuế ngày 28/06/2016.

Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay do giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ quan thuế có hệ thống điện tử liên kết với nhau cho nên khi chúng ta thực hiện thay đổi giám đốc trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoàn tất thì thông tin mới sẽ được tự động cập nhật cho bên cơ quan thuế. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại nhiều lần.

Hồ sơ, trình tự thủ tục thực hiện thay đổi giám đốc bên Cơ quan đăng ký kinh doanh

Hồ sơ gồm các thành phần sau:

+ Thông báo thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh.

+ Quyết định thay đổi giám đốc.

+ Biên bản họp ( đối với công ty TNHH 2 thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh).

+ Bản sao hợp lệ giấy tờ chứng thực cá nhân của giám đốc mới.

Trình tự thực hiện thủ tục :

  1. Chuẩn bị hồ sơ theo hướng dẫn như trên.

  2. Nộp hồ sơ. Cơ quan đăng ký kinh doanh tiếp nhận và xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, sau đó trả biên nhận có ngày hẹn trả kết quả cho doanh nghiệp.

  3. Doanh nghiệp đến lấy kết quả như trng biên nhận.

  4. Đăng bố cáo thay đổi thông tin doanh nghiệp trong thời gian 30 ngày.

Không bổ sung thủ tục về thuế nếu pháp luật không quy định

Không bổ sung thủ tục về thuế nếu pháp luật không quy định

Tổng cục Thuế vừa ban hành Quyết định số 91/QĐ-TCT về việc triển khai nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) liên quan đến lĩnh vực thuế. Văn bản nêu rõ, các đơn vị phải kiểm soát chặt chẽ TTHC, đảm bảo không bổ sung thêm TTHC nếu không có quy định trong luật.

 
Mỹ tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với tháp gió của Việt Nam thêm 5 năm

Mỹ tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với tháp gió của Việt Nam thêm 5 năm

Bộ Thương mại Mỹ (DOC) sẽ tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với sản phẩm tháp gió Việt Nam thêm 5 năm nữa và hàng năm có thể sẽ tiến hành rà soát hành chính để điều chỉnh mức thuế áp dụng.
 
Dừng gia hạn nộp thuế và hoàn thuế đối với thiết bị tạo tài sản cố định

Dừng gia hạn nộp thuế và hoàn thuế đối với thiết bị tạo tài sản cố định

Sau ngày 20/5/2019, máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư sẽ không được gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT).

>>>Xem thêm Mở rộng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) cho 15 Tỉnh/Thành phố<<<

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 18/2019/TT-BTC bãi bỏ hoàn toàn Thông tư 134/2014/TT-BTC hướng dẫn thủ tục gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư tại Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 25/8/2014.

    Trước đó, ngày 13/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 150/NQ-CP để thống nhất dừng việc thực hiện giải pháp gia hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT tại Nghị quyết 63.

    Theo đó, để hướng dẫn thực hiện nội dung này, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 18/2019/TT-BTC bãi bỏ Thông tư 134 kể từ ngày 20/5/2019.

    Thông tư 18 quy định, đối với hồ sơ xin gia hạn nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo quy định tại Thông tư số 134 của Bộ Tài chính mà doanh nghiệp đã nộp cho cơ quan hải quan trước ngày 20/5/2019 thì cơ quan hải quan tiếp tục giải quyết gia hạn nộp thuế theo quy định tại Thông tư số 134.

    Đối với hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT theo quy định tại Thông tư số 134 mà doanh nghiệp đã nộp cho cơ quan thuế trước ngày 20/5/2019 thì cơ quan thuế tiếp tục giải quyết hoàn thuế theo quy định tại Thông tư số 134./.

Giảm thuế ngay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Giảm thuế ngay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong khi hầu hết các nước đều ưu đãi thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), thì từ ngày 1/1/2016, DNNVV Việt Nam phải nộp thuế như doanh nghiệp quy mô lớn với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20%. Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) cho biết, kể từ năm 2020, DNNVV sẽ được hưởng thuế suất thấp hơn mức 20%.

 >>>Xem thêm Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp về 15-17%<<<
 

Một trong những chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV được hầu hết các nước trên thế giới thực hiện là ưu đãi thuế. Thưa bà, vì sao Việt Nam không thực hiện chính sách này?

    Trong nhiều năm qua, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích khu vực DNNVV phát triển, nhất là mỗi khi hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn.

    Riêng lĩnh vực thuế, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã áp mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20% cho DNNVV (doanh thu không quá 20 tỷ đồng/năm) từ ngày 1/7/2013, trong khi doanh nghiệp quy mô lớn áp mức thuế suất 22%, phải đến ngày 1/1/2016, doanh nghiệp quy mô lớn mới được áp mức thuế  20%.

    Như vậy là kể từ ngày 1/1/2016, DNNVV không còn được hưởng ưu đãi về thuế, trong khi Đảng có Nghị quyết 10-NQ/TW, Quốc hội ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV, Chính phủ có Nghị quyết 35/NQ-CP (ngày 16/5/2016) về hỗ trợ và phát triển DNNVV?

    Riêng về chính sách thuế, đúng là kể từ ngày 1/1/2016, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ phải đóng thuế bình đẳng như doanh nghiệp lớn. Nhằm tiếp tục chính sách ưu đãi thuế cho DNNVV, năm 2016, Bộ Tài chính đã kiến nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp. Trong các chính sách hỗ trợ, Bộ Tài chính đề xuất áp mức thuế suất 17% (áp dụng từ ngày 1/1/2017 đến hết năm 2020) cho doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 20 tỷ đồng/năm.

    Tuy nhiên, đề xuất này đã không được nhiều đại biểu Quốc hội đồng ý vì cho rằng, chính sách thuế cần bảo đảm ổn định lâu dài, nên phải sửa luật thay vì ban hành nghị quyết chỉ áp dụng đến hết năm 2020. Do vậy, Bộ Tài chính đã xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung 6 luật liên quan đến thuế, với đề xuất áp dụng thuế suất 17% đối với doanh nghiệp nhỏ và 15% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ.

    Nhưng đề xuất đã không được chấp thuận, DNNVV vẫn phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 20% như doanh nghiệp lớn, thưa bà?

    Phần sửa về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp trong Luật sửa đổi, bổ sung 6 luật liên quan đến thuế có nhiều nội dung như bù trừ thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản với lỗ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; miễn thuế đối với phần lợi nhuận không chia của cơ sở thực hiện xã hội hoá; khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; ưu đãi thuế cho một số lĩnh vực…, chứ không phải chỉ có nội dung giảm thuế cho khu vực DNNVV.

    Do sửa nhiều nội dung nên cần phải có thời gian tổng kết, nghiên cứu, đánh giá tác động, vì vậy, Quốc hội yêu cầu Bộ Tài chính tổng kết, đánh giá, nghiên cứu để sửa đổi đồng bộ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp vào thời gian tới.

    Tuy nhiên, theo chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội thì năm 2019 (và cả năm 2020) chưa đưa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp vào thảo luận, thông qua. Vì vậy, Bộ Tài chính đang hoàn thiện Dự thảo Nghị quyết về một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ, phát triển DNNVV. Nếu được Quốc hội thông qua thì kể từ năm 2020, doanh nghiệp nhỏ chỉ phải nộp thuế 17%, doanh nghiệp siêu nhỏ nộp thuế 15%, thay vì 20% như hiện nay.

    Dự kiến, Bộ Tài chính sẽ trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua Nghị quyết về một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ, phát triển DNNVV tại Kỳ họp Quốc hội thứ 8 vào cuối năm nay để có thể triển khai ngay vào năm 2020, nếu không sẽ quá muộn.

 >>>Xem thêm Mở rộng hệ thống Dịch vụ thuế điện tử (eTax) cho 15 Tỉnh/Thành phố<<<

    Tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP, ngoài căn cứ vào số lượng lao động, còn căn cứ vào doanh thu hoặc tổng nguồn vốn. Doanh nghiệp cũng được phân loại theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động. Thưa bà, vì sao Dự thảo Nghị quyết lại không căn cứ vào nguồn vốn, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động để phân loại doanh nghiệp?

    Như tôi đã nói, hầu hết các nước trên thế giới đều có chính sách hỗ trợ DNNVV, nhưng tiêu chí phân loại doanh nghiệp mỗi nước một khác. Có nước phân loại dựa vào vốn, có nước dựa vào số lao động, có nước lại dựa vào doanh thu, có nước sử dụng 2 tiêu chí, có nước lại kết hợp cả 3 tiêu chí. Nói chung, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, trình độ quản lý của mỗi nước mà áp dụng tiêu chí phân loại phù hợp nhất.

    Với Việt Nam, phân loại doanh nghiệp nếu dựa vào ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sẽ rất phức tạp, gây khó khăn cho cả cơ quan thuế lẫn doanh nghiệp, thậm chí có thể xảy ra tiêu cực trong việc xác định mức suất 15% hay 17% vì doanh nghiệp hoạt đa ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau, cả công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.

    Nếu phân loại doanh nghiệp căn cứ vào tiêu chí số lượng lao động và nguồn vốn cũng vô cùng phức tạp vì vốn hoạt động của doanh nghiệp có rất nhiều nguồn ngoài vốn chủ sở hữu, vốn đăng ký, còn có vốn vay ngân hàng, vốn huy động. Vì vậy, Dự thảo Nghị quyết chỉ phân loại doanh nghiệp để ưu đãi thuế căn cứ vào tiêu chí sử dụng lao động và doanh thu.

    Cụ thể, áp dụng thuế suất 15% đối với doanh nghiệp có doanh thu dưới 3 tỷ đồng/năm và sử dụng không quá 10 lao động; áp dụng thuế suất 17% đối với doanh nghiệp có doanh thu từ 3 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng/năm và sử dụng không quá 100 lao động.

Thêm 173 thủ tục hành chính được đưa lên một cửa quốc gia

Thêm 173 thủ tục hành chính được đưa lên một cửa quốc gia

 Tính đến ngày 15/3, đã có 13 bộ, ngành tham gia kết nối; thêm 173 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia là trên 1,97 triệu bộ hồ sơ và trên 28 nghìn doanh nghiệp tham gia.

Trong báo cáo công tác, Tổng cục Hải quan cập nhật tình hình triển khai thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia, Tổng cục Hải quan tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, trong đó có Bộ Y tế và Bộ Công an triển khai thêm 20 thủ tục hành chính mới thông qua Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay, đã có 13 Bộ, ngành tham gia kết nối; 173 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia. Dự kiến đến hết quý I/2019 hoàn thành thêm ít nhất 9 thủ tục hành chính (6 thủ tục của Bộ Y tế và 3 thủ tục của Bộ NN&PTNT).

Về triển khai Cơ chế một cửa ASEAN, ngành Hải quan tiếp tục triển khai trao đổi chính thức Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D (C/O form D) với 4 nước: Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan.

Đồng thời, tham gia trao đổi thử nghiệm C/O form D với 3 nước: Brunei, Campuchia, Phillipines. Trong thời gian tới, theo kế hoạch sẽ triển khai kết nối kỹ thuật thử nghiệm trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN, chứng nhận kiểm dịch thực vật (ePhyto), chứng nhận kiểm dịch động vật (e-AH).

Chuẩn bị triển khai kết nối Cơ chế một cửa quốc gia để trao đổi thông tin với liên minh kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc, trước mắt, test trao đổi thử nghiệm Gateway của Việt Nam với Gateway của liên minh kinh tế Á-Âu.

Tổng cục Hải quan đang triển khai mở rộng Hệ thống quản lý hải quan tự  động tại cảng, kho, bãi (VASSCM) trên phạm vi toàn quốc. Tính đến ngày 14/3, hệ thống VASSCM đã được triển khai tại 29/35 Cục Hải quan tỉnh, thành phố, 359 doanh nghiệp kinh doanh kho/bãi/cảng và kho ngoại quan.

Ngành đã tiến hành rà soát hiện trạng CNTT, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp yêu cầu nghiệp vụ xây dựng. Trên cơ sở đó nghiên cứu, phân tích để xây dựng kế hoạch mở rộng, nâng cấp, hoàn thiện Hệ thống CNTT Hải quan thông minh, tích hợp; đã hoàn thành dự thảo mô hình kiến trúc Chính phủ điện tử trong ngành Hải quan tuân thủ và phù hợp với Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành Tài chính (dự kiến tháng 4/2019 sẽ ban hành).

Ngoài ra, ngành Hải quan tiếp tục triển khai Đề án đầu tư hệ thống seal định vị điện tử phục vụ công tác giám sát đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan vận chuyển bằng container của Tổng cục Hải quan (đã hoàn thành mua sắm và lắp đặt máy chủ). Ngoài ra, Hải quan còn nâng cấp phần mềm hỗ trợ hoạt động đổi mới quản lý nguồn nhân lực; hệ thống kế toán thuế xuất nhập khẩu; hệ thống miễn giảm hoàn thuế; cung cấp thông tin tờ khai cho các đơn vị (các Bộ, ngành, ngân hàng và doanh nghiệp) và tiếp nhận xử lý thông tin nhận được từ Tổng cục Thuế; hệ thống thông tin tình báo, hệ thống kiểm tra sau thông quan để kết nối, xử lý thông tin với hệ thống VNACCS/VCIS và các hệ thống xử lý tập trung ngành Hải quan.

Ngành Hải quan đang duy trì, vận hành ổn định Hệ thống Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của ngành Hải quan. Tính đến nay, tổng số DVCTT đạt tối thiểu mức độ 3 trong lĩnh vực hải quan là 171/181 TTHC (chiếm trên 94,4% số lượng TTHC). Số hồ sơ trên hệ thống dịch vụ công từ ngày 1/3/2017 đến hết ngày 10/3/2019 đạt 212.648 bộ với 23159 doanh nghiệp và 389 cá nhân tham gia.

Trong quý I/2019, Tổng cục Hải quan hoàn thành việc rà soát các quy định liên quan và quy trình thực hiện thủ tục hành chính bằng phương thức điện tử để chuẩn bị cho việc nâng cấp 02 thủ tục hành chính đang cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 thành dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 theo kế hoạch đã đăng ký với Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính kiến nghị thu hồi 15 tỷ từ Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị

Bộ Tài chính kiến nghị thu hồi 15 tỷ từ Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị

Bộ Tài chính cũng kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện thủ tục gia hạn rút vốn cho Hiệp định vay và hoàn thiện hồ sơ rút vốn năm 2019 đối với các dự án ODA hết hạn giải ngân.Bộ Tài chính vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về tình hình thanh toán vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ 3 tháng năm 2019.Theo đó, ước tính trong 3 tháng đầu năm 2019, các bộ, ngành, địa phương đã giải ngân số vốn 46.721,07 tỷ đồng, đạt 11,21% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 12,97% so kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.Nếu so sánh với cùng kỳ năm 2018 là 8,83% thì số vốn giải ngân trong quý 1 năm nay đã cao hơn 2,38% so với năm ngoái. Tuy nhiên tỷ lệ của các bộ, ngành địa phương không đồng đều, có bộ ngành và địa phương giải ngân đạt trên 21%, song vẫn còn có Bộ, ngành và địa phương gần như chưa giải ngân kế hoạch vốn (tỷ lệ giải ngân đạt dưới 1%).Theo Bộ Tài chính, nguyên nhân chủ yếu là do đây là những tháng đầu năm, kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách mới được Thủ tướng và Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao nên các địa phương mới cơ bản hoàn thành việc phân bổ chi tiết kế hoạch vốn cho các dự án.Riêng các chủ đầu tư đang hoàn thiện các các thủ tục chuẩn bị đầu tư hoặc lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện các thủ tục đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, hoàn thiện hồ sơ tạm ứng, thanh toán theo quy định, cũng khiến cho việc giải ngân bị chậm.Đối với nguồn vốn nước ngoài, kế hoạch 2019 mới được giao, sau đó các Bộ ngành, địa phương mới triển khai phân bổ chi tiết cho từng dự án nên kế hoạch vốn 2019 chỉ thực sự được giải ngân từ tháng 3/2019.Đa số các dự án vẫn tiếp tục giải ngân theo kế hoạch vốn 2018, đang hoàn thiện hồ sơ để được kiểm soát chi, rút vốn theo kế hoạch 2019. Một số dự án kế hoạch 2019 giao không đủ so với nhu cầu của Dự án nên Dự án không thực hiện giải ngân nhiều ngay. Một số dự án đã hết hạn giải ngân theo Hiệp định vay, đang làm thủ tục gia hạn rút vốn cho Hiệp định vay và hoàn thiện hồ sơ rút vốn năm 2019, vì vậy cũng ảnh hưởng tới tiến độ giải ngân vốn ngoài nước.Để đảm bảo tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ một số các giải pháp. Cụ thể, giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ để hoàn thành việc giao kế hoạch vốn trong tháng 3/2019 đối với số vốn còn lại chưa đủ điều kiện giao kế hoạch vốn năm 2019 là hơn 52 nghìn tỷ đồng. Đối với số vốn còn lại, đề nghị thu hồi về ngân sách.Đối với nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện việc phân bổ hết kế hoạch vốn năm 2019 đã được giao. Trong đó việc phân bổ vốn đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia đảm bảo thanh toán tối thiểu 50% tổng số nợ xây dựng cơ bản còn lại giai đoạn 2016-2020, thu hồi vốn ứng trước và bố trí kế hoạch vốn để thực hiện Đề án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đúng quy định.Đối với phần kế hoạch vốn năm 2019 đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho các địa phương (Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nam,Thanh Hóa) nhưng đến nay các địa phương vẫn chưa phân bổ chi tiết hoặc chưa phân bổ hết cho các dự án, Bộ Tài chính đề nghị giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tổ chức kiểm tra để xác định nguyên nhân không phân bổ chi tiết kế hoạch vốn đã được giao cho các dự án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ thu hồi số vốn này về ngân sách trung ương. Bộ Tài chính cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ thu hồi về ngân sách số vốn 15,23 tỷ đồng thuộc kế hoạch năm 2019 của Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị do bố trí thừa, không có nhu cầu sử dụng.Ngoài ra, Bộ Tài chính còn đề xuất với Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện thủ tục gia hạn rút vốn cho Hiệp định vay và hoàn thiện hồ sơ rút vốn năm 2019 đối với các dự án ODA hết hạn giải ngân theo Hiệp định vay.Đối với các dự án chưa giải ngân hết kế hoạch vốn năm 2018, có nhu cầu kéo dài sang năm 2019 để tiếp tục thanh toán, đề nghị các Bộ, ngành chỉ đạo các chủ đầu tư ra làm việc với Kho bạc nhà nước làm thủ tục kéo dài kế hoạch vốn sang năm 2019 để thanh toán vốn ngay cho các dự án theo đúng quy định.

Sau ngày 31/3/2019, đối với các dự án không ra Kho bạc Nhà nước làm thủ tục kéo dài kế hoạch vốn năm 2018 sang năm 2019 đề nghị thu hồi về ngân sách số vốn chưa giải ngân hết.
TP HCM mở rộng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân

TP HCM mở rộng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân

 

(TCT online) - Số thu thuế TNCN trên địa bàn TP HCM năm 2018 đạt 34.573 tỷ đồng, chiếm trên 13% trong cơ cấu thu NSNN của Cục thuế TP HCM (269.078 tỷ đồng), chiếm 37% so với tổng số thu thuế TNCN cả nước. Năm 2019, xác định đây là nguồn thu quan trọng, Phòng Quản lý thuế TNCN (Cục Thuế TP HCM) đã phân tích và đưa ra các biện pháp nhằm quản lý, kiểm tra và khai thác hiệu quả hơn nữa nguồn thu này.

Trong chương trình hỗ trợ người nộp thuế (NNT) quyết toán thuế TNCN năm 2018 vừa diễn ra từ ngày 18/3 đến 1/4/2019, Cục Thuế TP HCM đã tiếp nhận tổng số 13.273 hồ sơ. Trong đó, có 5.817 hồ sơ NNT phải nộp thêm vào NSNN số tiền thuế gần 280 tỷ đồng; 6.892 hồ sơ đề nghị hoàn số tiền hơn 46 tỷ đồng; hơn 564 hồ sơ bù trừ chuyển kỳ sau, với số tiền trên 9,1 tỷ đồng.

Theo phân tích của Phòng Quản lý thuế TNCN, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, số lượng người có thu nhập cao ngày càng tăng, đối tượng nộp thuế, hình thức thu nhập của người lao động cũng ngày càng đa dạng. Bên cạnh đó, tình trạng các cá nhân lợi dụng kẽ hở trong công tác quản lý thuế để thực hiện các hành vi gian lận, trốn lậu thuế gây thất thu cho NSNN ngày càng nhiều. Để hạn chế tình trạng này, từ thực tế công tác quản lý, Phòng Quản lý thuế TNCN đã đúc kết cách phát hiện, nhận diện rủi ro thành những lưu ý trong thanh kiểm tra thuế TNCN. Cụ thể, qua phân tích cơ cấu số thu từ 10 loại thu nhập của thuế TNCN tại TP HCM thì thu nhập từ tiền lương, tiền công chiếm 74% tổng số thu thuế TNCN năm 2018. Do đó, cơ quan thuế cần tập trung khai thác ở lĩnh vực tiền lương, tiền công để tăng nguồn thu cho NSNN. Bên cạnh đó, trong quá trình xử lý hồ sơ, cán bộ thuế cần lưu ý những sai sót thường gặp trong kê khai, chỉ kê khai tổng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công mà không kê khai các khoản thu nhập khác, nhất là các khoản nhận ở nước ngoài. Riêng các DN liên doanh, DN đầu tư nước ngoài, nhà thầu nước ngoài thường cố tình lập lờ khi cung cấp, khai báo lương của người nước ngoài trong hợp đồng lao động. Vì thế, cơ quan thuế cần thu thập đầy đủ thông tin của NNT để xây dựng cơ sở dữ liệu, sau đó phân tích, đánh giá và phân loại theo mức độ rủi ro để lựa chọn đối tượng cần kiểm tra, thanh tra.

Với những hồ sơ thuộc diện nghi vấn, cán bộ thuế cần tập trung kiểm tra các dấu hiệu liên quan đến giao dịch lớn, bất thường vào cuối năm tài chính; các giao dịch  có mâu thuẫn, không giải thích được sự khác biệt trên số dư tài khoản kế toán hoặc báo cáo hoạt động của DN với sổ phụ của ngân hàng; các giao dịch với nhà cung cấp và các giao dịch nợ phải trả khác không được kế toán ghi chép trong sổ sách. Về dấu hiệu gian lận tiền lương, thường phát sinh trong khoản chi lớn cho các đối tượng là thành viên HĐQT, ban giám đốc, ban kiểm soát; các khoản thu nhập liên quan đến tiền lương, thưởng chi trả cho cá nhân cao hơn mức TNCN trung bình cùng ngành nghề, lĩnh vực; gia tăng chi phí hoa hồng…

Liên quan đến quy trình kiểm tra thuế TNCN theo Quyết định 746/QĐ-TCT, Tổng cục Thuế quy định: “Riêng đối với thuế TNCN thì áp dụng phần mềm quản lý thuế TNCN để phát hiện rủi ro trong hồ sơ khai thuế, cá nhân có thu nhập từ 2 nơi trở lên chưa được khấu trừ thuế, không tự quyết toán thuế theo quy định”. Trên thực tế, phần mềm quản lý thuế cũng không đủ dữ liệu để kiểm tra giám sát. Mặt khác, Quyết định 746 áp dụng chủ yếu cho DN, còn đối với cá nhân thường gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, Phòng Quản lý thuế TNCN kiến nghị Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế sớm hoàn thiện quy trình áp dụng riêng cho kiểm tra thuế thu nhập của cá nhân. Đồng thời, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về thu nhập chịu thuế của người nước ngoài làm cơ sở để triển khai hiệu quả công tác thanh kiểm tra. Kết quả thanh kiểm tra, truy thu thuế TNCN cũng cần cập nhật kịp thời vào hệ thống dữ liệu, để phân tích NNT theo mức độ rủi ro. Ngoài ra, cơ quan thuế cần tập trung thanh kiểm tra thuế TNCN liên quan đến lao động người nước ngoài như: khai thác thu nhập phát sinh ở nước ngoài chưa kê khai tại Việt Nam; khai thác hồ sơ liên quan đến hiệp định tránh đánh thuế 2 lần để xác định quyền thu thuế tại Việt Nam.

Image

ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: 41 Phan Triêm, Phường Hòa Xuân, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0236.3.707404
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@dng.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: Tầng 7, Tòa nhà HP, 60 Nguyễn Văn Thủ, Đakao, Quận 1, Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 02822446739
Mobile: 0915.888.404
Email: info@hcm.com.vn
Website: thanhlapcongtydanang.com

HÀ NỘI

Địa chỉ: Tòa nhà Anh Minh, 36 Hoàng Cầu, p. Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 02422612929
HOTLINE: 0915.888.404
Email: info@hno.vn 
Website: thanhlapcongtydanang.com

 

GỌI NGAY

0915.888.404